Showing posts with label Đôn Hoàng. Show all posts
Showing posts with label Đôn Hoàng. Show all posts

11.11.13

Hang Mạc Cao


1

Đối diện hang Mạc Cao là núi Tam Nguy. “Sơn Hải Kinh” chép: “Vua Thuấn đuổi Tam Miêu ở Tam Nguy.” Có thể thấy nó là lá chắn thời kỳ đầu của văn minh Hoa Hạ, sớm đến nỗi không phân rõ ranh giới với thần thoại. Trận chiến ấy đánh thế nào, giờ đây đã rất khó tưởng tượng, nhưng đại quân Trung Nguyên rầm rầm rộ rộ chắc là đã từng đến đây. Lúc đó cả địa cầu còn thưa thớt dấu chân người, tiếng vó ngựa lóc cóc hiển nhiên trống trải mà vang dội. Để một ngọn núi Tam Nguy như vậy làm vách soi của hang Mạc Cao, khí khái hùng vĩ, sức người chẳng tới, chỉ có thể là an bài của tạo hóa.

Năm 366 Công nguyên, một hòa thượng đến nơi này. Ông tên là Lạc Tôn, giới hạnh thanh tịnh, tâm tư điềm tĩnh, tay cầm một cây gậy thiếc, vân du bốn phương. Đến đây đã là lúc chạng vạng tối, ông muốn tìm một nơi nghỉ đêm. Đang nhìn bốn bề trên núi, đột nhiên trông thấy cảnh tượng kỳ lạ: Núi Tam Nguy ánh vàng xán lạn, bừng bừng dào dạt, giống như có ngàn Phật đang chuyển động. Là ráng chiều chăng? Không phải, ráng chiều ở phía Tây, đối ứng xa xa với ánh vàng của núi Tam Nguy.

Câu đố về ánh vàng Tam Nguy, người đời sau giải thích rất nhiều, ở đây tôi không muốn nghị luận. Dù sao thì hòa thượng Lạc Tôn lúc đó, trong khoảnh khắc cũng kích động vạn phần. Ông đứng sững sờ, trước mắt là ánh vàng rực cháy, sau lưng là ráng chiều năm màu, cả người ông bị chiếu rọi đỏ rực, gậy thiếc trên tay cũng biến thành trong suốt như thủy tinh. Ông sững sờ đứng mãi, giữa trời đất không có một tiếng động, chỉ có ánh sáng tràn trề, màu sắc bao phủ. Ông tỉnh ngộ, cắm gậy thiếc trên mặt đất, trang trọng quỳ xuống, lớn tiếng phát nguyện, từ nay sẽ hóa duyên rộng rãi, đục hang tạc tượng ở đây, để nó thật sự trở thành thánh địa. Hòa thượng phát nguyện xong, hào quang hai bên tối dần, sắc chiều xám nhạt áp xuống đồng cát mênh mang.

Chẳng bao lâu sau, hang đá đầu tiên của hòa thượng Lạc Tôn đã khởi công. Khi ông hóa duyên đã truyền bá rộng rãi kỳ ngộ của mình, tín đồ xa gần cũng tấp nập đến viếng thắng cảnh. Năm rộng tháng dài, hang động mới cũng lần lượt đục nên. Trên đến vương công, dưới đến dân thường, hoặc xây riêng, hoặc góp vốn, đem tín ngưỡng và cầu chúc của mình, toàn bộ tạc vào dốc núi. Từ đó, lịch sử của ngọn núi này không tách rời tiếng leng keng búa đục của thợ xây.

Trong số thợ xây tiềm ẩn nhiều nhà nghệ thuật chân chính. Những gì còn để lại của nhà nghệ thuật đời trước, lại âm thầm bồi dưỡng cho nhà nghệ thuật đời sau. Thế là, dốc núi chốn sâu sa mạc này đã đậm đặc hấp thu vô số tinh hoa, trống rỗng mà lại căng phồng đứng đó, biến thành thần bí mà lại an lành.


2

Từ một thành phố dân cư đông đúc nào đến đây cũng đều vô cùng xa xôi. Trong tương lai tưởng tượng được, vẫn chỉ có thể là như vậy. Nó vì hoa mỹ mà nghiêm túc, nó vì giàu có mà ẩn xa. Nó cố chấp buộc mỗi người viếng thăm dùng gian khổ đường dài để đổi lấy đền đáp.

Khi tôi đến đây vừa qua Trung thu, nhưng gió bấc đã rợp trời kín đất. Dọc đường đều thấy du khách nước ngoài, mũi lạnh cóng đến đỏ rực, đang hỏi đường, họ không biết tiếng Trung, chỉ hô nhiều lần không ngớt: “Mạc Cao! Mạc Cao!” Thanh điệu mượt mà như gọi người thân. Du khách trong nước càng đông đúc, lúc chạng vạng đóng cửa, còn có một tốp du khách vừa chạy đến, kiên trì năn nỉ bảo vệ mở cửa.

Tôi lưu lại ở hang Mạc Cao liên tục mấy ngày. Ngày đầu tiên xế chiều, du khách đều đã về hết, tôi men theo chân núi hang Mạc Cao đi lại quanh quẩn. Thử ngẫm nghĩ sắp xếp lại trong lòng những cảm nhận quan sát ban ngày, rất khó; chỉ đành nhiều lần hướng về dốc núi này ngây ngô nghĩ, nó rốt cuộc là dạng tồn tại nào?

So với Kim tự tháp Ai Cập, Đại bảo tháp Sanchi Ấn Độ, Đấu trường La Mã cổ đại, nhiều di tích văn hóa ở Trung Quốc thường mang tính tích lũy của lịch sử. Di tích của các nước khác thông thường xây dựng vào một thời đại, hưng thịnh vào một thời đại, sau đó bảo tồn bằng phương thức di tích thuần túy để mọi người chiêm ngưỡng. Trường thành của Trung Quốc không phải như thế, luôn là đời đời xây sửa, đời đời nối dài. Trường thành, là một kiểu uốn lượn của không gian, lại đối ứng chặt chẽ với uốn lượn của thời gian. Lịch sử Trung Quốc quá dài, chiến loạn quá nhiều, khổ nạn quá sâu, không một di tích thuần túy nào có thể bảo tồn lâu dài, trừ phi trốn ở dưới đất, nấp ở trong mộ, ẩn náu ở nơi bí mật không bị người thường chú ý. Cung A Phòng đã cháy, Gác Đằng Vương đã sụp, Lầu Hoàng Hạc thì là gần đây xây lại. Đô Giang Yểm ở Thành Đô sở dĩ có thể bảo lưu lâu dài, là vì nó trước sau vẫn phát huy công năng thủy lợi. Do đó, nói chung thắng tích lịch sử lưu truyền đến nay, luôn là không ngừng sinh sôi, kết nạp tố chất độc đáo trăm đời.

Hang Mạc Cao có thể ngạo nghễ trước di tích các nước khác, mấu chốt ở chỗ nó là tầng tầng tích tụ của hơn một ngàn năm. Ngắm Hang Mạc Cao, không phải là ngắm tiêu bản đã chết một ngàn năm, mà là ngắm sinh mệnh đã sống một ngàn năm. Một ngàn năm trước sau vẫn sống, huyết mạch thông suốt, hô hấp điều độ, đây là một sinh mệnh hoành tráng dường nào! Các nhà nghệ thuật hết đời này sang đời khác tiền hô hậu ủng đi về phía chúng ta, mỗi nhà nghệ thuật lại kéo theo bối cảnh huyên náo, làm lễ diễu hành xuyên qua ngàn năm ở đây. Quần áo trang sức phức tạp khiến chúng ta rối ren hoa mắt, cờ quạt phần phật khiến chúng ta ong ong ù tai. Ở nơi khác, bạn có thể ngồi xổm xuống tỉ mỉ ngắm nghía một hòn đá vụn, một dải bờ đất, ở nơi này hoàn toàn không được, bạn cũng bị bó buộc, không làm chủ được bản thân, lảo đà lảo đảo, mãi đến khi bị dòng lũ lịch sử hòa tan. Ở đây, cảm quan của một người thật không đủ dùng, thế thì dứt khoát vứt bỏ bản thân, để vô số đôi tay nghệ thuật nghiền bạn thành bụi nhẹ.

Do đó, tôi không thể không đi lại quanh quẩn trước chân núi vào lúc màn đêm buông xuống. Từng chút một tìm lại bản thân, ổn định lại tinh thần bị chấn động. Gió đêm nổi lên, cuốn theo cát mịn, thổi đến nỗi hai má đau rát. Mặt trăng chốn sa mạc cũng đặc biệt lạnh lùng. Trước chân núi có một con suối, có tiếng róc rách. Ngẩng đầu ngắm nhìn, nghiêng tai lắng nghe, dòng suy nghĩ của tôi cuối cùng cũng hơi thấy đầu mối.

Ban ngày đã thấy những gì, vẫn nhớ không rõ lắm. Chỉ nhớ mở đầu nhìn thấy là dòng màu sắc xanh nâu hồn hậu, đó có lẽ là di tích của Bắc Ngụy. Màu sắc đậm trầm đến mức như lập thể, ngòi bút phóng khoáng hào hùng tựa kiếm kích. Thời đại ấy dồn dập chuyện cũ, nhiều chiến sĩ phương bắc cường tráng rong ruổi sa trường, dũng mãnh và khổ nạn hợp thành dòng, tuôn chảy vào vách động hang đá. Khi những người thợ đang tô vẽ ở các hang động này, Đào Uyên Minh ở phương nam đang uống rượu buồn trong vườn nhà rách nát. Rượu Đào Uyên Minh uống không biết là rượu gì, rượu chảy tràn trề ở đây khẳng định là rượu mạnh, không có mùi hương ngào ngạt, chỉ là một luồng sức lực, một lòng hăng hái, có thể khiến người giống như điên cuồng, rút kiếm đứng dậy. Ở đây có chút lạnh lẽo, có chút hoang dại, thậm chí có chút tàn nhẫn.

Dòng màu sắc bắt đầu sảng khoái nhu mỹ, đó nhất định là đến sau khi Tùy Văn Đế thống nhất Trung Quốc. Y phục và hình vẽ đều biến thành hoa lệ, có hương thơm, có ấm áp, có tiếng cười. Điều này là tự nhiên thôi, Tùy Dượng Đế đang hớn hở ngồi trong thuyền ngự xuôi xuống phương nam, Vận Hà mới hoàn thành sóng biếc dập dờn, thông đến hoa lạ quý giá của Dương Châu. Tùy Dượng Đế quá hung tàn, những người thợ không đuổi theo tiếng cười của y, nhưng họ đã trở nên rộng lượng, tinh tế, nơi nơi báo trước dưới tay họ sẽ hiện ra những cảnh tượng càng khiến người kinh ngạc.

Dòng màu sắc đột ngột thoắt cái xoáy nước cuồn cuộn, đương nhiên là đã đến đời Đường. Màu sắc có thể có trên đời đều phun bắn ra, nhưng lại phun đến mức không thô kệch chút nào, khoan khoan khoái khoái hòa vào đường nét tỉ mỉ lưu loát, biến hóa thành tổ khúc giao hưởng tráng lệ không gì sánh bằng. Ở đây không chỉ là hơi ấm đầu xuân, mà đã là gió xuân phơi phới, vạn vật thức tỉnh, mỗi sợi cơ bắp của con người đều muốn nhảy nhót. Ở đây chim muông đều đang ca múa, hoa lá đều gói ghém thành bức tranh, vì trời đất này hoan hô. Điêu khắc và tượng nặn ở đây đều có mạch đập và hơi thở, treo nụ cười mỉm và cái liếc mắt yêu kiều ngàn năm không phai. Mỗi cảnh ở đây đều chẳng phải một đôi mắt có thể nhìn hết, mà mỗi ngóc ngách đều đủ để bạn lưu luyến hồi lâu. Ở đây không có trùng lặp, hoan lạc chân chính xưa nay không trùng lặp. Ở đây không tồn tại cứng nhắc, cứng nhắc không dung chứa nhân tính chân chính. Ở đây thứ gì cũng không có, chỉ có sinh mệnh con người đang sôi sục. Khi vừa đến hang động khác còn có thể suy ngẫm giây lát, nhưng ở đây, vừa bước vào đã khiến bạn phát sốt, khiến bạn thất thố, khiến bạn chỉ muốn hai chân vọt lên không trung. Dù nó vẽ nội dung gì, vừa nhìn liền khiến bạn cất lên tiếng hô kinh ngạc tận đáy lòng, đây mới là con người, đây mới là sinh mệnh. Thứ có sức quyến rũ nhất trên đời, không gì ngoài tín hiệu sinh mệnh mà một đám người sống rất tự tại phát ra. Loại tín hiệu này là nam châm, là mật ngọt, là giếng ma của chu vi xoáy nước. Không ai có thể thoát khỏi xoáy nước đó, không ai có thể đối diện với chúng mà duy trì bình tĩnh. Đời Đường chính là phải như thế, như thế mới tính là đời Đường. Dân tộc chúng ta cuối cùng cũng có một triều đại như thế, cuối cùng cũng từng có một thời khắc như thế, điều khiển dòng màu sắc tuyệt đẹp dường ấy, mà lại có thể chỉ huy tùy ý.

Dòng màu sắc càng hướng đến tinh tế, đây phải là Ngũ Đại. Dư uy mạnh mẽ của đời Đường chưa dứt, chỉ là từ nóng bỏng đi đến ấm áp, từ phóng đãng dần dà trầm tĩnh. Trời xanh trên đầu dường như nhỏ hơn một chút, gió mát ngoài đồng cũng không còn va đập lồng ngực nữa.

Cuối cùng có chút mờ xám, người múa ngẩng đầu nhìn thấy sắc trời đã biến hóa, tư thế múa cũng bắt đầu biến thành thận trọng. Vẫn không kém trang nhã, vẫn thấy tuyệt tác, nhưng cả bầu không khí vui tươi đã khó mà tìm thấy. Bên ngoài hang động, Tân Khí Tật và Lục Du vẫn đang cầm kiếm ngâm nga, âm sắc đẹp đẽ đã nhuốm vẻ cô đơn, Tô Đông Pha thì dùng thiên tài tuyệt thế, hô ứng cùng Đào Uyên Minh. Quốc thổ Đại Tống, bị thế suy sụp xuống dốc, bị tầng mây của Lý Học, bị giằng co trùng điệp, che phủ đến mức có chút âm u.

Trong dòng màu sắc rất khó tìm thấy màu đỏ nữa, đó là đã đến đời Nguyên.

…

Những ấn tượng mông lung này, hơi trau chuốt một chút, đã cảm thấy mệt nhọc, giống như lữ khách đi vội một chặng đường dài. Nghe nói, đem bích họa trong hang Mạc Cao nối lại với nhau, toàn bộ dài đến 60 dặm. Tôi chỉ không tin, chặng đường 60 dặm tôi đi ngon ơ, nào có mệt nhọc như thế?

Đêm đã khuya rồi, hang Mạc Cao đã hoàn toàn ngủ say. Giống như ngắm nghía tư thế ngủ của một chàng trai tráng kiện, nhìn nó đang ngủ, cũng không có gì đặc biệt, thấp thấp, im ắng, hoang vu trơ trụi, giống như những ngọn núi nhỏ ở các nơi khác.


(Dư Thu Vũ) 

Suối ẩn đồi cát



Trong sa mạc cũng có đường đi, nhưng ở đây không có. Nhìn ra xa xa, có mấy hàng dấu chân xiêu xiêu vẹo vẹo. Đi men theo dấu chân, nhưng không được, những chỗ bị con người giẫm qua, trái lại lỏng lẻo khó đi. Chỉ có thể dùng đôi chân của mình, đi một con đường mới. Quay đầu nhìn lại, cao hứng vì dấu chân dài dài của mình. Không biết hàng dấu chân này có thể giữ được bao lâu?

Che khuất tầm mắt là mấy ngọn núi cát to lớn. Chỉ có thể vượt qua chúng, không có lối đi nào khác. Lên núi cát thật sự là một công việc nhọc nhằn vất vả không gì sánh bằng. Vừa mới bước vững một bước, hơi dùng sức một chút, dưới chân đã lỏng lẻo trượt xuống. Dùng sức càng nhiều, lún càng sâu, trượt xuống cũng càng nhanh. Mới bước vài bước, đã thở dốc, toàn thân nóng nảy. Tôi lớn lên ở miền núi đông Triết Giang, từ nhỏ đã có thể khoan khoái vượt qua núi lớn. Mệt rồi, gắng sức một chút, vẫn có thể chạy nhanh lên đỉnh núi. Ở đây lại tuyệt đối không thể gắng sức được. Cát mịn mềm mại, cũng không cộm chân, cũng không khiến bạn va chạm, chỉ là chầm chậm xóa đi toàn bộ sức lực của bạn. Bạn càng tức điên, nó càng dịu dàng, dịu dàng đến đáng hận cực kỳ. Không biết làm sao, chỉ có thể tạm ngưng cơn giận sấm sét, thả nhẹ gót chân, ma sát với nó.

Muốn tưng tưng tưng đi nhanh lên núi, thì đừng đến nơi này. Có nơi là sạn đạo, có nơi là bậc đá, ngàn vạn người đã đi qua, cũng sẽ có ngàn vạn người đi. Chỉ là, nơi đó không cho bạn lưu lại dấu chân, dấu chân thuộc về bản thân bạn. Đã đến rồi, thế thì chấp nhận thôi, vì quy tắc chung của những người đi lại chốn sa mạc, vì những dấu chân đẹp đẽ này.

Tâm bình khí hòa, từ từ leo. Đỉnh của núi cát càng nhìn càng cao, leo bao nhiêu nó liền cao bấy nhiêu, cứ như lúc nhỏ đuổi trăng vậy. Đã lo lắng chỗ nghỉ đêm nay. Dằn lòng, không nghỉ đêm cũng được, leo! Không để ý mục tiêu cao xa kia nữa, hà tất tự mình dọa mình. Nó luôn tồn tại, không nhìn cũng tồn tại. Hãy cứ quay đầu lại ngắm nhìn chặng đường mình đã đi qua. Tôi vậy mà đã đi xa như thế, đã leo cao như thế. Dấu chân đã giống như một dải lụa dài không với tới, bình tĩnh mà phiêu dật vẽ nên một đường cong dập dờn, một đầu đường cong gắn liền dưới chân. Đúng là tác phẩm của đại gia, không nén nổi khâm phục chính mình. Không vì đỉnh núi kia, chỉ vì đường cong đã vẽ ráo mực này, leo. Bất kể leo được đến đâu, chỉ vì sinh mệnh đã tiêu hao, leo. Dù nói thế nào, tôi trước sau luôn đứng ở đỉnh của con đường đã đi qua. Đỉnh của vĩnh cửu, đỉnh của trôi dạt không ngừng, đỉnh của bản thân, đỉnh của chưa từng lùi bước. Đỉnh của núi cát là thứ yếu. Leo, cứ leo.

Dưới chân đột nhiên bằng phẳng, trước mắt đột nhiên trống trải, rụt rè ngẩng đầu nhìn bốn phía, đỉnh núi không ngờ lại bị tôi leo tới. Hoàn toàn không cần lo lắng chỗ nghỉ đêm, mặt trời chiều phía trời tây vẫn rất mực xán lạn. Núi cát miên man dưới ráng chiều là cảnh đẹp thiên hạ vô song. Ánh sáng và hình ảnh chia cắt bởi đường nét thẳng tắp nhất, vàng kim và đỏ sẫm đều thuần khiết đến không chút loang lổ, y như dùng một cái sàng cực lớn sàng qua. Gió thổi ngày đêm, đem mỏm núi, dốc núi đắp thành làn sóng, đó là làn sóng cực kỳ chậm rãi êm ả, không gợn một chút lăn tăn. Thế là, nhìn đâu cũng thấy sảng khoái, trời đất đều được sắp đặt nền nã, trong sáng. Sắc thái đơn thuần đến thánh khiết, khí chất ôn hòa đến cao quý. Vì sao người tăng kẻ tục, nhà nghệ thuật các đời cứ phải chọn sa mạc núi cát để thổ lộ tín ngưỡng của mình, xây dựng hang Mạc Cao, hang Du Lâm và các hang đá khác? Đứng ở nơi này, tôi đã hiểu. Tôi đem đỉnh của mình và đỉnh của núi hợp vào một chỗ, trong lòng ngân lên tiếng tụng kinh như tiếng nhạc trên trời.

Khi mới leo lên mỏm núi, đã phát hiện dưới chân núi còn có điều kỳ lạ, không nỡ nhìn hết một lần. Đợi đến khi phóng mắt từ trên cao nhìn xuống, mới dám ngắm nghía tỉ mỉ. Đó rõ ràng là một khúc suối trong, nằm vắt ngang chân núi. Sử dụng một từ vựng trau chuốt nào, đều là sự khinh nhờn đối với nó. Chỉ cảm thấy nó đến quá đường đột, đến quá quái dị, yên yên lặng lặng nấp ở nơi vốn không nên có nó, khiến mắt ta nhìn rất lâu vẫn không thể thích ứng. Du khách trẻ tuổi cũng sẽ giống một người cha già hiền từ quở trách cô con gái rượu, nói một câu: ngươi làm sao cũng chạy đến nơi này!

Đúng thế, đây bất luận thế nào cũng không phải là nơi nó đến. Muốn đến, nên đến một dòng nước chảy xiết vàng đục, nhưng nó lại trong vắt và êm ả như vậy. Hoặc dứt khoát đến một hồ nước lớn một chút, nhưng nó lại mảnh mai và uyển chuyển như vậy. Theo dung mạo của nó, nên dừng chân ở bên sông Phú Xuân, giữa núi Nhạn Đãng, hay dưới bóng râm từ Hổ Bão đến Cửu Khê. Cát bay đầy trời, chẳng lẽ chưa từng lấp tắc nó? Gió lốc nửa đêm, chẳng lẽ chưa từng hút cạn nó? Ở đây thực đã từng ẩn hiện vết chân của bọn cướp, nhờ suối ngọt của nó để sống? Ở đây thực đã từng xúm xít đội ngựa của giặc phỉ, lưu lại bên cạnh nó một vũng vẩn đục?

Tôi nghĩ ngợi lung tung, lập tức mặt mày rầu rĩ. Làm sao đến gần nó đây? Tôi đứng trên đỉnh núi, nó nép mình dưới chân núi; dốc núi hướng về nó dốc đứng như dao gọt. Giờ khắc này, sự leo trèo mới rồi đã toàn bộ hóa thành bi ai. Hướng đến đỉnh núi, hướng đến độ cao, kết quả đỉnh núi chỉ là một đường đất hẹp vừa đủ đặt chân. Không thể đi ngang, không thể đi dọc, chỉ hưởng lạc thú trông xuống một lúc, làm sao có thể dừng chân ngồi yên lâu dài? Lên đã chẳng có đường, xuống lại khó khăn, tôi cảm thấy cô độc và sợ hãi chưa từng có. Vẻ đẹp ấm áp chân chính của thế gian, đều an ủi mặt đất, ẩn nấp trong khe sâu. Độ cao thống trị vạn vật, trở đầu lại chỉ tạo thành tự giễu cợt mình. Tôi đã nhìn ra sự mỉa mai của nó, thế là gấp gáp đến thăm dò sườn dốc vót xuống. Đời người thật là gian nan, không lên đỉnh cao không phát hiện ra nó, lên đỉnh cao rồi lại không thể gần gũi nó. Xem ra, định sẵn phải không ngừng lên dốc xuống dốc, lên dốc xuống dốc.

Cắn răng, hạ quyết tâm. Rốt cuộc cũng phải xảy ra chút sự cố, tạm thời rụt cổ, xoay mặt, thò chân xuống dưới. Một bước, lại một bước, cả bộ xương đều đã chuẩn bị sẵn sàng cho một lần té nặng. Thế nhưng, kỳ lạ thay, chẳng có gì xảy ra cả. Mới hai bước, đã trượt vèo xuống dưới đến mấy mét, lại đứng hết sức vững vàng. Không té sấp, cũng không ngã ngửa, nhất thời biến thành Prometheus trên đỉnh núi Caucasus. Hơi dùng sức tiếp, giống như quay phim chậm, sải bước múa may, chỉ khoảng chục bước đã đến chân núi. Thực sự kinh ngạc ngẩn người: khó nhọc leo lên mấy tiếng đồng hồ, đi xuống chỉ là mấy bước! Nhớ lại quyết tâm bi tráng lúc mới thò chân xuống, bật cười khanh khách. Sự hoạt kê mà Kant nói, vừa khéo là tình cảnh kiểu này.

Không kịp nghĩ thêm về Kant, vội vàng chạy đến suối nước. Một khúc suối không tính là quá bé, dài chừng ba bốn trăm bước, chỗ rộng nhất ở giữa tương đương một dòng chảy trung bình. Dưới mặt nước, bồng bềnh mấy đám cỏ nước, khiến sắc nước xanh lục thêm đậm. Lại có ba con vịt nước màu đen, nổi nhẹ bên trên, rẽ ra hai gợn sóng dài dài. Thật không biết chúng làm sao bay qua quan san vạn dặm, tìm đến nơi này. Bên nước có cây, không ít cây đã gốc rễ quanh co, phải có hàng trăm năm tuổi. Nói chung, tất cả những gì suối trong ao 


vắng nên có, ở đây đều có cả. Đến đây, suối nước này trong mắt tôi lại biến thành hiệp khách độc hành, giữa trời đất hoang mạc, toàn dựa vào sức mình, sắp đặt ra một thế giới khiến người hài lòng.

Sau cây có một gian nhà sơ sài, đang chần chừ thì một vị ni sư già bước ra. Tay cầm chuỗi tràng hạt, đầy mặt nếp nhăn chằng chịt mà bình yên. Bà cho tôi biết, ở đây vốn có chùa, đã hủy 20 năm trước. Tôi không thể tưởng tượng nguồn sinh hoạt của bà, ấp úng hỏi, bà chỉ con đường sau nhà, nhẹ nhàng nói: Sẽ có người đưa đến. Những việc tôi muốn hỏi bà đương nhiên rất nhiều, chẳng hạn vì sao cô đơn một mình trông giữ nơi này? Lần đầu đến đây vào năm nào? Cuối cùng cảm thấy đối với nhà Phật, kiểu truy hỏi đó quá ư vụng về, bưng miệng bỏ qua. Ánh mắt lại chuyển đến dòng suối êm đềm này. Đáp án có lẽ đều ở đây.

Sa mạc mênh mang, nước chảy cuồn cuộn, đối với người đời chẳng kỳ lạ. Duy chỉ có một khúc quanh như thế trong đại mạc, một chút tĩnh lặng như thế trong gió cát, một cảnh như thế trong hoang vắng, một cú trượt xuống như thế sau dốc cao, mới cảm nhận được sâu sắc vận luật của trời đất, khéo léo của tạo hóa, khiến người say mê theo đuổi. Lấy đó suy diễn, đời người, thế giới, lịch sử, chẳng có thứ nào không như thế. Cho huyên náo để yên tịnh, cho nóng nực để mát mẻ, cho cao đạo để chất phác, cho thô kệch để đẹp đẽ. Chi có như vậy, đời người mới thấy linh động, thế giới mới tỏ ra tinh tế, lịch sử mới có phong vận. Thế nhưng, những thứ con người ngày thường nhìn quen, đều là khoa trương một chiều đủ màu đủ kiểu. Cả thần tự nhiên cũng qua loa đại khái, lười thêm thắt điều phối, khiến người thế gian chịu liên lụy lớn.

Do đó, sự trông giữ cô độc của vị ni sư già không phải là không có đạo lý. Khi bà ở trong gian nhà rách nát nghe đủ một đêm gió cát gào thét kinh tâm động phách, sáng sớm mai, liền có thể mượn sắc nước trong trẻo rửa sạch đôi tai. Khi bà nhìn đủ màu xanh thẳm của nước suối, ngẩng đầu, liền có thể ngắm nhìn vách cát rực rỡ.

—— Núi, tên là Núi Minh Sa; suối, tên là Suối Nguyệt Nha. Đều nằm trong khu vực huyện Đôn Hoàng.


(Dư Thu Vũ)