Showing posts with label Tử Phi. Show all posts
Showing posts with label Tử Phi. Show all posts

22.4.14

Hẹn nhau ở kiếp lai sinh

Đồng lòng kết mối lương duyên,
Đời này tuy ngắn, triền miên ý tình.
Hẹn nhau ở kiếp lai sinh,

Thiếu niên như ngọc gặp mình là ta.

Thương Ương Gia Thố, ba trăm năm sau, Ngài phải chăng vẫn còn nhớ buổi chiều hôm đó, nàng tha thướt đi qua, lạnh lùng mà diễm lệ, trong khoảnh khắc đôi mắt Ngài như bị châm đau nhói?

Ngài vừa muốn tìm hiểu tung tích của nàng, thì nàng sớm đã nhẹ nhàng đi xa, phảng phất một ảo ảnh, lại phảng phất một giấc mơ.

Ngài buồn bã hụt hẫng, giống như đối diện một cảnh đẹp tuyệt trần, giống như sen đỏ nở rộ trên đỉnh núi tuyết, cũng giống như ngọn lửa cháy rực trên núi băng cao ngất, sắc mặt đỏ ửng ấy, nghiêng cả cố quốc, say cả hồng nhan.

Cảm giác kỳ diệu ấy chỉ có thể lĩnh hội bằng tâm ý, không thể diễn tả bằng ngôn ngữ. Đó là cảm giác của luyến ái.
     
Lúc này, một nhà sư gầy gò cao dong dỏng bước đến, ông muốn cùng Ngài bàn luận Phật học, bàn luận tín ngưỡng, bàn luận ý nghĩa của sinh mệnh.

Ngài và ông đứng dưới tường thành, hai người đứng yên hồi lâu, ánh nắng chênh chếch chiếu xuống, hai cái bóng nhàn nhạt trên đất tuyết.

Nhà sư lạnh lùng chăm chú nhìn Ngài, nói: “Hồng nhan chớp mắt đã là xương khô, đây là ma chướng, đây là tâm ma.”

Ngài vâng vâng dạ dạ, đành lật giở kinh Phật, thế nhưng trong Phạn âm du dương, từng chút từng chút, lại toàn là bóng dáng của nàng.

Thương Ương Gia Thố, đúng vậy, Ngài trốn không thoát, đây chính là số mệnh của Ngài, luân hồi của Ngài.
   
Trên bánh xe vận mệnh, sớm đã điêu khắc vương vấn giữa hai người, số mệnh của hai người định sẵn phải gặp nhau. Rất nhiều kiếp, hai người đi lướt qua nhau, chính là trần duyên đẹp buồn dường ấy.

Một kiếp đó, Ngài là Tam thiếu gia nhà họ Tạ, còn nàng là ả cáo đỏ chuyên tâm tu luyện ở núi sau. Ngài đứng trên phiến đá xanh sang sảng đọc thơ, nàng ở trong rừng trúc lặng lẽ đăm đăm nhìn Ngài. Sau đó, Ngài bảng vàng đề tên, giương cờ gióng trống vội đến kinh thành làm phò mã, còn nàng thì âm thầm khóc trong rừng trúc.

Cũng là vào lần ấy, bên đèn xanh tượng Phật, nàng khổ sở van xin một đoạn trần duyên, mong mỏi có thể cùng Ngài gặp nhau lần nữa.

Lại một kiếp, Ngài là lữ khách lang thang, còn nàng, là cô gái che chiếc ô giấy dầu nơi ngõ nhỏ.

Chốn rừng rậm cổ xưa xuất hiện hai con đường, hai người, đã gặp nhau lần nữa ở ngã giao thoa của số mệnh.

Hai người vốn là khách đi đường, kẻ chọn lưu lạc, kẻ chọn cố thủ. Thế nhưng, hai người đã yêu nhau như thế.

Ly biệt rốt cuộc phải đến, bắt đầu, đã hàm nghĩa kết thúc.

Trước khi đi, Ngài thắm thiết nhìn nàng lần cuối, không thể cất bước.

Lúc đó, ánh trăng từ trên trời tưới xuống, hoa tuyết giăng che trời đất, lả tả phất phới, xa xa truyền đến tiếng tiêu thần bí, giữa trời đất một vùng điêu tàn.

Dưới ánh trăng, nàng buồn bã mỉm cười, si mê nhìn Ngài, nàng nguyện ý ở dưới trăng vì Ngài múa một điệu múa cuối cùng, chỉ vì Ngài múa một điệu múa cuối cùng này.
   
Nàng múa lượn trong tuyết, thân ảnh thướt tha, chiếu rọi ánh trăng như tuyết. Ánh trăng tựa nước, người tựa sen đỏ, tất cả mơ hồ như giấc mộng.

Ngài cũng nhẹ nhàng ngồi trên tảng đá xanh, gảy cây đàn cổ, cuối cùng vì nàng diễn tấu một khúc, chỉ diễn tấu vì một mình nàng. Đây là một khúc nhạc thần bí khôn lường, hôm nay Ngài đơn độc vì nàng diễn tấu một lần, kiếp này cũng chỉ diễn tấu một lần này thôi, khúc nhạc đã dứt, âm thanh này từ đây tuyệt tích!

Dư âm quanh quẩn, bảy ngày không tan. Tiếng đàn thần bí này, chỉ sẽ vì một mình nàng vang vọng.
  
Không biết lại trải qua luân hồi mấy đời mấy kiếp, vương vấn mấy kiếp, cuối cùng, Ngài là một lữ khách, lại ngủ nhờ trong gian nhà màu xanh ấy. Vào đêm trăng đó, lại đọc được câu chuyện tình yêu ghi chép trên bia đá, tựa hồ có cảm ngộ, nhưng trước sau không thể tham ngộ.

Đêm đó, Ngài dạo bước ra ngoài, trong màn đêm mông lung, lại nhìn thấy một cô gái, kề bên đèn xanh nến đỏ, lặng lẽ giữ suông một đoạn tình duyên. Dưới ánh đèn vàng vọt, bóng lưng mảnh mai và ánh mắt quật cường của nàng, khiến Ngài thốt nhiên hoảng hốt.

Một vạn năm sau, Ngài vẫn nhớ được khoảnh khắc ấy, nàng chăm chú nhìn Ngài, giọt lệ tinh khiết rưng rưng trong mắt.
  
Ngài bỗng nhớ lại kiếp trước của hai người, rất nhiều buổi chiều xa xưa, Ngài đã nắm tay nàng, đi qua bãi cỏ hoang vu, xuyên qua hành lang hun hút cô độc, giẫm lên rừng cây rậm rạp như thế.

Người con gái đau lòng dưới trăng, vì Ngài đêm đêm cầu nguyện kia, chính là nàng sao?
  
Ngài ngẩn ngơ đứng đó, cứ thế nhìn nàng từng bước từng bước đi về phía Ngài, chỉ là khoảnh khắc, lại tưởng chừng đã trải qua hàng thế kỷ.

Hoa tuyết tung bay, rối rít chờn vờn trong gió lớn, tựa như cánh bướm tuyệt vọng xoay vòng trước gió.

Hồng Hoàn, là nàng ư?

Trong sương mù dày đặc, một con cáo đỏ, chạy băng băng giữa hoang dã.

Ngài đẩy cửa bước ra, vào lúc thảng thốt Ngài đã lệ rơi đầm đìa, những giọt nước mắt tuôn chảy đó, đã lắng đọng trần duyên mấy đời mấy kiếp.

Hồng Hoàn?


(Tử Phi)

11.11.13

Tạng • Hoa sen


Men theo hẻm núi sông Yarlung Tsangpo đi về phía bắc, qua hẻm núi, vượt núi tuyết, xuyên rừng rậm nguyên thủy, mới có thể tìm được con đường nhỏ này.

Đó là một con đường nhỏ rách nát. Trên đường có nham thạch rạn nứt như mai rùa, đá sỏi nát vụn, trên vách núi nở ra những hoa nhỏ li ti.

Con đường này quanh co uốn khúc, ngoan cường chỉ về một nơi gọi là hoa sen.

Đúng vậy, hoa sen, loài hoa đất tuyết thuần khiết nhất của Tây Tạng. Nó ẩn nấp trong vách núi trùng điệp, là một đóa hoa đất tuyết rực rỡ chói mắt nhất.

Con đường này đã đi lại ngàn năm, tận cùng của nó là Mêdog (Mặc Thoát).

Một ngàn năm trăm năm trước, trên con đường này, lần đầu tiên có người đứng đấy.

Đó là một buổi hoàng hôn, tịch dương đỏ như máu vung vãi. Người kia đứng trên con đường này, nhìn xa xăm về phía đông của cao nguyên Thanh Tạng, lặng lẽ không nói.

Phía đông, là Cung Potala hùng vĩ tráng lệ, phía đông của Cung Potala, là dãy núi Nyenchen Tanglha, dãy núi Nyenchen Tanglha tiếp tục đi về phía đông, là đồng bằng rộng lớn. Trên đồng bằng, có một tòa thành to đẹp đàng hoàng trong truyền thuyết, tên của nó là Trường An.

Trường An, đó là một tòa thành trong truyền thuyết.

Trường An thời ấy, chính là đô thành của Thịnh Đường, đại hoàng đế sống trong thành Trường An tên Lý Thế Dân. Trinh Quán chi trị, thịnh thế càn khôn, chính là lúc Trung Hoa cường thịnh nhất. Vẻ phồn hoa của Trường An, sự khoan hậu của chính trị, con đường tơ lụa dát vàng dằng dặc vô biên, cuốn hết cát vàng, phủ lên hết phồn hoa và tang thương của Thịnh Đường.

Rất lâu, người kia cuối cùng từ từ mở miệng, ông ta hạ lệnh xây một con đường nhỏ, từ trên con đường nhỏ này đã bắt đầu lữ trình hành hương về đất thánh dài đằng đẵng.

Con đường này, điểm đầu ở Mêdog, điểm cuối ở Trường An.

Đường dài đằng đẵng, một lần đi này đã là mười năm.

Mười năm sau, bánh xe lộc cộc đè lên con đường này, in xuống vết bánh xe sâu hoắm.

Trên xe ngựa nặng nề, có tơ lụa, đồ sứ, thảo dược, lá trà, sách vở, tượng Phật, còn có một vị công chúa mỹ lệ như đá quý. Nàng chính là công chúa Văn Thành, cháu gái của Đường Thái Tông Lý Thế Dân, nàng đem đến cho Tây Tạng nền văn minh tiên tiến nhất thời đó.

Người kia tên là Songtsän Gampo (Tùng Tán Cán Bố), vị vua vĩ đại nhất của Tây Tạng. Ông đã thống nhất Tây Tạng, lại từ Trường An mang về văn minh tiên tiến.

Hoa lửa của nền văn minh này, từng giọt từng giọt, đều nhỏ trên con đường này.

Đường dài thăm thẳm, hoa nở hoa rụng, trong chớp mắt lại qua mấy trăm năm.

Con đường này, Thịnh Đường đi qua, Bắc Tống cũng đi qua, Đại Nguyên đi qua, Minh Thanh cũng đi qua, một con đường nhỏ ngoằn ngoèo khúc khuỷu, đã qua lại biết bao thương nhân và quan viên, đã ghi lại phồn thịnh và suy thoái của biết bao triều đại.

Con đường này, mãi đến thế kỷ 18, nhà văn Mỹ James Hilton còn đi qua. Ông vượt qua núi tuyết cao ngất, lội qua con sông xanh thẳm, cuối cùng đến được nơi đây, kinh ngạc trước vẻ u nhã tĩnh mịch và kín đáo ở đây. Nhiều năm sau, ông đã viết một cuốn sách – “Đường chân trời đã mất”.

Trong sách, ông đã xúc động miêu tả địa phương này: “Nơi mặt trời chiếu rọi sớm nhất, là Gyalthang của phương đông, nơi đẹp đẽ nhất của nhân gian, là Shangrila bên sông Naizi.”

Có nhiều cách nói khác nhau về Shangrila.

Có người nói Shangrila ở Zhongdian (Trung Điện) của Vân Nam, cũng có người nói là ở Daocheng (Đạo Thành) của Tứ Xuyên, tôi lại luôn kiên trì cho rằng đó là Mêdog. Chỉ có địa phương u tĩnh thánh khiết như Mêdog, mới có thể gọi là Gyalthang của phương đông, nơi đẹp đẽ nhất của nhân gian.

Sau khi cuốn sách này xuất bản, lập tức dẫn đến sự quan tâm của bên ngoài đối với Tây Tạng.

Chính là như vậy, họ đã đến, từ bốn phương tám hướng, Châu Âu và Mỹ, đội gió sương và nỗi khổ nhớ quê, bất chấp nguy hiểm chôn thân đất lạ, mang một trái tim thành kính, trèo non lội suối, ngàn dặm xa xôi mà đến, chỉ để yết kiến đóa hoa sen thánh khiết nhất ấy.

“Mêdog” tiếng Tạng có nghĩa là nơi hoa sen nở rộ. Trong “Cam Châu Nhĩ” của Đại Tạng Kinh gọi Mêdog là: “Tịnh thổ của Phật Bạch Mã Cương, thắng cảnh đặc biệt nhất trong các thắng cảnh đặc biệt.”

Trong hoàng hôn, ánh nắng sót lại của tà dương chênh chếch chiếu qua, ở nơi tận cùng của mặt trời lặn, lặng lẽ bừng nở một đóa hoa sen. Một đóa hoa sen thánh khiết nhất trên thế gian, Mêdog.

Mêdog ẩn nấp trong quần thể núi, có hồ, có núi, có thác nước, nhìn từ xa xa, phảng phất sen đỏ nở bung, một vẻ tốt lành.

Đây là một địa phương thần bí, cũng là một địa phương duy nhất ở Trung Quốc không thông đường hoàn toàn.

Vào Mêdog, nhất thiết phải đi xuyên hẻm núi, qua rừng rậm, vượt núi tuyết, lội đầm lầy, chín phần chết một phần sống, mới có thể nhìn thấy đóa hoa sen đẹp đẽ nhất của cao nguyên Thanh Tạng. Trong đó, có núi tuyết mênh mang cao hơn 4.000 mét, có hẻm núi hiểm trở của Himalayas, có rừng mưa nhiệt đới rậm rạp, có khu không người Ngari (Ali) được gọi là cấm địa của sinh mệnh, dọc đường có thể trải qua biến hóa bốn mùa xuân, hạ, thu, đông.

Đúng vậy, muốn đi Mêdog gặp gỡ, trước hết phải trải qua thử thách cửu tử nhất sinh, mới có thể nhìn thấy cảnh đẹp sen đỏ nở rộ, trăm chim cùng hót ấy. Đây là một địa phương tươi đẹp mà lại thần bí biết bao.

Tây Tạng là cực thứ ba của thế giới, Mêdog là cực thứ ba của Tây Tạng.


Chính ở nơi tịnh thổ của Phật, thắng cảnh đẹp nhất trong các thắng cảnh, chàng, Đạt Lai Lạt Ma thứ 6, Phật sống truyền kỳ của Tây Tạng, hoàng tử thơ tình Tsangyang Gyatso (Thương Ương Gia Thố) đã chào đời!

Tsangyang Gyatso sinh năm thủy trư rabqung thứ mười một của lịch Tạng, ngày 1 tháng 3 năm 1683 công nguyên. (rabqung: chu kỳ 60 năm)

Nghe nói, ngày chàng sinh ra, có hiện tượng lạ, trên bầu trời Mêdog mọc lên bảy vầng thái dương, trên trời tuôn xuống cột sáng màu vàng cực lớn, Phật quang quấn quít, khí tía xung thiên.

Theo tiên đoán của kỳ thư Tây Tạng “Thần Quỷ Di Giáo”, hiện tượng lạ này là Liên Hoa Sinh chuyển thế, tôn quý không gì sánh bằng, có thế vạn phật triều thánh, khí thế không thể cản trở.

Bảy mặt trời cùng mọc, cột vàng chiếu rọi, cảnh tượng thật là đẹp đẽ, chỉ xuất hiện vì một mình chàng!

Thế nhưng, Mêdog hiện nay, lại vĩnh viễn không có người con trai ấy. Chàng đã xa Mêdog rất nhiều năm.

Chàng trai ấy, chàng trai cô độc ngạo nghễ anh tuấn lạ lùng ấy, áo trắng áo xanh, tiêu sái rời Mêdog, từ đó lưu lạc chân trời.

Chàng cứ đi mãi trên đường, đã đi trọn ba trăm năm.

Vào đêm ấy, Tsangyang Gyatso cầm chiếc đèn lồng thoắt sáng thoắt tối, đi trên con đường nhỏ này.

Một cơn gió thổi qua, rừng cây vang tiếng xào xạc, chim chóc nơi xa thấp giọng hót. Tsangyang Gyatso thoáng rụt cổ, nhìn về phương xa, phương xa là núi màu xanh, mênh mênh mang mang. Nhìn xa hơn nữa, phương xa chỉ là một màu đen đậm đặc.

Đường nhỏ cô độc, hoa nhỏ li ti, đèn lồng chập chờn, mặt trăng dịu dàng, nơi xa phảng phất truyền đến tiếng gọi của người tình. Tất cả, đều đã thành hồi ức vĩnh viễn trong đáy lòng chàng.

Chàng suốt đời đều nhớ nhung quê hương, nhớ nhung con đường nhỏ này, thế nhưng hết một đời này chàng lại chẳng có cơ hội trở về nữa. Con đường nhỏ ấy của quê nhà, đã định sẵn chỉ có nhớ lại trong mơ. Con đường về nhà này, quanh co khúc khuỷu, vĩnh viễn không có tận cùng.

Nhiều năm sau, tình cảnh ấy vẫn hiển hiện trong lòng chàng. Sau này, chàng đã viết một bài thơ, kỷ niệm cuộc tình này:

Từ hướng đông lên vượt khỏi đồi,
Bóng trăng lồng lộng vẻ vui tươi.
Trăng mang hình thể vào tâm tưởng,
Khuôn mặt người yêu hớn hở cười.
(Hoàng Nguyên Chương dịch)

Ba trăm năm sau, cũng có một ca sĩ đơn côi, cảm nhận được nỗi cô độc sâu sắc này.

Người ca sĩ này, một cây đàn guitar, một bộ đồ jeans, đã đem đến cho giới ca nhạc biết bao truyền kỳ. Anh là John Denver, nhiều năm sau, anh đã hát: “Đường nhỏ thôn quê, đưa ta về nhà”. Anh tha thiết yêu quê hương mình, yêu con đường xập xệ ấy. Con đường nhỏ quanh co ấy, đã lay động con tim biết bao kẻ lãng du chân trời.

Thế nhưng, con đường nhỏ ngoằn ngoèo ấy, Tsangyang Gyatso lại chẳng có cơ hội đi một lần nữa.

Tsangyang Gyatso đã thấm mệt. Chàng đã đi trên đường quá lâu, chàng thật sự quá mệt mỏi. Cuối cùng chàng quay đầu nhìn một thoáng, con đường uốn lượn kia, là xa xăm như thế, xa đến hết một đời người cũng không trở về được.

Thế là chàng lẳng lặng nằm xuống trên con đường nhỏ ấy, hướng về phương hướng của hoa sen.

Cái chết giống như đêm tối, tĩnh mịch mà yên lành, nơi tận cùng của đêm tối, là đồng trống xa xôi, sương mù lan tỏa, sông nước mênh mang, buổi chiều hôm, phảng phất có mấy tiếng sói tru dài, như than như khóc, rất mực thê lương.

Trong màn đêm, Tsangyang Gyatso cuối cùng đã ngủ vùi.

Đường nhỏ thôn quê, xin đưa ta về nhà.

(Tử Phi)

Ở trên đỉnh núi phía đông


Ở trên đỉnh núi phía đông,
Trăng soi vằng vặc, thinh không rạng ngời.
Giai nhân khuôn mặt tươi cười,
Hiện lên trước mắt, in nơi đáy lòng.

Tuyết rơi đã bảy ngày, hồ thánh Namtso một màu thánh khiết. Mấy chú hạc trắng nhàn nhã lượn vòng trên mặt hồ.

Ngài ngẩng đầu, ngắm hạc trắng chao liệng trên bầu trời, chúng phải chăng sẽ bay về hướng Litang?

Litang, nơi nàng ở. Vì nàng, nước sông ở đó biến thành dòng sữa, đất hoang biến thành mục trường, gió hú biến thành ca hát. Đó là miền đất tốt lành nhất.

Ngài khẩn cầu cao xanh, hy vọng ánh trăng dịu dàng nhất và đóa hoa cách tang tươi đẹp nhất, có thể, khẽ khàng rơi xuống Litang, rơi bên người Mã Cát A Mễ.

Ánh trăng mềm mại dường ấy, đóa hoa nõn nà dường ấy, cô gái xinh đẹp dường ấy.

Mặt trăng mọc lên trên đỉnh núi chót vót, trăng đến giữa trời sáng tỏ, một vầng trăng trong trẻo lành lạnh.

Ngài ngẩng đầu ngắm trăng sáng vằng vặc, trăng cũng như con mắt ôn nhu đăm đăm nhìn Ngài. Ngài hướng về mặt trăng suy tư, có cô gái dưới núi chậm bước đi đến, nhưng người trong lòng Ngài nhớ mong ở đâu?

Mặt trăng dần dần đi xa, ánh trăng như nước, chiếu sáng vết thương lòng của Ngài. Vì thuần khiết của Ngài, thành kính của Ngài, tình yêu của Ngài, khoảnh khắc đó, cả núi tuyết đều trở nên thần thánh.

Vào đêm đông lạnh lẽo vắng vẻ này, Thương Ương Gia Thố, tôi cũng đang cảm nhận nỗi cô độc của Ngài. Mặt trăng sáng trong lạnh lẽo chiếu trên người Ngài, tôi có thể chạm đến vui sướng của Ngài, tịch mịch của Ngài, tình yêu của Ngài.

Tôi phảng phất nhìn thấy Ngài, mỗi bước một nhanh, vì nàng cầu phúc ở bên hồ, Ngài kiên trì cầu khấn dưới trăng, khao khát được nhìn một thoáng dung nhan tuyệt thế của nàng.

Giai nhân đã đi, ta sao lẻ bóng?

Hoa tuyết, từng phiến từng phiến rơi xuống, rơi trên đầu Ngài, người Ngài, tan chảy thành nước, tựa như ánh trăng thanh lạnh xa vắng, từng giọt từng giọt gieo rắc trên mặt đất.

Đúng thế, hoa tuyết rực rỡ, huy hoàng, thanh khiết lạnh lùng, giống như người con gái đơn côi, bình tĩnh đi qua dưới pháo hoa.

Tôi cũng đứng sau lưng Ngài, bình tĩnh đi qua. Ngài ngẩng đầu, ngắm hạc trắng bay lượn trên bầu trời, hạc trắng nhởn nhơ bay qua, chỉ lưu lại nước biếc dập dờn tự chảy xuôi.

Ngài rốt cuộc là lữ khách cô độc, nỗi cô độc của Ngài, tựa như khói mây, tịch mịch hiếm có, bất kể giữa đám đông chen chúc, bến đò ồn ào, phố xá nhộn nhịp, ngõ đá yên tĩnh, đồng nội trống trải, đỉnh núi hùng vĩ, Ngài đều có thể cảm nhận được nỗi cô độc cách tuyệt với đời ấy.

Nỗi cô độc này, không thể diễn tả, chỉ có bản thân Ngài mới cảm nhận được.

Phải rồi, người quá đỗi siêu thoát thế tục, đều là cô độc.

Ngài là Phật sống, vốn nên chuyên tâm nghiên cứu Phật học, bên đèn dầu khói xanh tượng Phật cổ kính cảm ngộ chúng sinh; ai bảo Ngài lại là thiếu niên đắc chí, phong độ tiêu sái, còn viết được thơ hay, văn chương tung hoành, tài hoa xuất chúng, khiến cho bốn bề ca vang, đầy ngõ truyền xướng. Ngài làm thơ hay, hào phóng cũng được, Ngài muôn ngàn lần không nên tuổi trẻ ngông cuồng, phóng ngựa uống rượu, phong lưu phóng khoáng, lại phải lòng một cô gái chốn phàm trần như vậy!

Có lẽ, nàng cũng cô đơn. Giống Ngài.

Một cô gái quá đẹp quá kiêu, cũng cô đơn. Vì quá đỗi xinh đẹp và kiêu ngạo, khiến phụ nữ ghen ghét, khiến đàn ông tự thẹn kém cỏi. Một cô gái tuyệt thế dường ấy, thương tiếc bản thân, sẽ không dễ dàng yêu một chàng trai. Nàng sẽ luôn đứng ở phương xa, kiên trì chờ đợi một người, chỉ có một người, một thiếu niên hào quang chói mắt, trẻ tuổi ngông cuồng, tài hoa xuất chúng, kinh hãi thế tục, ung dung tự tại, áo trắng áo xanh, tiêu sái đi qua.

Phong thái diễm lệ vô song của nàng, cũng chỉ vì một mình Ngài bừng nở.

(Tử Phi)

Kiến dữ bất kiến


Nàng gặp, hay không gặp ta
Ta vẫn ở đây
Không mừng, không lụy

Nàng nhớ, hay không nhớ ta
Tình vẫn ở đây
Không còn, không mất

Nàng yêu, hay không yêu ta
Yêu vẫn ở đây
Không thêm, không bớt

Nàng theo, hay không theo ta
Tay ta vẫn nơi nàng
Không lơi, không siết

Hãy ngả vào lòng ta
Hoặc là
Dành cho ta một chỗ trong trái tim nàng
Bình lặng yêu nhau
Âm thầm thương tưởng.

Thầm đọc bài thơ này, vừa nhắm mắt lại, đã đi vào một cảnh giới duy mỹ.

Đó là một vùng đất tuyết sâu thẳm trang nghiêm, một màu trắng xóa mênh mang mà xa xăm. Không người. Không âm thanh. Không cây cối. Trên trời trống trải, không có chim chóc bay qua.

Trước mặt có một dòng chảy màu đen, nước sông êm đềm khoan thai, chầm chậm chảy, phảng phất một tấm lụa màu đen thật dài, vĩnh viễn không nhìn thấy bờ bến.

Hoa tuyết, từ bốn phương tám hướng thổi đến, hoa tuyết vờn bay đầy trời, lượn vòng, múa may, dâng lên, lặp đi lặp lại rồi từ từ rơi xuống.

Ngài và nàng, tựa sát vào nhau, chân trần, từng bước từng bước đi trên đất tuyết. Hoa tuyết vạch qua bầu trời bao la, rơi xuống trên đầu, trên mình, trên chân hai người, tan chảy thành nước, chẳng còn nhìn thấy một chút vết tích.

Tuyết lớn rơi đầy, trong chớp mắt đã phủ kín dấu chân khi đến, không tìm lại được con đường vốn có nữa.

Ngài nhìn nàng, thương xót mà quyết đoán, Ngài cứ thế dắt nàng kiên quyết đi tiếp, không có phương hướng, cũng không có mục tiêu, một con đường nhỏ tùy ý dưới bóng mây, đầu kia của bầu trời, tận cùng của thế giới, cứ thế cùng nàng đi mãi, dù kết quả ra sao, dù con đường trước mặt có bao xa, Ngài chỉ cần nắm chặt bàn tay nhỏ bé của nàng, chính là nắm được cả thế giới, chỉ cần hai người có thể ở bên nhau, Ngài sẽ không hề nhìn lại mà đi tiếp như thế.

Tận cùng của tận cùng của con đường là ở đâu?

Ngài không biết, cũng không muốn biết. Chỉ cần nàng vẫn bầu bạn bên Ngài, Ngài chẳng buồn suy nghĩ những việc khác, chỉ một mạch đi về phía trước. Không có đường lùi, sẽ không lùi lại. Ta sẽ nắm bàn tay nhỏ bé của nàng, phương xa của phương xa của phương xa, tận cùng của tận cùng của con đường, ta và nàng cùng đi.

Hoa tuyết, từng phiến từng phiến nở bung, rơi rụng chốn trần thế, tất cả dường như trở về sự thuần khiết nguyên thủy nhất. Ngài nắm tay nàng, chân trần đi trong tuyết lớn mênh mông, sau lưng, là một vùng đất tuyết bao la.

Không thể tưởng tượng.

Giống như một bức tranh thuở khai thiên lập địa, lúc bắt đầu của trời đất, buổi ban sơ của vạn vật, một đôi tình nhân chính là như thế tay nắm tay, đi về hướng tận cùng của tận cùng của hồng hoang.

Một tình yêu vì nghĩa không hối.

Rất nhiều người điên cuồng si luyến bài thơ này, đơn giản, trong sáng, mang một chút đau buồn man mác.

Có người nói, bài thơ này chỉ hai câu trên là do Thương Ương Gia Thố viết, phần dưới là người đời sau thêm vào trong khi truyền xướng, đã không thể khảo chứng. Thế nhưng, vẻn vẹn hai dòng chữ này, đơn sơ linh hoạt, nhuần nhị đẹp đẽ, vài nét bút sơ sài, giống như thủy mặc, đã phác họa ra một bức tranh tình yêu tuyệt mỹ.

Lòng thành thì linh.

Thương Ương Gia Thố, tôi hiểu rõ Ngài, giống như tôi hiểu rõ bản thân. Nỗi cô độc của Ngài, niềm thương cảm của Ngài, ưu sầu không thể nói thành lời của Ngài.

Đúng thế, Ngài là Phật sống Thương Ương Gia Thố, tượng trưng của Tây Tạng, thần của Tây Tạng, Ngài có thân phận và trách nhiệm của mình, những thứ ấy, đều không cho phép Ngài yêu đương. Nhưng, tình yêu như thế, há nói không yêu là không yêu sao? Đã biết yêu là sai, không yêu cũng là sai, một bầu sầu khổ ly biệt đó, lại cùng ai bày tỏ?

Khó trách trong câu chữ thuần khiết của Ngài thổ lộ ra niềm thương cảm như vậy, khó trách giữa lời thơ có nỗi u uất như vậy, tình yêu này, vốn dĩ vừa bắt đầu đã là sai!

Sai, sai, sai.

Tâm ý tương thông. Một buổi hoàng hôn năm trăm năm trước, một nhà thơ lớn đời Tống cũng từng rầu rĩ như thế. Trong lựa chọn đau khổ dường ấy, ông nhiều lần hỏi bản thân, rốt cuộc là yêu, hay là không yêu?

Nhà thơ ấy chính là Lục Du. Trong tác phẩm nổi tiếng "Thoa đầu phụng", ông miêu tả tình cảm thế này:

“Tay mềm yếu, Rượu Hoàng Đằng, Thành xuân sắc, liễu xanh tường. Gió đông ác, Ân tình bạc, Nỗi lòng buồn bã, Tháng năm tan tác. Sai! Sai! Sai!
Xuân như cũ, Người hao gầy, Khăn lụa hồng đẫm lệ hoen. Hoa đào rơi, Bến vắng lặng, Núi thề còn đây, Thư tình khó đề. Đừng! Đừng! Đừng!”

Một lòng sầu muộn, mấy năm chia lìa. Sai sai sai! Núi thề còn đó, thư tình khó ngỏ. Đừng đừng đừng!

Hóa ra tình yêu xưa nay đều là như thế, không phải là “Sai sai sai!” thì là “Đừng đừng đừng!” Có tương tư vô vọng như thế, mới có thơ tình thuần mỹ như thế, thảo nào được người đời truyền tụng.

Tuy nhiên, Thương Ương Gia Thố rốt cuộc chẳng phải là Lục Du, Ngài không có vẻ khoát đạt gửi tình vào non nước như thế, Tây Tạng cũng không có hoàn cảnh chính trị thông thoáng như thế của Trung Nguyên. Lục Du có thể tùy ý cưỡi một chú lừa còm, một túi thơ, một bầu rượu, bèn có thể lưu lạc chân trời, chẳng quản trời long đất lở, nhân gian buồn vui!

Nhưng Ngài không thể!

Ngài là Phật sống, là linh hồn của Tây Tạng, là lãnh tụ tinh thần của Tây Tạng. Trên người Ngài, gánh vác quá nhiều vinh nhục và mong đợi, quá nhiều sứ mệnh và hoài bão, khiến Ngài không thể hít thở, không thể vùng vẫy thoát ra.

(Các bài thơ, từ "Kiến dữ bất kiến" và "Thoa đầu phụng" sử dụng bản dịch có sẵn trên mạng)

(Tử Phi)

Bất phụ Như Lai bất phụ khanh




Tằng lự đa tình tổn phạm hành,
Nhập sơn hựu khủng biệt khuynh thành.
Thế gian an đắc song toàn pháp,
Bất phụ Như Lai bất phụ khanh.

Đọc Thương Ương Gia Thố, phải nấu trà đậm, đốt hương Tạng, để trà đặc sôi sục trên lò đất đỏ, hương Tạng sực nức lan tỏa khắp nhà, vẻ hoa mỹ và đau buồn của thơ ca cũng theo mùi hương chảy tràn bốn phía. Lúc đó, mới có thể hiểu được thiền tông và bi thương trong thơ, chạm đến nỗi nhớ da diết của nhà thơ.

Trà, nhất định phải là trà thanh khoa của Tây Tạng, mang sức lực và sinh khí vô hạn. Hương thì dùng hương Tạng, trong kinh điển Phật giáo, hương thường dùng để ví với đức trì giới của người tu hành, là vật may mắn phải có của người tu hành muốn thành tựu chân ngôn, xông hương rộng khắp sẽ thanh tịnh nghiệp chướng thù oán...

Trong “Giới Đức Hương Kinh”, Phật Đà nói với A Nan, chỉ có hương thơm của trì giới không chịu ảnh hưởng của gió thuận hay nghịch, có thể xông khắp mười phương. Còn trong “Lục Tổ Đàn Kinh”, cũng dùng hương để ví với ngũ phần pháp thân, gọi là “ngũ phần pháp thân hương”.

Bài thơ này, nhất định phải tắm gội hương Tạng, bầu bạn Phạm âm, mới có thể lĩnh hội được cảnh giới của nó.

“Tằng lự đa tình tổn phạm hành, Nhập sơn hựu khủng biệt khuynh thành. Thế gian an đắc song toàn pháp, Bất phụ Như Lai bất phụ khanh.”

Đọc kỹ, có chỗ giống “Xứ Tuyết” dưới ngòi bút của Yasunari Kawabata, bi ai, tĩnh mịch, diễm lệ, khắc nghiệt, mang tượng trưng và ý vị của Thiền tông, tuôn chảy vẻ đẹp của bi thương.

Tôi nghĩ, Kawabata năm xưa chắc cũng đã đọc thơ của Thương Ương Gia Thố, vì vậy mới viết được câu chữ hoa lệ mà bi thương dường này.

Bài thơ này, cũng có người dịch thành: “Tự tàm đa tình ô phạm hành, Nhập sơn hựu khủng ngộ khuynh thành. Thế gian na đắc song toàn pháp, Bất phụ Như Lai bất phụ khanh?”

Bản dịch trước là tự thuật, bản dịch sau đã có đôi chút ý nghi vấn. So sánh với nhau, bản trước từ ngữ hay hơn, nhưng câu hỏi của bản sau lại có một ý vị riêng.

Thương Ương Gia Thố, Ngài vốn là một vị Phật sống tu hành, lại yêu một cô gái ngoài đời, tình yêu này, vừa bắt đầu đã là sai.

Nước có phép nước, nhà có phép nhà, tăng nhân có giới luật của tăng nhân. Bắt đầu từ thời Tùng Tán Cán Bố, đã có “Thập Thiện Kinh” quy định tu vi. Trong đó ở phần “Thập Giới” đã quy định rõ ràng: “Bất sát, bất đạo, bất dâm, bất lưỡng thiệt, bất ác khẩu, bất vọng ngôn, bất ỷ ngữ, bất tham, bất sân, bất si.” (Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói hai lời, không nói lời ác hại, không nói xằng bậy, không nói lời thêu dệt, không tham lam, không giận dữ, không si mê)

Giới luật cứng rắn của Thập Giới, trong đó có một điều là: Bất dâm (Không tà dâm).

Thương Ương Gia Thố, Ngài là Phật sống, nếu Ngài cùng người phàm yêu nhau, đó chính là “dâm”.

Đáng buồn thay, vốn là một lãng tử đa tình, một ngày kia bị nhận định là Phật sống, tức thì cả tư cách yêu một người cũng không có!

Phật sống như vậy, giới luật như vậy, dù là thành Phật lại có ích gì!

Ngài cũng từng muốn từ bỏ, muốn quên cô gái ấy. Ngài cầu xin Phật pháp cứu giúp, lật sách kinh, niệm kinh văn, càng niệm, trong lòng càng rối loạn. Là kinh rối loạn, hay là tâm rối loạn?

Ngài dứt khoát đặt sách kinh xuống, xoay kinh luân, kinh luân làm bằng bạc ròng xoay hết một vòng lại một vòng, Ngài biết, chuyển kinh luân xoay một vòng, sẽ bằng thành kính niệm kinh một trăm lần, Ngài xoay kinh luân hết lần này đến lần khác, chỉ muốn cứu rỗi linh hồn mình.

Bồ Đề Sư Tử Thượng Sư dạy: “Công đức xoay chuyển kinh luân, nếu xoay một vòng, tức là bằng tụng niệm “Đại Tạng Kinh” một lần; nếu xoay hai vòng, bằng tụng niệm tất cả kinh Phật; nếu xoay ba vòng, có thể tiêu trừ tất cả tội chướng từ sở thân, khẩu, ý; nếu xoay mười vòng, có thể tiêu trừ tội chướng như Tu Di Sơn Vương.”

Chuyển kinh luân xoay nhanh, kinh văn lần lượt lướt qua, Phật pháp vô biên, mênh mênh mang mang, nhưng Ngài dần dần phát hiện, bản thân khổ sở cầu xin trước Đức Phật, không phải vì siêu thoát, lại chỉ vì chạm được ngón tay nàng vuốt qua kinh luân.

Cuối cùng, trong đàn hương ấy, trong Phạm âm ấy, Ngài từ từ mở mắt, hình bóng của nàng dâng lên đầy mắt đầy tim.

Kinh Phật cho Ngài biết, đây là tâm ma, ma do tâm sinh, cần chặt đứt tơ tình, một lòng hướng Phật.

Thế nhưng, trong lòng Ngài dần dần hiện lên một cô gái mắt sáng cười tươi, từng nét chau mày mỉm miệng của nàng, từng cử động của nàng…

——Ngài không thể không tưởng nhớ.

Tình yêu chính là ma chướng, trong khoảnh khắc đã đánh tan tu hành khổ tâm mấy mươi năm của Ngài.

Ngài cuối cùng mở mắt. Tâm của Ngài đã rối loạn. Ngài rốt cuộc vẫn là đã khuất phục, đã lùi lại, đã thỏa hiệp.

Ngài đã yêu, yêu một cách không thể kìm chế, tình yêu ấy điên cuồng tuyệt vọng, tình yêu ấy bất chấp thân phận và địa vị.

Cũng chỉ có tình yêu nồng nàn tuyệt vọng như thế, mới có thể viết ra bài thơ nóng bỏng đau xót như thế, không có cho đi, thì chẳng có nhận lại.


(Tử Phi)

Âm dương cách trở khỏi nặng lòng


Một là đừng gặp gỡ, để khỏi quyến luyến nhau.
Hai là đừng quen biết, để khỏi tương tư nhiều.
Ba là đừng bầu bạn, đỡ vương mang dây nợ.
Bốn là đừng tiếc nhớ, khỏi hoài niệm đêm thâu.
Năm là đừng yêu nhau, khỏi lỡ mai đoạn tuyệt.
Sáu là đừng chạm mặt, để khỏi phải tương phùng.
Bảy là đừng hiểu lầm, để khỏi sinh chia rẽ.
Tám là đừng thề hứa, để khỏi phải dùng dằng.
Chín là đừng cậy trông, để khỏi thành phụ thuộc.
Mười là đừng tái ước, để khỏi phải bên nhau.
Nhưng vừa gặp đã nên quen biết, mà gặp cũng như không.
Chỉ muốn cùng người quyết tuyệt, âm dương cách trở khỏi nặng lòng.
(Bản dịch thơ trên mạng)


Đọc thơ tình thuần mỹ như vậy, nên chọn một đêm mưa, pha một ấm trà xanh, làn khói bảng lảng, mưa rơi rả rích, mấy tiếng nhạn kêu, chầm chậm tô vẽ ra ý thơ tuyệt mỹ.

Hoặc là, vào một ngày đông lạnh lẽo tuyết rơi, trên mặt đất phủ một tầng tuyết dày, hâm một hũ rượu ngon, vừa uống vừa hát, nhởn nhơ nhàn nhã đọc thơ, cũng cảm khái, cũng than thở, cũng ngẫu hứng đàn tấu một khúc Đông Phong Phá. Trong say sưa mê ly, ngắm tuyết bay dưới trăng, giọt giọt xót xa, nghe trên chín tầng mây, ai đó ngâm nga ca dao âu sầu?

Cứ thế đọc tiếp từng bài từng bài thơ cổ xưa, ngoảnh đầu lại, đã là trăm năm.

“Một là đừng gặp gỡ, để khỏi quyến luyến nhau. Hai là đừng quen biết, để khỏi tương tư nhiều.”

Vừa gặp gỡ, đã quyến luyến. Vừa quen biết, đã tương tư.

Làm sao cho ta gặp được người?

Là ở đầu phố, ở cuối ngõ, nơi bến đò, trên đường đi, là tại một ngõ nhỏ lát đá phiến xanh nào đó, trên trời mưa bụi mông lung bay, dưới đất gió nhẹ thổi, trong không khí tràn đầy mùi cỏ xanh như có như không.

Nàng đã đến, váy dài vải bông trắng tinh, tóc dài phơ phất, cầm một chiếc ô vải dầu, lẻ loi mà cao ngạo đi qua.

Chàng lúc đó, đang ở trên đường.

Chàng vốn là một lữ khách cô độc, cũng từng yêu, cũng từng hận, bước chân gấp gáp, hành lý nặng nề, đường đi gian khó, dọc đường đã thưởng thức phong cảnh ven đường, cũng đã nếm đủ nỗi tịch mịch của hành trình.

Chính là vào buổi chiều trời mưa ấy, mưa nhỏ tí tách trên phiến đá xanh, hai người gặp nhau.

Nàng là một cô gái cao ngạo như thế, cao ngạo và cố chấp cả đời. Chàng là một lữ khách cô độc như thế, dáng vẻ vội vã, chưa từng lưu luyến một người con gái nào.

Cô độc của chàng chạm trán lẻ loi của nàng, thận trọng của nàng đụng phải trầm mặc của chàng. Không cần lời lẽ nào khác, chỉ là nhìn nhau như thế. Đây chính là tình yêu vậy.

“Ba là đừng bầu bạn, đỡ vương mang dây nợ. Bốn là đừng tiếc nhớ, khỏi hoài niệm đêm thâu.”

Chàng vốn là một lữ khách cô độc, lênh đênh như bèo dạt trên biển lớn, nửa đời phiêu bạt, lưu lạc chân trời. Nàng lại là cô gái rất mực trầm tĩnh, chỉ khát khao bình yên và vĩnh hằng.

Hai người, giống như chân trời góc biển, bất kể quen nhau, biết nhau, hay là yêu nhau, định sẵn phải chia lìa.

Đã biết, tình yêu này vừa bắt đầu đã là sai, thế thì, dứt khoát vừa bắt đầu liền từ bỏ. Khoảnh khắc cùng nàng gặp gỡ đó, chàng dứt khoát quay đầu đi, không nhìn nàng. Đúng thế, không có bắt đầu thì không có kết thúc, không chạm mặt, sẽ không tương phùng, không yêu nhau, sẽ không đoạn tuyệt.

Mối tình mênh mang này, vừa gặp gỡ, đã là vĩnh biệt.

“Chín là đừng cậy trông, để khỏi thành phụ thuộc. Mười là đừng tái ước, để khỏi phải bên nhau.”

Thế nhưng, duyên phận như vậy, trong cõi sâu xa tự có vận mệnh, hai người cuối cùng vẫn gặp nhau.

Chàng rốt cuộc vẫn không thể trốn tránh, hai người vẫn gặp nhau như thế, vẫn nhìn nhau như thế, vẫn biết nhau như thế, vẫn quen nhau như thế, vẫn yêu nhau như thế.

Đã gặp gỡ, đã quyến luyến. Đã quen biết, đã tương tư.

Đã bầu bạn, đã mang nợ. Đã tiếc nhớ, đã hoài niệm.

Đã yêu nhau, đã đoạn tuyệt. Đã chạm mặt, đã tương phùng.

Đã hiểu lầm, đã chia rẽ. Đã thề hứa, đã dùng dằng.

Hóa ra, nói không gặp là giả, sớm đã lún sâu trong tình yêu là thật. Không gặp, là vì không yêu; không yêu, là vì không tổn thương; không tổn thương, là vì yêu vĩnh viễn.

Khó trách trong câu chữ biểu lộ ra nỗi cảm thương như vậy, giữa lời thơ có uất ức như vậy. Tình yêu này, vốn vừa bắt đầu đã là sai! Yêu đến sâu đậm, mới biết “Chỉ muốn cùng người quyết tuyệt, âm dương cách trở khỏi nặng lòng.”

Không chịu dễ dàng gặp gỡ, không chịu dễ dàng quyến luyến, không chịu dễ dàng quen biết, không chịu dễ dàng tương tư, không chịu dễ dàng bầu bạn, không chịu dễ dàng mang nợ, cũng không chịu dễ dàng yêu nhau, cũng không chịu dễ dàng phụ bạc. Tình yêu triền miên trùng lặp như vậy, mới có đau thương thống khổ vương vấn như vậy. Đây, chính là tình yêu dưới ngòi bút Thương Ương Gia Thố.

Tình yêu của Thương Ương Gia Thố, là một sự gìn giữ vĩnh viễn, bất kể tương lai có bao xa.

Vĩnh viễn của vĩnh viễn có bao xa?

Là chân trời, góc biển, hay là con đường nhỏ nơi tận cùng bóng mây kia?

Dù con đường trước mặt có xa xôi đến đâu, một con đường nhỏ tùy ý dưới bóng mây, chàng tình nguyện nắm tay nàng đi tiếp.

Tôi không biết. Tôi cứ luôn ngẫm nghĩ, Thương Ương Gia Thố rốt cuộc là một đấng nam nhi thế nào, truyền kỳ như thế, lại tài hoa xuất chúng như thế. Một bài thơ tình này, kinh động người đời, như hồng nhạn bay vút qua trước mắt đã để lại ấn tượng khó quên, lưu truyền mãi ba trăm năm, chạm đến nỗi đau của biết bao người!


(Tử Phi)

Một ngày đó, một tháng đó, một năm đó



 

"Một ngày đó, ta nhắm mắt đắm chìm trong làn khói điện thờ, bất chợt nghe thấy tiếng tụng kinh của người 
 
Một tháng đó, ta xoay chuyển tất cả bánh xe cầu nguyện, không vì siêu thoát, chỉ vì chạm được ngón tay người

Một năm đó, ta dập đầu quỳ rạp trên đường núi, không vì gặp mặt, chỉ vì kề cận hơi ấm của người"

(Bản dịch thơ trên mạng)
 
 
Đọc Thương Ương Gia Thố, phải bắt đầu từ bài thơ này.

Chàng trai áo trắng hơn tuyết ấy, nhìn từ xa xa trong núi tuyết trắng xóa. Một cái bóng cô độc mà tuyệt mỹ, đó là bóng lưng của Thương Ương Gia Thố, cũng là ảnh thu nhỏ của cả Tây Tạng.

Đêm đó, tôi uống rượu mạnh, nghe nhạn kêu, trong say sưa mông lung lại đọc đến bài thơ này, nhất thời lặng im.

Đẩy cửa ra, đứng đón gió trong đêm lạnh, âm thầm tưởng nhớ cuộc tình đã tiêu tan trong gió ấy, truy điệu chàng trai đã chôn vùi trong cát bụi lịch sử ấy.

Tôi phảng phất nhìn thấy chàng, lẻ loi một mình một bóng lặng lẽ cô độc dưới ánh trăng. Trong tình yêu tuyệt vọng mà cổ xưa ấy, thời gian dường như ngưng đọng, chàng trăm ngàn lần ngoảnh nhìn, vừa xoay người, đã già đi ba trăm tuổi.

Đêm đó, không một tiếng động, vạn vật im lìm, giữa trời đất dường như chỉ có tôi và bài thơ này tồn tại, đọc xong, buồn bã như đánh mất thứ gì, ngắm gió đuổi hoa rụng, nước chảy đi xa, tất cả hoảng hốt như mộng.

Trong đêm tối lạnh lẽo vắng lặng ấy, tôi có thể cảm nhận sâu sắc nỗi cô độc của chàng. Sự bất lực của chàng, niềm bi thương của chàng, lòng dịu dàng thương trời xót người của chàng, tôi phảng phất nghe thấy tiếng ca xa xăm, ẩn hiện mà tuyệt vọng, trong chớp mắt đã xuyên qua ba trăm năm.

Tôi xoay người lại, nhìn chàng, thoáng nhìn đã là ngàn năm.

Trong hoảng hốt, nơi xa văng vẳng truyền đến bản tình ca cổ xưa, tiếng ca sâu thẳm mà quạnh quẽ, trong phút chốc đã xuyên suốt ba trăm năm.

Một màn đêm lạnh, một vầng trăng khuyết, một chàng trai cô đơn và một bài thơ tuyệt vọng.

Tình cảm quyết liệt như thế, ví như ái tình, ví như tử vong, chỉ có thể nhớ lại, không thể vãn hồi.

Trong thơ ghi lại một câu chuyện tuyệt đẹp.

Cũng là một chàng trai và một cô gái, cũng là chợt gặp nhau giữa muôn ngàn con người, giữa muôn ngàn thời điểm, cũng là bốn mắt nhìn nhau, sóng mắt lưu chuyển, cùng kinh ngạc vì vẻ diễm lệ trong khoảnh khắc.

Tình yêu, đã lặng lẽ phát sinh như thế.

Họ vốn chỉ là khách qua đường, trên đường đã đi rất xa, gió sương dọc đường, nắng gắt và mồ hôi dọc đường, chua xót và nhọc nhằn dọc đường, khiến họ đều đã rất mệt.

Sự tương ngộ của họ, cũng trong một khoảnh khắc, chỉ cần một khoảnh khắc đó, một khoảnh khắc khiến người tim đập thình thịch như thế.

Vốn chỉ là khách qua đường, cũng sẽ chẳng có câu chuyện nào.

Chẳng phải tình cờ gì, gặp lại, sau khi gặp cũng không nhiều lời, chỉ là cứ thế nhìn nhau, lưu luyến, nhìn từ xa xa. Giống như người yêu luyến ái đã lâu, sau khi gặp lại, cũng sẽ không có quá nhiều lời nói.

Đây, chính là tình yêu cổ xưa nhất.

Nếu, họ giống như tình yêu ăn liền ngày nay, không để tâm thiên trường địa cửu, chỉ để tâm đã từng có nhau, thế thì đơn giản.

Người yêu ơi, đừng hỏi ta yêu người bao lâu. Ta chỉ là hiện tại yêu người, chỉ thế mà thôi.

Ta chỉ có thể cùng người đi hết một chặng đường này, một cơn mưa gió, một cuộc tình duyên, một lần ly biệt. Sau này của sau này của sau này, ta không thể đi cùng người nữa.

Không, đừng khóc. Cũng đừng nói yêu ta. Vào giây phút xa cách, hãy để chúng ta ôm nhau thật chặt, ít ra thời khắc ấy, ta yêu người, người yêu ta.

Họ nếu thật sự bèo nước gặp nhau, yêu nhau tại đây, yêu xong liền ra đi, quên nhau chốn giang hồ, thế thì cũng không có những vương vấn về sau kia, dưới bầu trời cũng thiếu đi một cuộc tình đời đời kiếp kiếp truyền tụng như thế!

Không, đây chẳng phải tình yêu họ muốn.

Đã không thể cùng người thương ở bên nhau, thế thì, chàng thà rằng chọn lựa cái chết. Hãy để ta dùng máu và thép, bảo vệ tôn nghiêm tình yêu thánh khiết này của ta.

Vào giây phút sinh mệnh chàng tan biến, mối tình này cũng vĩnh viễn được định hình, trở thành tình yêu vô song của đất Tạng vĩnh hằng.

Có lẽ, đây cũng giống như những gì miêu tả trong bài thơ tình ấy.

“Một năm đó, ta dập đầu quỳ rạp trên đường núi, không vì gặp mặt, chỉ vì kề cận hơi ấm của người”

Tôi phảng phất nhìn thấy chàng, thành kính đi quanh núi thánh Kailash uy nghiêm, vái hồ thánh Manasarovar mênh mông, lạy tháp Phật thần bí, nằm rạp xuống đất, tìm khắp trên dưới, dập đầu trên đường núi, không vì lễ bái, chỉ vì có thể cùng Mã Cát A Mễ gặp nhau lần nữa.

Chàng phủ phục trên đường núi, chịu đựng bùn đất lầy lội, đá sỏi sắc nhọn, mặt trời chói chang, chàng đốt nén hương Tạng, thành kính cầu khấn, cũng không phải vì triều kiến, chỉ vì có thể kề cận hơi ấm của nàng.

Mã Cát A Mễ, nàng hiện giờ đang ở nơi nào?

Con đường phía trước vẫn còn rất xa, đường núi thăm thẳm, nàng có biết lúc này ta đang tưởng nhớ nàng hay không?

Tuy con đường tình yêu rất gập ghềnh, cũng rất dài, thế nhưng, ta vẫn quyết định kiên trì đi tiếp. Bất kể có bao xa, ta sẽ luôn cùng nàng đi tiếp, dù đến giây phút cuối cùng của sinh mệnh, ta cũng sẽ luôn bầu bạn bên nàng, không rời không bỏ.

Xin nàng tin ta. Ta sẽ cùng nàng leo lên núi thánh Kailash, vì nàng hái đóa hoa cách tang tươi đẹp nhất trên núi tuyết. Ta sẽ cùng nàng đến hồ thánh Manasarovar, vì nàng vốc lên ngụm nước hồ mát lạnh nhất.

Mã Cát A Mễ, xin hãy tin ta.

Thơ ca đau thấu tâm can dường ấy, tình yêu tuyệt vọng dường ấy, cũng chỉ có ngòi bút của Thương Ương Gia Thố mới viết ra được.

Thương Ương Gia Thố, từ trái sang phải, khe khẽ đọc lên: Thương Ương Gia Thố.

Chính là cái tên này.

Một ngày đó, một tháng đó, một năm đó.

Đó là câu chuyện cổ tích đẹp đẽ nhất của ba trăm năm trước.
 
(Tử Phi)