Đồng lòng kết mối lương duyên,
Đời này tuy ngắn, triền miên ý tình.
Hẹn nhau ở kiếp lai sinh,
Thiếu niên như ngọc gặp mình là ta.
Thương Ương Gia Thố, ba trăm năm sau, Ngài phải chăng vẫn còn nhớ buổi
chiều hôm đó, nàng tha thướt đi qua, lạnh lùng mà diễm lệ, trong khoảnh
khắc đôi mắt Ngài như bị châm đau nhói?
Ngài vừa muốn tìm hiểu tung tích của nàng, thì nàng sớm đã nhẹ nhàng đi xa, phảng phất một ảo ảnh, lại phảng phất một giấc mơ.
Ngài buồn bã hụt hẫng, giống như đối diện một cảnh đẹp tuyệt trần,
giống như sen đỏ nở rộ trên đỉnh núi tuyết, cũng giống như ngọn lửa cháy
rực trên núi băng cao ngất, sắc mặt đỏ ửng ấy, nghiêng cả cố quốc, say
cả hồng nhan.
Cảm giác kỳ diệu ấy chỉ có thể lĩnh hội bằng tâm ý, không thể diễn tả bằng ngôn ngữ. Đó là cảm giác của luyến ái.
Lúc này, một nhà sư gầy gò cao dong dỏng bước đến, ông muốn cùng Ngài
bàn luận Phật học, bàn luận tín ngưỡng, bàn luận ý nghĩa của sinh mệnh.
Ngài và ông đứng dưới tường thành, hai người đứng yên hồi lâu, ánh nắng
chênh chếch chiếu xuống, hai cái bóng nhàn nhạt trên đất tuyết.
Nhà sư lạnh lùng chăm chú nhìn Ngài, nói: “Hồng nhan chớp mắt đã là xương khô, đây là ma chướng, đây là tâm ma.”
Ngài vâng vâng dạ dạ, đành lật giở kinh Phật, thế nhưng trong Phạn âm
du dương, từng chút từng chút, lại toàn là bóng dáng của nàng.
Thương Ương Gia Thố, đúng vậy, Ngài trốn không thoát, đây chính là số mệnh của Ngài, luân hồi của Ngài.
Trên bánh xe vận mệnh, sớm đã điêu khắc vương vấn giữa hai người, số
mệnh của hai người định sẵn phải gặp nhau. Rất nhiều kiếp, hai người đi
lướt qua nhau, chính là trần duyên đẹp buồn dường ấy.
Một kiếp
đó, Ngài là Tam thiếu gia nhà họ Tạ, còn nàng là ả cáo đỏ chuyên tâm tu
luyện ở núi sau. Ngài đứng trên phiến đá xanh sang sảng đọc thơ, nàng ở
trong rừng trúc lặng lẽ đăm đăm nhìn Ngài. Sau đó, Ngài bảng vàng đề
tên, giương cờ gióng trống vội đến kinh thành làm phò mã, còn nàng thì
âm thầm khóc trong rừng trúc.
Cũng là vào lần ấy, bên đèn xanh
tượng Phật, nàng khổ sở van xin một đoạn trần duyên, mong mỏi có thể
cùng Ngài gặp nhau lần nữa.
Lại một kiếp, Ngài là lữ khách lang thang, còn nàng, là cô gái che chiếc ô giấy dầu nơi ngõ nhỏ.
Chốn rừng rậm cổ xưa xuất hiện hai con đường, hai người, đã gặp nhau lần nữa ở ngã giao thoa của số mệnh.
Hai người vốn là khách đi đường, kẻ chọn lưu lạc, kẻ chọn cố thủ. Thế nhưng, hai người đã yêu nhau như thế.
Ly biệt rốt cuộc phải đến, bắt đầu, đã hàm nghĩa kết thúc.
Trước khi đi, Ngài thắm thiết nhìn nàng lần cuối, không thể cất bước.
Lúc đó, ánh trăng từ trên trời tưới xuống, hoa tuyết giăng che trời
đất, lả tả phất phới, xa xa truyền đến tiếng tiêu thần bí, giữa trời đất
một vùng điêu tàn.
Dưới ánh trăng, nàng buồn bã mỉm cười, si
mê nhìn Ngài, nàng nguyện ý ở dưới trăng vì Ngài múa một điệu múa cuối
cùng, chỉ vì Ngài múa một điệu múa cuối cùng này.
Nàng múa
lượn trong tuyết, thân ảnh thướt tha, chiếu rọi ánh trăng như tuyết. Ánh
trăng tựa nước, người tựa sen đỏ, tất cả mơ hồ như giấc mộng.
Ngài cũng nhẹ nhàng ngồi trên tảng đá xanh, gảy cây đàn cổ, cuối cùng vì
nàng diễn tấu một khúc, chỉ diễn tấu vì một mình nàng. Đây là một khúc
nhạc thần bí khôn lường, hôm nay Ngài đơn độc vì nàng diễn tấu một lần,
kiếp này cũng chỉ diễn tấu một lần này thôi, khúc nhạc đã dứt, âm thanh
này từ đây tuyệt tích!
Dư âm quanh quẩn, bảy ngày không tan. Tiếng đàn thần bí này, chỉ sẽ vì một mình nàng vang vọng.
Không biết lại trải qua luân hồi mấy đời mấy kiếp, vương vấn mấy kiếp,
cuối cùng, Ngài là một lữ khách, lại ngủ nhờ trong gian nhà màu xanh ấy.
Vào đêm trăng đó, lại đọc được câu chuyện tình yêu ghi chép trên bia
đá, tựa hồ có cảm ngộ, nhưng trước sau không thể tham ngộ.
Đêm
đó, Ngài dạo bước ra ngoài, trong màn đêm mông lung, lại nhìn thấy một
cô gái, kề bên đèn xanh nến đỏ, lặng lẽ giữ suông một đoạn tình duyên.
Dưới ánh đèn vàng vọt, bóng lưng mảnh mai và ánh mắt quật cường của
nàng, khiến Ngài thốt nhiên hoảng hốt.
Một vạn năm sau, Ngài vẫn nhớ được khoảnh khắc ấy, nàng chăm chú nhìn Ngài, giọt lệ tinh khiết rưng rưng trong mắt.
Ngài bỗng nhớ lại kiếp trước của hai người, rất nhiều buổi chiều xa
xưa, Ngài đã nắm tay nàng, đi qua bãi cỏ hoang vu, xuyên qua hành lang
hun hút cô độc, giẫm lên rừng cây rậm rạp như thế.
Người con gái đau lòng dưới trăng, vì Ngài đêm đêm cầu nguyện kia, chính là nàng sao?
Ngài ngẩn ngơ đứng đó, cứ thế nhìn nàng từng bước từng bước đi về phía
Ngài, chỉ là khoảnh khắc, lại tưởng chừng đã trải qua hàng thế kỷ.
Hoa tuyết tung bay, rối rít chờn vờn trong gió lớn, tựa như cánh bướm tuyệt vọng xoay vòng trước gió.
Hồng Hoàn, là nàng ư?
Trong sương mù dày đặc, một con cáo đỏ, chạy băng băng giữa hoang dã.
Ngài đẩy cửa bước ra, vào lúc thảng thốt Ngài đã lệ rơi đầm đìa, những
giọt nước mắt tuôn chảy đó, đã lắng đọng trần duyên mấy đời mấy kiếp.
Hồng Hoàn?
(Tử Phi)
Showing posts with label Thương Ương Gia Thố. Show all posts
Showing posts with label Thương Ương Gia Thố. Show all posts
22.4.14
28.12.13
Trích "Gặp lại chốn hồng trần sâu nhất", quyển 6
Tin rằng tất cả mọi người đều từng xao xuyến bởi một bài hát, vì giai điệu của nó, vì lời ca nào đó, hoặc chẳng có duyên do, chỉ là cảm động đơn thuần. Nhớ nhung một người, hay hoài tưởng một người, luôn không nhịn được tự hỏi, rốt cuộc phải lúc nào mới có thể biển người gặp gỡ? Đúng vậy, biển người mênh mang, chúng ta sơ ý lạc mất nhau, một ngày kia đôi bên mưa gió quay về, phải chăng dung nhan đã thay đổi? Phải chăng vẫn có thể nắm được tay nhau?
Đêm nay tình cờ nghe được
bài hát “Hóa ra anh cũng ở đây” của Lưu Nhược Anh, vì sự trùng hợp của một
câu ca từ, khiến tôi cảm động không thôi. “Gặp nhau trong biển người
ngàn núi muôn sông, hóa ra anh cũng ở đây.” Tôi biết không nhiều về Lưu Nhược Anh, nhưng từng nghe nói, cô là một cô
gái cảm tính, đã viết nhiều câu văn cảm tính. Sau đó xem phim “Dòng chảy thời gian” về Ô Trấn, bị nó
lay động sâu sắc. Chỉ cảm thấy cô có một vẻ đẹp gột hết phấn son, giống như cổ
trấn vùng sông nước đó, bình tĩnh một cách từ tốn dưới mặt trời lặn.
Cho em lắng đọng bụi trần,
Chôn vùi dĩ vãng âm thầm ngày xưa.
Từ biển, dãi gió dầm mưa,
Đến nơi sa mạc thớt thưa bóng người.
Ẩn tình đã rõ mười mươi,
Muôn ngàn ngôn ngữ không lời nói ra.
Yêu là trời đất bao la,
Hóa ra anh ở bên ta chốn này.
Người xưa giờ ở đâu đây,
Phải chăng chỉ có sum vầy trong mơ.
Tận sức liễu yếu đào tơ,
Đổi về hồi ức bâng quơ nửa đời.
Mắt anh khát vọng ngời ngời,
Tâm tình cứu rỗi em thời trông mong.
Biển người ngàn núi muôn sông,
Hóa ra lại gặp anh trong chốn này.
Trích "Gặp lại chốn hồng trần sâu nhất", quyển 2
Nhà thơ Đài Loan Tịch Mộ Dung từng có một bài thơ, “Bến đò”.
Cho em nắm lấy tay chàng,
Giã từ, rồi lại nhẹ nhàng rút tay.
Nhớ nhung bén rễ từ đây,
Lâng lâng như ở trên mây bồng bềnh.
Núi sông vốn dĩ trang nghiêm,
Vì ly biệt, bỗng trở nên dịu dàng.
Cho em nắm lấy tay chàng,
Giã từ, rồi lại nhẹ nhàng rút tay.
Tháng năm ngưng đọng từ đây,
Trong tim lệ nóng sánh tày sông sâu.
Muôn vàn bất lực nhìn nhau,
Bến đò trống trải, tìm đâu hoa cài.
Đem lời chúc phúc tặng ai,
Ngày mai, hai đứa ở hai phương trời…
Bến đò của Tịch
Mộ Dung, là bến đò của ly biệt, tràn đầy tình cảm nhớ mãi không quên và tâm ý
chia tay lưu luyến. Những năm qua, không biết đã cảm động bao nhiêu người si
tâm không đổi vì tình yêu. Cũng không biết bắt đầu từ lúc nào, tôi đã thích bến
đò, bến đò của đời người, bến đò của năm tháng. Thuyền bè qua lại xuất phát từ
nơi này, lại từ phương xa trở về nơi này. Do đó, gặp gỡ cũng là bến đò, ly biệt
cũng là bến đò, duyên đến cũng là bến đò, duyên đi vẫn là bến đò. Hai chữ bến
đò, ẩn chứa quá nhiều tình cảnh đời người, ly hợp tụ tan. Bến đò của tôi, có lẽ
là thanh đạm, sẽ không có nhiều khách qua đường lai vãng, chỉ ngẫu nhiên có kẻ
lênh đênh trôi giạt đi ngang, mây nhạt gió nhẹ.
(Bạch Lạc Mai)
(Bạch Lạc Mai)
19.11.13
Chẳng mong lúc sống có biệt ly (4)
Vị Phật sống lén ra khỏi cung Potala dạo chơi vừa trở về chốn tường
cao, liến nhốt mình vào Phật đường không thấy ánh mặt trời. Cửa lớn nặng
nề khép chặt, liên tiếp mấy ngày đều không mở ra. Trong Phật đường bầu
bạn với Ngài chỉ có tượng Phật vĩnh viễn im lặng sau kinh phướn đẹp đẽ.
Bơ trong ngọn đèn cháy hết, đàn hương trong lư hương cũng đốt
hết, Ngài, đã làm lại Tsangyang Gyatso, trong bóng tối giơ tay không
thấy năm ngón, hết lần này đến lần khác lặp lại các động tác đứng lên,
quỳ bái, rạp lạy sát đất, không biết đã dập đầu bao nhiêu cái. Mặt đất
băng lạnh được thân thể trẻ trung của Ngài chườm nóng, nhưng trái tim
nóng bỏng của Ngài lại không được mặt đất cứng rắn thấm lạnh, ngọn lửa
Ban Nhược làm Ngài khốn đốn kia ngược lại càng cháy càng mạnh. Trong
đám lửa trước sau có một thiếu nữ ngoảnh nhìn mỉm cười, từ đôi mắt trong
sáng của nàng có nước mắt rơi xuống, nàng nhìn Dangsang Wangpo thuộc về
núi Nala, ánh mắt dịu dàng giống như đôi tay chờ đợi đã lâu, chầm chậm
chìa về phía Ngài, muốn dẫn dắt Ngài, đã lạc lối quá lâu, đến trên con
đường trở về quê nhà.
Chẳng ai biết dụng ý thật sự của Phật sống, chính vào lúc tất cả mọi người đều càng thêm thành kính càng thêm sùng bái vì sự tự ước thúc nghiêm khắc và tự trách lãnh đạm của Ngài, cánh cửa lớn đóng kín của Phật đường mở ra. Phật sống từ trong cửa đi ra mệt mỏi mà bình tĩnh, Ngài không giải thích gì cả, chỉ kiên định cự tuyệt nghi thức thọ giới cụ túc sắp sửa tiến hành. Giới cụ túc gồm năm thiên bảy tụ tổng cộng hai trăm năm mươi điều, chia làm ba-la-di, tăng tàn, thâu-lan-giá, ba-dật-đề, đề-xá-ni, ác tác, ác thuyết. Sau khi thọ giới, mới có thể trở thành tỳ khưu và tỳ khưu ni thật sự. Chẳng ai biết Phật sống vì sao đột nhiên đưa ra quyết định đáng sợ như thế. Các Thượng sư lo sợ nghi hoặc mời Ban Thiền Ngạch Nhĩ Đức Ni đến, nhưng sau khi Phật sống Ban Thiền đến cung Potala, Tsangyang Gyatso trẻ tuổi càng nghiêm trọng hơn thỉnh cầu Phật sống Ban Thiền thu hồi giới sa di lúc trước đã trao cho Ngài.
Dưới bầu trời xanh thẳm trong sáng, xưa nay chưa từng có hành động bất kính đối với Thần Phật như vậy xảy ra. Buổi chiều mất tích đó lẽ đương nhiên trở thành đối tượng bị hoài nghi và điều tra, nhưng ngoài Dorje, không ai biết buổi chiều hôm ấy đã xảy ra chuyện gì, cho dù là Dorje cũng chẳng qua như hiểu mà không hiểu, nói không rõ lắm nguyên nhân thật sự Phật sống làm như vậy. Chẳng lẽ chính là vì thiếu nữ Dawa Dolma tốt bụng kia sao? Vì vẻ đẹp xao xuyến lòng người của nàng? Hay là vì khay bánh điểm tâm ngon lành ấy? Nhóc Dorje càng nghĩ càng thấy không ổn, nó rất muốn làm rõ vì sao Phật sống lại vào thời điểm mấu chốt cuối cùng cự tuyệt vinh dự cao nhất, phụ lòng thành kính của muôn ngàn chúng sinh.
Tiểu Lạt Ma một lần nữa trốn ra cung Potala đi thẳng đến phố Barkhor, ở nơi lần trước tình cờ gặp thiếu nữ đó kiên trì tìm kiếm chờ đợi ba ngày, cũng không tìm được nàng. Lúc bụng đói cồn cào, nó không có tiền mua đồ lót dạ, chỉ có thể trơ mắt nhìn bánh điểm tâm thơm phưng phức nuốt nướt bọt ừng ực. Cô gái bán rượu bên quán cơm nhỏ nhìn thấy vẻ thèm thuồng trên mặt chú nhóc, cười nhẹ vẫy vẫy tay với Dorje, đưa cho nó một miếng bánh bơ bốc khói. Dorje nhồm nhoàm ăn hết một miếng bánh lớn, lại nhìn thấy trên mặt cô gái này mang máng có hình bóng của thiếu nữ đó. Nó đánh bạo hỏi chị, cô gái lại bỗng chốc vành mắt đỏ hoe, cúi đầu xuống, có nước mắt từ trong hốc mắt rơi xuống.
Em gái Dawa Dolma của chị mấy ngày trước đã qua đời, nhưng nàng không thể cử hành thiên táng giống như những người thân thích đã chết khác, mà là bị chôn dưới chân núi hoang vu lạnh lẽo ngoài thành Lhasa. Trong lòng người dân Tạng, chỉ có người chết bởi bị giết hoặc tự sát mới thổ táng, kẻ bị chôn vào bùn đất mãi mãi cũng không thể chuyển thế. Dorje khẩn thiết hỏi, cô gái khóc rất lâu, mới thận trọng nói với Dorje, Dawa Dolma khi chết tội nghiệt sâu nặng, nàng không phải bệnh chết, mà là dùng một con dao sắc nhọn đâm vào ngực, tự mình giết chết chính mình.
Dorje hô lên kinh ngạc thay đổi sắc mặt: “Vì sao!”
Nước mắt của cô gái không ngừng được, đau khổ trong lòng dồn nén đến khó chịu, chị như trút ra kể hết với chú nhóc trước mặt. Em gái Dawa Dolma đã định hôn ước, ngay vào mấy ngày trước lễ cưới nàng đột nhiên nói với cha mẹ không bằng lòng gả cho chồng chưa cưới của mình. Chẳng ai biết vì sao nàng có quyết định không thể hiểu nổi này, cha mẹ khuyên can mãi không được nổi giận đánh đập thậm tệ đứa con gái cứng cỏi của họ, người chị thương em gái lúc đêm khuya đưa thuốc trị thương đến kiên trì gạn hỏi, nhưng nghe được lại là nguyên nhân càng không sao hiểu nổi. Phản kháng kiên định không thể thay đổi quyết tâm gả con gái của cha mẹ, Dawa Dolma xinh đẹp kiên định đã kết liễu mạng sống mười lăm tuổi của mình vào đêm trước lễ cưới.
Nước mắt cũng trào ra từ hốc mắt của Dorje, ngấn lệ nhòe nhoẹt khắp khuôn mặt lem luốc của nó. “Vì sao… chị ấy có nói, là vì chuyện gì…”
Cô gái dùng tay che gương mặt xinh đẹp giống như Dawa Dolma, nước mắt từ kẽ ngón tay nhỏ xuống. Đến nay chị cũng không nghĩ thông suốt là vì sao, em gái chỉ kể với chị nàng đã yêu một chàng trai, một chàng trai xa lạ tình cờ gặp gỡ trong tà dương của phố Barkhor.
Dorje về đến cung Potala bị Thiết Bổng Lạt Ma trách phạt nghiêm khắc, sau một trận đòn đau nó mới biết Phật sống đã bị đưa đến tu viện Drepung ngoài thành Lhasa. Lời nói dối và vu tội ác ý đã giống như nước triều bao trùm vị Phật sống trẻ tuổi, ở tu viện càng thâm nghiêm đó, chờ đợi Ngài sẽ là giam cầm và khuyên nhủ thuyết phục lâu dài. Nhóc Dorje nén nhịn vết thương đau nhức khắp người đi gấp đến tu viện Drepung, nhưng khi nó đuổi đến, Phật sống đã bị đưa đi Thanh Hải xa xôi.
Dưới sự chiếu cố của Bồ Tát, nhóc Dorje một thân một mình đã đi đến bên hồ Thanh Hải một cách thần kỳ, gặp được Phật sống càng có vẻ xanh gầy tuấn dật. Nghe hết chuyện Dorje kể, vị Lạt Ma trẻ tuổi đứng bên hồ vẫn lặng lẽ nhìn về nơi xa, đôi mắt sâu thẳm khép hờ, môi mím càng chặt. Ở phương hướng đôi mắt Ngài hướng đến, ngoài trăm ngàn dặm sừng sững thành Lhasa uy nghiêm, ở đó từng có một đoạn ánh dương, chiếu rọi hai người cách thế trùng phùng. Ngài gật gật đầu, thấp giọng nói: “Ta biết rồi.”
Dorje quỳ phục dưới đất, trên gương mặt non nớt đầm đìa nước mắt, nó không hiểu vì sao ngay cả mình cũng đang thương khóc, mà Phật sống trước mặt lại không động lòng đau xót, rõ ràng Ngài đã vì người con gái ấy làm nhiều việc như thế, hy sinh nhiều như thế, nhưng sau khi nghe được tin nàng chết, vì sao Ngài đến biểu cảm trên mặt cũng không thoáng thay đổi, càng không rơi một giọt nước mắt! Giữa Phật sống và Dawa Dolma rốt cuộc là nhân quả thế nào?
Hai chân Tsangyang Gyatso đứng nguyên chỗ cũ, Dangsang Wangpo lại từng bước từng bước đi đến bên hồ Thanh Hải thần thánh. Quay đầu, Ngài nhìn nhục thân lặng lẽ bất động dưới ánh nắng ấy, ngồi xổm xuống, dùng tay vốc lên một vốc nước hồ băng lạnh.
Nước hồ êm đềm như gương, trên mặt hồ soi bóng núi tuyết nơi xa và mây trắng trên trời. Giữa mây trắng có hai con chim ưng bay cao lướt qua. Giống như thuở nhỏ ngẩng đầu ngắm nhìn bầu trời, trên mặt Dangsang Wangpo nở nụ cười. Hai con chim ưng ấy là hóa thân của Bồ Tát Không Hành Mẫu, chúng từ cõi trời trên chín tầng mây bay xuống trước mặt Ngài, chúng sẽ cùng Ngài bay về núi Nala xa xôi.
Chính sử “Thánh Tổ Thực Lục” viết bằng tiếng Hán: “Năm Khang Hy thứ 45, Viện xử lý sự vụ ngoại phiên viết, Lạt Ma đóng ở Tây Ninh báo rằng, Đạt Lai Lạt Ma giả do Lhazang Khan giải đến, đi tới ngoài cửa Tây Ninh bị bệnh qua đời.”
HẾT
(Dạ Dao)
Chẳng ai biết dụng ý thật sự của Phật sống, chính vào lúc tất cả mọi người đều càng thêm thành kính càng thêm sùng bái vì sự tự ước thúc nghiêm khắc và tự trách lãnh đạm của Ngài, cánh cửa lớn đóng kín của Phật đường mở ra. Phật sống từ trong cửa đi ra mệt mỏi mà bình tĩnh, Ngài không giải thích gì cả, chỉ kiên định cự tuyệt nghi thức thọ giới cụ túc sắp sửa tiến hành. Giới cụ túc gồm năm thiên bảy tụ tổng cộng hai trăm năm mươi điều, chia làm ba-la-di, tăng tàn, thâu-lan-giá, ba-dật-đề, đề-xá-ni, ác tác, ác thuyết. Sau khi thọ giới, mới có thể trở thành tỳ khưu và tỳ khưu ni thật sự. Chẳng ai biết Phật sống vì sao đột nhiên đưa ra quyết định đáng sợ như thế. Các Thượng sư lo sợ nghi hoặc mời Ban Thiền Ngạch Nhĩ Đức Ni đến, nhưng sau khi Phật sống Ban Thiền đến cung Potala, Tsangyang Gyatso trẻ tuổi càng nghiêm trọng hơn thỉnh cầu Phật sống Ban Thiền thu hồi giới sa di lúc trước đã trao cho Ngài.
Dưới bầu trời xanh thẳm trong sáng, xưa nay chưa từng có hành động bất kính đối với Thần Phật như vậy xảy ra. Buổi chiều mất tích đó lẽ đương nhiên trở thành đối tượng bị hoài nghi và điều tra, nhưng ngoài Dorje, không ai biết buổi chiều hôm ấy đã xảy ra chuyện gì, cho dù là Dorje cũng chẳng qua như hiểu mà không hiểu, nói không rõ lắm nguyên nhân thật sự Phật sống làm như vậy. Chẳng lẽ chính là vì thiếu nữ Dawa Dolma tốt bụng kia sao? Vì vẻ đẹp xao xuyến lòng người của nàng? Hay là vì khay bánh điểm tâm ngon lành ấy? Nhóc Dorje càng nghĩ càng thấy không ổn, nó rất muốn làm rõ vì sao Phật sống lại vào thời điểm mấu chốt cuối cùng cự tuyệt vinh dự cao nhất, phụ lòng thành kính của muôn ngàn chúng sinh.
Tiểu Lạt Ma một lần nữa trốn ra cung Potala đi thẳng đến phố Barkhor, ở nơi lần trước tình cờ gặp thiếu nữ đó kiên trì tìm kiếm chờ đợi ba ngày, cũng không tìm được nàng. Lúc bụng đói cồn cào, nó không có tiền mua đồ lót dạ, chỉ có thể trơ mắt nhìn bánh điểm tâm thơm phưng phức nuốt nướt bọt ừng ực. Cô gái bán rượu bên quán cơm nhỏ nhìn thấy vẻ thèm thuồng trên mặt chú nhóc, cười nhẹ vẫy vẫy tay với Dorje, đưa cho nó một miếng bánh bơ bốc khói. Dorje nhồm nhoàm ăn hết một miếng bánh lớn, lại nhìn thấy trên mặt cô gái này mang máng có hình bóng của thiếu nữ đó. Nó đánh bạo hỏi chị, cô gái lại bỗng chốc vành mắt đỏ hoe, cúi đầu xuống, có nước mắt từ trong hốc mắt rơi xuống.
Em gái Dawa Dolma của chị mấy ngày trước đã qua đời, nhưng nàng không thể cử hành thiên táng giống như những người thân thích đã chết khác, mà là bị chôn dưới chân núi hoang vu lạnh lẽo ngoài thành Lhasa. Trong lòng người dân Tạng, chỉ có người chết bởi bị giết hoặc tự sát mới thổ táng, kẻ bị chôn vào bùn đất mãi mãi cũng không thể chuyển thế. Dorje khẩn thiết hỏi, cô gái khóc rất lâu, mới thận trọng nói với Dorje, Dawa Dolma khi chết tội nghiệt sâu nặng, nàng không phải bệnh chết, mà là dùng một con dao sắc nhọn đâm vào ngực, tự mình giết chết chính mình.
Dorje hô lên kinh ngạc thay đổi sắc mặt: “Vì sao!”
Nước mắt của cô gái không ngừng được, đau khổ trong lòng dồn nén đến khó chịu, chị như trút ra kể hết với chú nhóc trước mặt. Em gái Dawa Dolma đã định hôn ước, ngay vào mấy ngày trước lễ cưới nàng đột nhiên nói với cha mẹ không bằng lòng gả cho chồng chưa cưới của mình. Chẳng ai biết vì sao nàng có quyết định không thể hiểu nổi này, cha mẹ khuyên can mãi không được nổi giận đánh đập thậm tệ đứa con gái cứng cỏi của họ, người chị thương em gái lúc đêm khuya đưa thuốc trị thương đến kiên trì gạn hỏi, nhưng nghe được lại là nguyên nhân càng không sao hiểu nổi. Phản kháng kiên định không thể thay đổi quyết tâm gả con gái của cha mẹ, Dawa Dolma xinh đẹp kiên định đã kết liễu mạng sống mười lăm tuổi của mình vào đêm trước lễ cưới.
Nước mắt cũng trào ra từ hốc mắt của Dorje, ngấn lệ nhòe nhoẹt khắp khuôn mặt lem luốc của nó. “Vì sao… chị ấy có nói, là vì chuyện gì…”
Cô gái dùng tay che gương mặt xinh đẹp giống như Dawa Dolma, nước mắt từ kẽ ngón tay nhỏ xuống. Đến nay chị cũng không nghĩ thông suốt là vì sao, em gái chỉ kể với chị nàng đã yêu một chàng trai, một chàng trai xa lạ tình cờ gặp gỡ trong tà dương của phố Barkhor.
Dorje về đến cung Potala bị Thiết Bổng Lạt Ma trách phạt nghiêm khắc, sau một trận đòn đau nó mới biết Phật sống đã bị đưa đến tu viện Drepung ngoài thành Lhasa. Lời nói dối và vu tội ác ý đã giống như nước triều bao trùm vị Phật sống trẻ tuổi, ở tu viện càng thâm nghiêm đó, chờ đợi Ngài sẽ là giam cầm và khuyên nhủ thuyết phục lâu dài. Nhóc Dorje nén nhịn vết thương đau nhức khắp người đi gấp đến tu viện Drepung, nhưng khi nó đuổi đến, Phật sống đã bị đưa đi Thanh Hải xa xôi.
Dưới sự chiếu cố của Bồ Tát, nhóc Dorje một thân một mình đã đi đến bên hồ Thanh Hải một cách thần kỳ, gặp được Phật sống càng có vẻ xanh gầy tuấn dật. Nghe hết chuyện Dorje kể, vị Lạt Ma trẻ tuổi đứng bên hồ vẫn lặng lẽ nhìn về nơi xa, đôi mắt sâu thẳm khép hờ, môi mím càng chặt. Ở phương hướng đôi mắt Ngài hướng đến, ngoài trăm ngàn dặm sừng sững thành Lhasa uy nghiêm, ở đó từng có một đoạn ánh dương, chiếu rọi hai người cách thế trùng phùng. Ngài gật gật đầu, thấp giọng nói: “Ta biết rồi.”
Dorje quỳ phục dưới đất, trên gương mặt non nớt đầm đìa nước mắt, nó không hiểu vì sao ngay cả mình cũng đang thương khóc, mà Phật sống trước mặt lại không động lòng đau xót, rõ ràng Ngài đã vì người con gái ấy làm nhiều việc như thế, hy sinh nhiều như thế, nhưng sau khi nghe được tin nàng chết, vì sao Ngài đến biểu cảm trên mặt cũng không thoáng thay đổi, càng không rơi một giọt nước mắt! Giữa Phật sống và Dawa Dolma rốt cuộc là nhân quả thế nào?
Hai chân Tsangyang Gyatso đứng nguyên chỗ cũ, Dangsang Wangpo lại từng bước từng bước đi đến bên hồ Thanh Hải thần thánh. Quay đầu, Ngài nhìn nhục thân lặng lẽ bất động dưới ánh nắng ấy, ngồi xổm xuống, dùng tay vốc lên một vốc nước hồ băng lạnh.
Nước hồ êm đềm như gương, trên mặt hồ soi bóng núi tuyết nơi xa và mây trắng trên trời. Giữa mây trắng có hai con chim ưng bay cao lướt qua. Giống như thuở nhỏ ngẩng đầu ngắm nhìn bầu trời, trên mặt Dangsang Wangpo nở nụ cười. Hai con chim ưng ấy là hóa thân của Bồ Tát Không Hành Mẫu, chúng từ cõi trời trên chín tầng mây bay xuống trước mặt Ngài, chúng sẽ cùng Ngài bay về núi Nala xa xôi.
Chính sử “Thánh Tổ Thực Lục” viết bằng tiếng Hán: “Năm Khang Hy thứ 45, Viện xử lý sự vụ ngoại phiên viết, Lạt Ma đóng ở Tây Ninh báo rằng, Đạt Lai Lạt Ma giả do Lhazang Khan giải đến, đi tới ngoài cửa Tây Ninh bị bệnh qua đời.”
HẾT
(Dạ Dao)
17.11.13
Chẳng mong lúc sống có biệt ly (3)
Giơ
tay lên, nhón lấy một sợi dây đỏ cũ đeo ở cổ, trên dây buộc một hạt Phật
châu bằng gỗ sét đánh, từ khi Ngài chào đời hạt Phật châu này đã được
mẹ đeo trên cổ Ngài, xưa nay chưa rời người một khắc nào, hai mươi năm
rồi, đã bị Ngài cọ sát đến sáng bóng trơn mượt. Một giỏ cơm một gáo nước
cũng có nhân quả, nhận ân huệ của nàng nếu không trả vào
đêm nay, Ngài không biết phải chăng cả đời này cũng không tìm được cơ
hội đền đáp nàng. Trên Phật châu tinh xảo tỉ mỉ điêu khắc lời chú bằng
tiếng Phạn của Không Hành Mẫu, mỗi ngày thầm tụng có thể trừ sạch phiền
não, trong lòng sáng suốt. Dangsang Wangpo cười gượng với mình, rốt cuộc
điều gì mới là phiền não? Chẳng lẽ chính là nàng sao? Tụng niệm kinh
văn muốn trừ sạch, chính là con người đạp lửa rực mà đến, toàn thân hào
quang tỏa khắp mười phương ba kiếp này sao?
Gỡ dây đỏ từ trên cổ xuống, Ngài cầm Phật châu, chầm chậm bước đến trước cửa sổ hé mở của quán cơm nhỏ, cách rất gần lại nhìn nàng một lúc, đặt Phật châu trên bệ cửa sổ, sau đó quay người rời đi.
Thuở nhỏ leo núi Nala, đứng giữa những đỉnh núi vui vẻ ca hát, có tiếng vọng vang lại rất lâu. Nhưng thật ra không chỉ tiếng hát, khi một trái tim đang đập, cũng sẽ có tiếng vọng văng vẳng vang vọng trong gió. Thiếu nữ đang cúi đầu bận rộn trong quán cơm nhỏ giống như nghe thấy âm thanh gì, ngẩng đầu nhìn ra bên ngoài cửa sổ trống không chẳng có một ai. Nàng chớp chớp đôi mắt xinh đẹp, từ trong nhà đi ra nhìn hai bên đường phố náo nhiệt, dòng người vẫn qua lại nhộn nhịp, gió đêm và ánh sao cũng giống như ngày thường, nàng nhếch môi cười với mình, không cam tâm quan sát thêm lúc nữa, trên bệ cửa sổ có vật gì lay động thu hút tầm mắt của nàng. Bước tới, nhìn thấy đó là một sợi dây đỏ mềm mại, trên dây buộc một hạt Phật châu tròn mượt đen bóng, trên Phật châu còn đọng lại hơi ấm cơ thể ấm nóng, cứ ấm đến tận đáy lòng.
Nàng dịu dàng ngắm nghía hạt Phật châu này, ngón tay cẩn thận cọ sát kinh chú tiếng Phạn bên trên, từ trên bầu trời nơi xa đột nhiên truyền lại mấy tiếng ưng kêu. Theo tiếng nhìn lên, đó là phương hướng mặt trời lặn xuống, ráng chiều của mặt trời lặn vẫn chưa hoàn toàn biến mất trên đường chân trời, chúng khảm lên cung Potala hùng vĩ một đường viền màu đỏ sẫm, nhờ ánh sáng ráng chiều lờ mờ, nàng có thể nhìn thấy bóng dáng hai con chim ưng giang cánh bay lượn. Chim ưng là hóa thân của Không Hành Mẫu, nói như vậy Bồ Tát lại ban xuống lời dặn thần linh cho nhân gian chăng? Bà đang cúi nhìn ai? Mở lối cho ai? Thưa Phật mẫu từ bi, trong trần thế có một đứa trẻ đang lắng nghe ý chỉ của người, đang chờ đợi chỉ dẫn của người, người có nhìn thấy nàng không? Nàng nắm thật chặt Phật châu trong lòng bàn tay, nhấc tay áp sát ngực. Âm thanh vừa mới nghe thấy, rõ ràng không phải là tiếng tim đập của bản thân nàng, vậy… lại là của ai?
Dòng người hối hả đi qua bên nàng, giống như một dòng sông cuồn cuộn không ngừng. Lại có mấy tiếng ưng kêu vang lên, ở đầu kia của dòng người có một người ngẩng đầu nhìn lên bầu trời như nàng. Bóng lưng Ngài cao dong dỏng, áo bào to rộng hơi cũ không vừa người lắm, nhưng vẫn không giảm khí chất cao quý. Sự dừng chân ngắn ngủi của Ngài, dường như lại rất đỗi lâu dài, dường như Ngài vừa mới trải qua kiếp nạn trở về, đang ngắm bầu trời của kiếp này phải chăng giống như trăm ngàn năm trước, cũng có mặt trời mọc mặt trăng lặn tuần hoàn không ngừng, cũng có những chòm sao trên màn trời đen kịt càng tỏ ra xán lạn. Nàng không nhận ra được cử động của mình, đợi đến khi đã đi đến sau lưng Ngài không xa, mới phát giác gang tấc là một khoảng cách ngắn dường nào. Vượt qua vai Ngài, nàng và Ngài cùng ngắm hai con chim ưng trên bầu trời dần dần bay xa dần dần mất hút. Phải chăng một ngày kia, nàng cũng có thể giống như chúng dạo chơi trong bầu trời của đại tự tại, từ đó không buồn không giận không vương vấn không trở ngại?
Mùi hương quen thuộc lại lan nơi chóp mũi, trái tim Dangsang Wangpo bỗng co thắt, Ngài quay người, bất ngờ lại nhìn thấy gương mặt xinh đẹp của nàng. Trong đáy lòng đang chờ đợi ý chỉ của Bồ Tát, làm sao vừa quay người, đợi được lại là nàng?
Nàng e thẹn mỉm cười với Ngài, giơ cao bàn tay, trong lòng bàn tay trắng ngần là hạt Phật châu bằng gỗ đen nhánh: “Đây là của anh phải không, anh đã để quên trên bệ cửa sổ.”
Ngài cụp mắt, vị Phật sống trên pháp hội long trọng trang nghiêm hơn cũng có thể tự tại uy nghi, trước sóng mắt sáng trong này, lại có một khắc không dám nhìn thẳng: “Không, là tôi để ở đó… đã ăn bánh điểm tâm của em, cái này… tặng cho em…”
Nàng cười lắc đầu: “Không cần, đó là tặng cho anh mà.”
Ngài cũng cười: “Em tặng tôi bánh, tôi tặng em Phật châu, tôi không cự tuyệt em, cũng xin đừng từ chối tôi, được không?” Nụ cười trên mặt nàng biến thành một đóa hoa nở rộ, nàng từ từ thu tay về, lại từ từ gật đầu với Ngài. Ngài vừa muốn nói gì đó, đã thấy sau lưng nàng có mấy gã người Khampa uống rượu say đang vung dao cong chém giết lẫn nhau, đối với những gã trai vạm vỡ dũng mãnh này, đây là chuyện thường ngày như cơm bữa, nhưng lòng Ngài bỗng nhiên lo lắng hoảng sợ, sải một bước về phía nàng, đồng thời hai cánh tay cũng theo phản ứng bản năng ôm lấy bờ vai nàng, nửa dìu nửa ôm nàng né vào dưới hiên nhà bên đường để tránh, thoát khỏi mấy mũi dao sáng loáng kia, mãi đến khi tiếng hò hét chém giết đã xa, mới lòng còn phập phồng thở ra một hơi dài, mới ý thức được cử động của mình có chút đường đột.
Cúi đầu nhìn xuống, nàng đang co ro trong lòng Ngài, ánh trăng ánh sao rơi vào mắt nàng, lại lấp la lấp lánh tỏa ra. Đánh nhau trên phố Barkhor nhìn mãi quen mắt, những người đi đường vẫn qua lại hoặc nhanh hoặc chậm, chẳng ai chú ý đến một đôi trẻ tuổi đang nhẹ ôm nhau dưới hiên nhà bên đường. Ngài ngẩn ngơ nhìn mắt nàng, đột nhiên buông tay ra lùi về sau hai bước dài. Nàng cũng hơi ngại ngùng, dựa lưng vào tường cúi thấp đầu, châu san hô đeo trên tai lúc lắc thành một đóa hoa đỏ. Hô hấp của Ngài có chút dồn dập không dễ bị người bên cạnh phát giác, lòng bàn tay bàn chân toát mồ hôi, Ngài vội vã gật đầu, giống như là đang trốn tránh điều gì quay người, sải bước đi về phương hướng đã rời khỏi.
Nụ cười trên mặt nàng thoắt tan biến, theo Ngài bước lên trước vài bước, bàn tay nắm Phật châu hơi chìa về phía Ngài: “Em tên là Dawa Dolma, anh tên là gì?”
Ngài dừng lại, không quay đầu.
“Anh… Ngày mai còn đến không…”
Ngài cắn chặt răng hít sâu một hơi, không trả lời nàng, đi nhanh mấy bước rồi rẽ vào một con hẻm nhỏ hẹp.
Nàng sững sờ một thoáng, chạy đuổi theo, đứng ở đầu hẻm nhìn vào trong, Ngài sớm đã chẳng thấy hình bóng. Thiếu nữ xinh đẹp đi mấy bước vào trong hẻm, hai tay chắp lại nắm Phật châu trong lòng bàn tay, ngóng về phía trước thật lâu. Không xa sau lưng chính là phố Barkhor ồn áo náo nhiệt, chẳng ai nhìn vào con hẻm hẹp này, nàng cứ đứng như thế, cứ đứng mãi đến khi mặt trăng chênh chếch leo lên bầu trời đêm. Ánh trăng sáng vằng vặc từ giữa mái nhà hai bên hẻm hẹp chiếu xuống, chiếu ngay trên người nàng.
Một giọt nước mắt khởi hành từ thuở xa xưa, quét sạch chông gai rạch toạc thời gian không gian, cuối cùng tìm được đôi mắt thuần khiết nhất. Nước mắt rưng rưng bờ mi nàng, nàng thận trọng thấp giọng lẩm bẩm: “Ngày mai có bánh tsampa và bánh bơ em làm… Anh sẽ đến chứ…”
Gió đêm nghe được tiếng khóc thầm của nàng, bất chợt thổi mạnh hơn, nhưng nàng mải khóc, không nhìn thấy một tà áo hơi phơ phất nơi góc tối đầu hẻm. Trái tim Dangsang Wangpo đang gào thét, Tsangyang Gyatso lại chỉ có thể trầm mặc một cách nhút nhát nấp sâu hơn một chút vào xó góc đã chẳng thể lùi thêm nữa.
Nàng ngóng nhìn bao lâu, Ngài cũng ngóng nhìn nàng bấy lâu, lâu đến thịt nát xương tan.
(Dạ Dao)
Gỡ dây đỏ từ trên cổ xuống, Ngài cầm Phật châu, chầm chậm bước đến trước cửa sổ hé mở của quán cơm nhỏ, cách rất gần lại nhìn nàng một lúc, đặt Phật châu trên bệ cửa sổ, sau đó quay người rời đi.
Thuở nhỏ leo núi Nala, đứng giữa những đỉnh núi vui vẻ ca hát, có tiếng vọng vang lại rất lâu. Nhưng thật ra không chỉ tiếng hát, khi một trái tim đang đập, cũng sẽ có tiếng vọng văng vẳng vang vọng trong gió. Thiếu nữ đang cúi đầu bận rộn trong quán cơm nhỏ giống như nghe thấy âm thanh gì, ngẩng đầu nhìn ra bên ngoài cửa sổ trống không chẳng có một ai. Nàng chớp chớp đôi mắt xinh đẹp, từ trong nhà đi ra nhìn hai bên đường phố náo nhiệt, dòng người vẫn qua lại nhộn nhịp, gió đêm và ánh sao cũng giống như ngày thường, nàng nhếch môi cười với mình, không cam tâm quan sát thêm lúc nữa, trên bệ cửa sổ có vật gì lay động thu hút tầm mắt của nàng. Bước tới, nhìn thấy đó là một sợi dây đỏ mềm mại, trên dây buộc một hạt Phật châu tròn mượt đen bóng, trên Phật châu còn đọng lại hơi ấm cơ thể ấm nóng, cứ ấm đến tận đáy lòng.
Nàng dịu dàng ngắm nghía hạt Phật châu này, ngón tay cẩn thận cọ sát kinh chú tiếng Phạn bên trên, từ trên bầu trời nơi xa đột nhiên truyền lại mấy tiếng ưng kêu. Theo tiếng nhìn lên, đó là phương hướng mặt trời lặn xuống, ráng chiều của mặt trời lặn vẫn chưa hoàn toàn biến mất trên đường chân trời, chúng khảm lên cung Potala hùng vĩ một đường viền màu đỏ sẫm, nhờ ánh sáng ráng chiều lờ mờ, nàng có thể nhìn thấy bóng dáng hai con chim ưng giang cánh bay lượn. Chim ưng là hóa thân của Không Hành Mẫu, nói như vậy Bồ Tát lại ban xuống lời dặn thần linh cho nhân gian chăng? Bà đang cúi nhìn ai? Mở lối cho ai? Thưa Phật mẫu từ bi, trong trần thế có một đứa trẻ đang lắng nghe ý chỉ của người, đang chờ đợi chỉ dẫn của người, người có nhìn thấy nàng không? Nàng nắm thật chặt Phật châu trong lòng bàn tay, nhấc tay áp sát ngực. Âm thanh vừa mới nghe thấy, rõ ràng không phải là tiếng tim đập của bản thân nàng, vậy… lại là của ai?
Dòng người hối hả đi qua bên nàng, giống như một dòng sông cuồn cuộn không ngừng. Lại có mấy tiếng ưng kêu vang lên, ở đầu kia của dòng người có một người ngẩng đầu nhìn lên bầu trời như nàng. Bóng lưng Ngài cao dong dỏng, áo bào to rộng hơi cũ không vừa người lắm, nhưng vẫn không giảm khí chất cao quý. Sự dừng chân ngắn ngủi của Ngài, dường như lại rất đỗi lâu dài, dường như Ngài vừa mới trải qua kiếp nạn trở về, đang ngắm bầu trời của kiếp này phải chăng giống như trăm ngàn năm trước, cũng có mặt trời mọc mặt trăng lặn tuần hoàn không ngừng, cũng có những chòm sao trên màn trời đen kịt càng tỏ ra xán lạn. Nàng không nhận ra được cử động của mình, đợi đến khi đã đi đến sau lưng Ngài không xa, mới phát giác gang tấc là một khoảng cách ngắn dường nào. Vượt qua vai Ngài, nàng và Ngài cùng ngắm hai con chim ưng trên bầu trời dần dần bay xa dần dần mất hút. Phải chăng một ngày kia, nàng cũng có thể giống như chúng dạo chơi trong bầu trời của đại tự tại, từ đó không buồn không giận không vương vấn không trở ngại?
Mùi hương quen thuộc lại lan nơi chóp mũi, trái tim Dangsang Wangpo bỗng co thắt, Ngài quay người, bất ngờ lại nhìn thấy gương mặt xinh đẹp của nàng. Trong đáy lòng đang chờ đợi ý chỉ của Bồ Tát, làm sao vừa quay người, đợi được lại là nàng?
Nàng e thẹn mỉm cười với Ngài, giơ cao bàn tay, trong lòng bàn tay trắng ngần là hạt Phật châu bằng gỗ đen nhánh: “Đây là của anh phải không, anh đã để quên trên bệ cửa sổ.”
Ngài cụp mắt, vị Phật sống trên pháp hội long trọng trang nghiêm hơn cũng có thể tự tại uy nghi, trước sóng mắt sáng trong này, lại có một khắc không dám nhìn thẳng: “Không, là tôi để ở đó… đã ăn bánh điểm tâm của em, cái này… tặng cho em…”
Nàng cười lắc đầu: “Không cần, đó là tặng cho anh mà.”
Ngài cũng cười: “Em tặng tôi bánh, tôi tặng em Phật châu, tôi không cự tuyệt em, cũng xin đừng từ chối tôi, được không?” Nụ cười trên mặt nàng biến thành một đóa hoa nở rộ, nàng từ từ thu tay về, lại từ từ gật đầu với Ngài. Ngài vừa muốn nói gì đó, đã thấy sau lưng nàng có mấy gã người Khampa uống rượu say đang vung dao cong chém giết lẫn nhau, đối với những gã trai vạm vỡ dũng mãnh này, đây là chuyện thường ngày như cơm bữa, nhưng lòng Ngài bỗng nhiên lo lắng hoảng sợ, sải một bước về phía nàng, đồng thời hai cánh tay cũng theo phản ứng bản năng ôm lấy bờ vai nàng, nửa dìu nửa ôm nàng né vào dưới hiên nhà bên đường để tránh, thoát khỏi mấy mũi dao sáng loáng kia, mãi đến khi tiếng hò hét chém giết đã xa, mới lòng còn phập phồng thở ra một hơi dài, mới ý thức được cử động của mình có chút đường đột.
Cúi đầu nhìn xuống, nàng đang co ro trong lòng Ngài, ánh trăng ánh sao rơi vào mắt nàng, lại lấp la lấp lánh tỏa ra. Đánh nhau trên phố Barkhor nhìn mãi quen mắt, những người đi đường vẫn qua lại hoặc nhanh hoặc chậm, chẳng ai chú ý đến một đôi trẻ tuổi đang nhẹ ôm nhau dưới hiên nhà bên đường. Ngài ngẩn ngơ nhìn mắt nàng, đột nhiên buông tay ra lùi về sau hai bước dài. Nàng cũng hơi ngại ngùng, dựa lưng vào tường cúi thấp đầu, châu san hô đeo trên tai lúc lắc thành một đóa hoa đỏ. Hô hấp của Ngài có chút dồn dập không dễ bị người bên cạnh phát giác, lòng bàn tay bàn chân toát mồ hôi, Ngài vội vã gật đầu, giống như là đang trốn tránh điều gì quay người, sải bước đi về phương hướng đã rời khỏi.
Nụ cười trên mặt nàng thoắt tan biến, theo Ngài bước lên trước vài bước, bàn tay nắm Phật châu hơi chìa về phía Ngài: “Em tên là Dawa Dolma, anh tên là gì?”
Ngài dừng lại, không quay đầu.
“Anh… Ngày mai còn đến không…”
Ngài cắn chặt răng hít sâu một hơi, không trả lời nàng, đi nhanh mấy bước rồi rẽ vào một con hẻm nhỏ hẹp.
Nàng sững sờ một thoáng, chạy đuổi theo, đứng ở đầu hẻm nhìn vào trong, Ngài sớm đã chẳng thấy hình bóng. Thiếu nữ xinh đẹp đi mấy bước vào trong hẻm, hai tay chắp lại nắm Phật châu trong lòng bàn tay, ngóng về phía trước thật lâu. Không xa sau lưng chính là phố Barkhor ồn áo náo nhiệt, chẳng ai nhìn vào con hẻm hẹp này, nàng cứ đứng như thế, cứ đứng mãi đến khi mặt trăng chênh chếch leo lên bầu trời đêm. Ánh trăng sáng vằng vặc từ giữa mái nhà hai bên hẻm hẹp chiếu xuống, chiếu ngay trên người nàng.
Một giọt nước mắt khởi hành từ thuở xa xưa, quét sạch chông gai rạch toạc thời gian không gian, cuối cùng tìm được đôi mắt thuần khiết nhất. Nước mắt rưng rưng bờ mi nàng, nàng thận trọng thấp giọng lẩm bẩm: “Ngày mai có bánh tsampa và bánh bơ em làm… Anh sẽ đến chứ…”
Gió đêm nghe được tiếng khóc thầm của nàng, bất chợt thổi mạnh hơn, nhưng nàng mải khóc, không nhìn thấy một tà áo hơi phơ phất nơi góc tối đầu hẻm. Trái tim Dangsang Wangpo đang gào thét, Tsangyang Gyatso lại chỉ có thể trầm mặc một cách nhút nhát nấp sâu hơn một chút vào xó góc đã chẳng thể lùi thêm nữa.
Nàng ngóng nhìn bao lâu, Ngài cũng ngóng nhìn nàng bấy lâu, lâu đến thịt nát xương tan.
(Dạ Dao)
Chẳng mong lúc sống có biệt ly (2)
Từ trong cửa bên không ai chú ý của cung Potala, đi ra hai Lạt Ma mình
mặc áo đỏ, một cao một thấp, một lớn một bé. Ở góc ngoặt kín đáo của con
hẻm, Tiểu Lạt Ma Dorje lấy quần áo thường dân đã giấu sẵn trong người
ra, cùng Phật sống, à không, cùng người anh em Dangsang Wangpo mỗi người
thay một bộ, lại ưỡn thẳng lưng, cười hì hì sánh vai đi về
nơi náo nhiệt nhất của phố Barkhor. Nhóc Dorje không phải lần đầu tiên
đến đây chơi, nó thuộc cửa thuộc nẻo đi xuyên qua con hẻm, nhảy nhảy
nhót nhót, suốt dọc đường đều không ngừng nghỉ. Cái miệng nhỏ của nó
càng lách chách không ngừng, kể ra hết tất cả những chuyện ly kỳ thú vị
như thật như giả, thấy biểu cảm kinh ngạc không ngừng biến ảo trên mặt
Dangsang Wangpo, nhóc Dorje cười đến đau cả bụng.
Đã đến giờ cơm tối, hai người đã dạo chơi suốt cả buổi chiều đến quán cơm mà Dorje nhắc tới. Nhưng họ chỉ có suông một thân vui vẻ, trong tay lại chẳng có nhiều tiền. Dorje địa vị thấp kém, chút tiền mà nó tích góp rất lâu, chỉ chẳng qua đủ cho một mình nó ăn một cây dồi huyết, thêm một miếng bánh tsampa nhỏ. Hiện tại Phật sống ở bên cạnh, nó làm sao có thể lo ăn một mình? Nhưng nhìn thấy thức ăn ngon gần ngay bên miệng lại ăn không được, nước bọt trong miệng tiết ra nhiều đến nỗi không kịp nuốt xuống. Dangsang Wangpo cười lắc lắc đầu: “Ta không ăn, em ăn đi.”
Dorje lắc đầu lia lịa: “Ngài ăn Ngài ăn, em lần sau vẫn có thể đến ăn nữa.”
Trên mặt Ngài có chút u buồn, cuộc sống lâu nay không có tự do, đã khiến Ngài quên mất trên đời còn có một thứ là tiền bạc, đúng ra Ngài có thể khiến đứa bé này có một buổi chiều càng vui vẻ. Nhẹ nhàng thở hắt một hơi, Ngài mỉm cười kiên trì đẩy tay Dorje về: “Ta không đói.”
Một chiếc khay đồng tinh xảo xuất hiện trước mặt hai người, trên khay đặt ngay ngắn từng miếng từng miếng bánh bơ và bánh tsampa, trong mùi thơm nức mũi, một thanh âm êm ái mang mấy phần thẹn thùng, vang lên bên tai hai người: “Cho nè, hai người cùng ăn đi.” Dorje thoạt đầu kinh ngạc, tiếp theo mừng rỡ vượt quá mong đợi dang hai tay, bê lấy khay đồng trút thức ăn ngon ra. Người tặng đồ cho họ là một thiếu nữ mười lăm mười sáu tuổi, nàng thân hình nhỏ nhắn, lại cúi đầu, Dangsang Wangpo cao dong dỏng chỉ có thể nhìn thấy mái tóc đen nhánh và châu cài san hô mật lạp đẹp đẽ trên tóc của nàng.
Trút điểm tâm ra xong, nàng tay bê khay đồng rời khỏi nhanh chân như lúc đến, bím tóc dài dài đung đưa, chiếc eo thon thon lắc lư, nhóc Dorje cười khanh khách gọi với theo: “Cảm ơn chị!”
Nàng dừng bước, quay người lại, hướng về phía họ mỉm cười lắc đầu, chuỗi dây chuyền đeo trên cổ theo động tác quay người bay lên rồi lại rớt xuống trước bầu ngực non nớt của nàng. Mặt trời đang lặn xuống phía tây vừa khéo lặn xuống sau lưng nàng, góc váy của nàng bay bay, ngược sáng, cũng ngược gió, phảng phất đứng giữa một đám lửa cháy rực. Trên khuôn mặt xinh đẹp ấy là nụ cười trầm tĩnh nhất, phù hoa nhốn nháo trước mặt nàng hoàn toàn không tồn tại, chỉ còn lại âm thanh khi nàng chớp mắt, đó là âm thanh vỗ cánh của chim ưng bay cao nhất trên bầu trời, bị gió thổi, xa xa bay vào trong tai Ngài.
Cõi trần mênh mang mười phương vô cực, Ngài chân trần đi một mình chốn vách núi hiểm trở, lại không cẩn thận một bước ngã vào chiến trường lửa đỏ bừng bừng thiêu đốt.
Lưỡi lửa liếm da thịt, trái tim bị nướng cháy xém đập thình thịch, kinh văn nhớ kỹ trong lòng thuở nhỏ biến thành dấu ấn in trên linh hồn, lâu ngày chưa thể lành lặn, vào một khắc này bỗng nhiên đau nhói. Không Hành Mẫu thân như cô gái trẻ mười sáu tuổi, một mặt hai tay, eo nhỏ yểu điệu, cổ đeo dây chuyền xương người, dùng đóa hoa chuông nhỏ làm trang sức, chân phải lơ lửng giữa trời, chân trái đạp lên tòa sen với vầng mặt trời, phía sau có lửa Ban Nhược…
Thì ra đây chính là đáp án sao? Cái nhìn chăm chú trong quãng thời gian dài đằng đẵng ấy, kỳ thực là một sự chỉ dẫn từ bi chăng? Đưa Ngài đi qua ngàn dặm đường, từ dưới núi Nala đi đến thành Lhasa, lại từ cung Potala đi đến phố Barkhor, khi đêm dài dằng dặc đến, trước khi Ngài có thể nhìn thấy con đường duy nhất thoát khỏi sống chết, khi trong lòng Dangsang Wangpo vẫn sót lại một tia ấm áp cuối cùng, rốt cuộc trong đám lửa tà dương có thể thiêu cả thế giới thành tro bụi này, đã nhìn thấy nụ cười vừa lóe đã tắt bên môi nàng?
Vị Phật sống trẻ tuổi lặng lẽ đứng nghiêm, cách một quãng tiếng người xôn xao cùng thiếu nữ nhìn nhau hồi lâu. Trên những tảng băng kiên cố ngỡ rằng mãi mãi sẽ không tan chảy kia trong đáy lòng Ngài, đã nứt ra khe hở sâu hoắm, giống như cả ngọn núi Hymalaya đều đang rung chuyển, tầng băng và đá núi đúc thành một khối tan rã. Chấn động kịch liệt đem đến đau đớn càng kịch liệt, tay Ngài xuôi trong tay áo trong chốc lát nắm chặt, trên khuôn mặt hướng về nàng lại nhẹ nhàng trỗi lên một nụ cười còn dịu dàng hơn đóa hoa bà la vàng Thích Ca Mâu Ni cầm giữa ngón tay. Trong nụ cười, linh hồn của Ngài hướng về nàng cúi lạy thật thấp, toàn bộ thể xác và tinh thần đều rạp mình giữa bụi trần của nhân thế, vui mừng hớn hở vì đáp án đột ngột này.
Từ phố Barkhor nhìn về phía tây, nơi mặt trời chiều chìm xuống, vừa khéo là cung Potala nguy nga nơi xa. Tia sáng trên bầu trời biến thành ảm đạm, từng cánh cửa sổ lần lượt thắp sáng. Dorje dẫn Phật sống đi đường tắt đến ngoài cửa bên mà họ vừa mới bước ra ở mé đông cung Potala, vẫn như cũ tìm một góc vắng vẻ, lấy y phục Lạt Ma ra chuẩn bị thay. Dorje vội vàng mặc xong áo sư, gấp gáp bước tới giúp Phật sống chỉnh lại trang phục, Dangsang Wangpo trong lòng vị Phật sống trẻ tuổi đã chiến thắng Tsangyang Gyatso, Ngài lùi về sau một bước, mỉm cười nói với Dorje: “Em về trước đi, ta còn có chút việc.” Dorje chớp chớp đôi mắt to: “Thưa Phật sống…” Dangsang Wangpo dựng ngón trỏ trên môi, ra dấu im lặng, Ngài cười an ủi chú nhóc đang căng thẳng: “Không sao, ta biết đường, một lát sẽ trở về.” Nói xong, không đợi tiểu Lạt Ma lên tiếng ngăn cản, Ngài liền quay người sải bước chạy vào trong màn đêm.
Phố Barkhor về đêm náo nhiệt hơn ban ngày rất nhiều, đứng trên con đường tăm tối ngoài quán cơm nhỏ, Ngài thở dốc chạy đến đây, vừa nhìn đã thấy nàng đang bận rộn. Bất kể ở trong hoàn cảnh nào, cũng bất kể trên người mặc y phục gì, lúc này đang làm việc gì, trông nàng đều rực rỡ, hào quang tỏa ra từ khắp người nàng còn ngời sáng hơn ngọn lửa ngùn ngụt.
Đột nhiên phát hiện, đứng trên con đường huyên náo này cũng giống như đứng trong Phật đường của cung Potala, thứ thuộc về Ngài mãi mãi đều là những nơi tăm tối nhất, quay lưng lại với sáng sủa quá lâu, tia sáng ấm áp đã biến thành món đồ xa xỉ khó mong đạt được. Ngắm nàng mỹ lệ một cách tự nhiên trong ánh đèn, Ngài nghiến chặt răng lùi về sau một bước, cúi đầu, vặn hỏi bản thân chuyện này là thế nào. Dạo chơi một buổi chiều đã làm trái giới luật từng thề phải tuân thủ, nhưng sao Ngài vẫn lại đứng ở đây? Chỉ là vì lại nhìn nàng một thoáng từ xa xa như thế này ư? Sau khi đã tu tập Phật pháp nhiều năm, Ngài cho rằng bản thân đã có thể đạt đến cảnh giới thản nhiên không ham muốn không trói buộc, nhưng đến hiện tại mới biết mấy chữ này khó ngàn lần vạn lần so với trong tưởng tượng. Lại lùi một bước, quay đầu nhìn về phương hướng của cung Potala. Cứ xem là giấc mộng này vẫn chưa tỉnh thôi, thể xác của Ngài vẫn đang ngủ vùi trong một gian Phật đường nơi ấy, chờ đợi linh hồn rong chơi quay về.
(Dạ Dao)
Đã đến giờ cơm tối, hai người đã dạo chơi suốt cả buổi chiều đến quán cơm mà Dorje nhắc tới. Nhưng họ chỉ có suông một thân vui vẻ, trong tay lại chẳng có nhiều tiền. Dorje địa vị thấp kém, chút tiền mà nó tích góp rất lâu, chỉ chẳng qua đủ cho một mình nó ăn một cây dồi huyết, thêm một miếng bánh tsampa nhỏ. Hiện tại Phật sống ở bên cạnh, nó làm sao có thể lo ăn một mình? Nhưng nhìn thấy thức ăn ngon gần ngay bên miệng lại ăn không được, nước bọt trong miệng tiết ra nhiều đến nỗi không kịp nuốt xuống. Dangsang Wangpo cười lắc lắc đầu: “Ta không ăn, em ăn đi.”
Dorje lắc đầu lia lịa: “Ngài ăn Ngài ăn, em lần sau vẫn có thể đến ăn nữa.”
Trên mặt Ngài có chút u buồn, cuộc sống lâu nay không có tự do, đã khiến Ngài quên mất trên đời còn có một thứ là tiền bạc, đúng ra Ngài có thể khiến đứa bé này có một buổi chiều càng vui vẻ. Nhẹ nhàng thở hắt một hơi, Ngài mỉm cười kiên trì đẩy tay Dorje về: “Ta không đói.”
Một chiếc khay đồng tinh xảo xuất hiện trước mặt hai người, trên khay đặt ngay ngắn từng miếng từng miếng bánh bơ và bánh tsampa, trong mùi thơm nức mũi, một thanh âm êm ái mang mấy phần thẹn thùng, vang lên bên tai hai người: “Cho nè, hai người cùng ăn đi.” Dorje thoạt đầu kinh ngạc, tiếp theo mừng rỡ vượt quá mong đợi dang hai tay, bê lấy khay đồng trút thức ăn ngon ra. Người tặng đồ cho họ là một thiếu nữ mười lăm mười sáu tuổi, nàng thân hình nhỏ nhắn, lại cúi đầu, Dangsang Wangpo cao dong dỏng chỉ có thể nhìn thấy mái tóc đen nhánh và châu cài san hô mật lạp đẹp đẽ trên tóc của nàng.
Trút điểm tâm ra xong, nàng tay bê khay đồng rời khỏi nhanh chân như lúc đến, bím tóc dài dài đung đưa, chiếc eo thon thon lắc lư, nhóc Dorje cười khanh khách gọi với theo: “Cảm ơn chị!”
Nàng dừng bước, quay người lại, hướng về phía họ mỉm cười lắc đầu, chuỗi dây chuyền đeo trên cổ theo động tác quay người bay lên rồi lại rớt xuống trước bầu ngực non nớt của nàng. Mặt trời đang lặn xuống phía tây vừa khéo lặn xuống sau lưng nàng, góc váy của nàng bay bay, ngược sáng, cũng ngược gió, phảng phất đứng giữa một đám lửa cháy rực. Trên khuôn mặt xinh đẹp ấy là nụ cười trầm tĩnh nhất, phù hoa nhốn nháo trước mặt nàng hoàn toàn không tồn tại, chỉ còn lại âm thanh khi nàng chớp mắt, đó là âm thanh vỗ cánh của chim ưng bay cao nhất trên bầu trời, bị gió thổi, xa xa bay vào trong tai Ngài.
Cõi trần mênh mang mười phương vô cực, Ngài chân trần đi một mình chốn vách núi hiểm trở, lại không cẩn thận một bước ngã vào chiến trường lửa đỏ bừng bừng thiêu đốt.
Lưỡi lửa liếm da thịt, trái tim bị nướng cháy xém đập thình thịch, kinh văn nhớ kỹ trong lòng thuở nhỏ biến thành dấu ấn in trên linh hồn, lâu ngày chưa thể lành lặn, vào một khắc này bỗng nhiên đau nhói. Không Hành Mẫu thân như cô gái trẻ mười sáu tuổi, một mặt hai tay, eo nhỏ yểu điệu, cổ đeo dây chuyền xương người, dùng đóa hoa chuông nhỏ làm trang sức, chân phải lơ lửng giữa trời, chân trái đạp lên tòa sen với vầng mặt trời, phía sau có lửa Ban Nhược…
Thì ra đây chính là đáp án sao? Cái nhìn chăm chú trong quãng thời gian dài đằng đẵng ấy, kỳ thực là một sự chỉ dẫn từ bi chăng? Đưa Ngài đi qua ngàn dặm đường, từ dưới núi Nala đi đến thành Lhasa, lại từ cung Potala đi đến phố Barkhor, khi đêm dài dằng dặc đến, trước khi Ngài có thể nhìn thấy con đường duy nhất thoát khỏi sống chết, khi trong lòng Dangsang Wangpo vẫn sót lại một tia ấm áp cuối cùng, rốt cuộc trong đám lửa tà dương có thể thiêu cả thế giới thành tro bụi này, đã nhìn thấy nụ cười vừa lóe đã tắt bên môi nàng?
Vị Phật sống trẻ tuổi lặng lẽ đứng nghiêm, cách một quãng tiếng người xôn xao cùng thiếu nữ nhìn nhau hồi lâu. Trên những tảng băng kiên cố ngỡ rằng mãi mãi sẽ không tan chảy kia trong đáy lòng Ngài, đã nứt ra khe hở sâu hoắm, giống như cả ngọn núi Hymalaya đều đang rung chuyển, tầng băng và đá núi đúc thành một khối tan rã. Chấn động kịch liệt đem đến đau đớn càng kịch liệt, tay Ngài xuôi trong tay áo trong chốc lát nắm chặt, trên khuôn mặt hướng về nàng lại nhẹ nhàng trỗi lên một nụ cười còn dịu dàng hơn đóa hoa bà la vàng Thích Ca Mâu Ni cầm giữa ngón tay. Trong nụ cười, linh hồn của Ngài hướng về nàng cúi lạy thật thấp, toàn bộ thể xác và tinh thần đều rạp mình giữa bụi trần của nhân thế, vui mừng hớn hở vì đáp án đột ngột này.
Từ phố Barkhor nhìn về phía tây, nơi mặt trời chiều chìm xuống, vừa khéo là cung Potala nguy nga nơi xa. Tia sáng trên bầu trời biến thành ảm đạm, từng cánh cửa sổ lần lượt thắp sáng. Dorje dẫn Phật sống đi đường tắt đến ngoài cửa bên mà họ vừa mới bước ra ở mé đông cung Potala, vẫn như cũ tìm một góc vắng vẻ, lấy y phục Lạt Ma ra chuẩn bị thay. Dorje vội vàng mặc xong áo sư, gấp gáp bước tới giúp Phật sống chỉnh lại trang phục, Dangsang Wangpo trong lòng vị Phật sống trẻ tuổi đã chiến thắng Tsangyang Gyatso, Ngài lùi về sau một bước, mỉm cười nói với Dorje: “Em về trước đi, ta còn có chút việc.” Dorje chớp chớp đôi mắt to: “Thưa Phật sống…” Dangsang Wangpo dựng ngón trỏ trên môi, ra dấu im lặng, Ngài cười an ủi chú nhóc đang căng thẳng: “Không sao, ta biết đường, một lát sẽ trở về.” Nói xong, không đợi tiểu Lạt Ma lên tiếng ngăn cản, Ngài liền quay người sải bước chạy vào trong màn đêm.
Phố Barkhor về đêm náo nhiệt hơn ban ngày rất nhiều, đứng trên con đường tăm tối ngoài quán cơm nhỏ, Ngài thở dốc chạy đến đây, vừa nhìn đã thấy nàng đang bận rộn. Bất kể ở trong hoàn cảnh nào, cũng bất kể trên người mặc y phục gì, lúc này đang làm việc gì, trông nàng đều rực rỡ, hào quang tỏa ra từ khắp người nàng còn ngời sáng hơn ngọn lửa ngùn ngụt.
Đột nhiên phát hiện, đứng trên con đường huyên náo này cũng giống như đứng trong Phật đường của cung Potala, thứ thuộc về Ngài mãi mãi đều là những nơi tăm tối nhất, quay lưng lại với sáng sủa quá lâu, tia sáng ấm áp đã biến thành món đồ xa xỉ khó mong đạt được. Ngắm nàng mỹ lệ một cách tự nhiên trong ánh đèn, Ngài nghiến chặt răng lùi về sau một bước, cúi đầu, vặn hỏi bản thân chuyện này là thế nào. Dạo chơi một buổi chiều đã làm trái giới luật từng thề phải tuân thủ, nhưng sao Ngài vẫn lại đứng ở đây? Chỉ là vì lại nhìn nàng một thoáng từ xa xa như thế này ư? Sau khi đã tu tập Phật pháp nhiều năm, Ngài cho rằng bản thân đã có thể đạt đến cảnh giới thản nhiên không ham muốn không trói buộc, nhưng đến hiện tại mới biết mấy chữ này khó ngàn lần vạn lần so với trong tưởng tượng. Lại lùi một bước, quay đầu nhìn về phương hướng của cung Potala. Cứ xem là giấc mộng này vẫn chưa tỉnh thôi, thể xác của Ngài vẫn đang ngủ vùi trong một gian Phật đường nơi ấy, chờ đợi linh hồn rong chơi quay về.
(Dạ Dao)
13.11.13
Chẳng mong lúc sống có biệt ly (1)
Ánh dương lúc giữa trưa nóng hừng hực, nó không bờ không bến từ trên
trời chảy xuống, mang một đoạn cảnh mộng hư ảo sáng ngời cho tất cả
những người ngưỡng vọng nó.
Trong một gian Phật đường u ám của tu viện Drepung lại chẳng nhìn thấy một tia nắng, ở đây chỉ có đèn bơ lặng lẽ cháy. Trong lư hương khói nhẹ vấn vít, dưới lớp lớp kinh phướn, một vị Lạt Ma trẻ tuổi gầy gò quỳ trước Phật. Ngài nhắm hai mắt, tay lần tràng hạt, thầm tụng niệm kinh văn. Đã tụng niệm rất nhiều lần, nóng nảy trong lòng vẫn khó lắng dịu, dù Ngài khắc chế kìm nén thế nào, trước mắt luôn có một đôi mắt hư ảo như khói nổi. Đôi mắt này chẳng biết bắt đầu từ lúc nào đã cứ chăm chú nhìn Ngài, nhìn Ngài lưu lạc cùng khốn trong một cảnh mộng mê loạn, không thể tự thoát ra. Ngài hết lần này đến lần khác đối diện với đôi mắt này, nhưng ngoài tròng đen sâu thẳm của nó, chẳng nhìn thấy gì khác. Ngài không nhìn thấy nó mọc trên một khuôn mặt ra sao, càng không đoán ra nó náu thân giữa đám mây nhởn nhơ nào, Ngài chỉ có thể nghe thấy âm thanh khi nó chớp mắt, đó là âm thanh vỗ cánh của chim ưng bay cao nhất trên bầu trời, bị gió thổi, xa xa bay vào trong tai Ngài.
Khi Ngài còn là Dangsang Wangpo trong thôn Urgelling dưới núi Nala, Monyu, Nam Tạng, Ngài thích nhất là ngẩng đầu ngắm chim ưng chao liệng trên bầu trời. Con chim mạnh mẽ như vậy không thẹn là hóa thân của Không Hành Mẫu (Dakini), chúng qua lại giữa thần linh trên cõi trời và người phàm như sâu kiến trên mặt đất, truyền đạt ý chỉ của Phật Bồ Tát đến bốn phương tám hướng. Nhóc Dangsang Wangpo là một đứa bé thông minh, nhóc đọc thuộc lòng kinh Phật luôn nhanh hơn người khác, khi sư phụ kiểm tra nhóc gần như là buột miệng đọc ra: Không Hành Mẫu thân như cô gái trẻ mười sáu tuổi, một mặt hai tay, eo nhỏ yểu điệu, cổ đeo dây chuyền xương người, dùng đóa hoa chuông nhỏ làm trang sức, chân phải lơ lửng giữa trời, chân trái đạp lên tòa sen với vầng mặt trời, phía sau có lửa Ban Nhược… Nếu thật sự như kinh Phật kể, Không Hành Mẫu chắc là một cô gái trẻ tuổi xinh đẹp, thế thì vì sao cô không chọn hoa sen tuyết thánh khiết tươi đẹp hay động vật đẹp đẽ thuần tính làm hóa thân của mình, mà phải chọn chim ưng hung mãnh cô ngạo?
Nhóc Dangsang Wangpo còn chưa kịp nghĩ thấu vấn đề này, đã rời khỏi thôn Urgelling, rong ruổi ngàn dặm đến cung Potala của Lhasa, được chọn làm linh đồng chuyển thế của Phật sống Đạt Lai. Có lẽ chính từ lúc nhóc quay đầu cũng không nhìn thấy núi Nala nữa, đôi mắt trong cảnh mộng ấy liền bắt đầu chăm chú nhìn nhóc. Lại có lẽ đôi mắt ấy là đang chờ đợi nhóc, chờ cuối cùng có một ngày, nhóc Dangsang Wangpo lạc đường có thể tìm được phương hướng trở về quê hương.
Đôi mắt ấy… là Bồ Tát Không Hành Mẫu đang nhìn Ngài sao? Nếu thật sự là Bồ Tát, vì sao không thể cho Ngài nhiều gợi ý và ý chỉ hơn? Vì sao phải dùng một cái nhìn chăm chú đằng đẵng để khảo nghiệm kẻ tôi tớ trung thành nhất của bà? Trong lời khấn thầm trước Phật, Ngài từng vô số lần hướng về Phật Bồ Tát hỏi vấn đề này, nhưng Thích Ca Mâu Ni, Quan Thế Âm Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi, Cát Tường Thiên Nữ và các Pháp Vương, Kim Cang đều không trả lời, họ ngồi ngay ngắn trên từng tòa từng tòa sen, nhìn Ngài với đôi mắt thương trời xót người, đợi Ngài tự mình tìm được đáp án của câu hỏi.
Sau khi trải qua học tập cần mẫn và bế quan gian khổ, Ngài thọ giới sa di từ Ban Thiền Ngạch Nhĩ Đức Ni, phụng sắc chỉ tọa sàng, từ đó đã trở thành Phật sống Đạt Lai thứ 6 được muôn dân lễ bái kính yêu trong cung Potala, trở thành Tsangyang Gyatso uy nghi rạng rỡ, sắc tướng trang nghiêm. Mấy năm qua đi, nghi vấn này đã biến thành tuyết đọng ngàn xưa không tan trên núi Hymalaya, chúng nén chặt thành băng, từ từ trở nên kiên cố không thể phá vỡ, đông thành một khối với đá núi cứng rắn tương tự, có lẽ mãi mãi cũng sẽ không tách rời nữa.
Chú nhóc Dangsang Wangpo ngẩng đầu nhìn trời ấy dần dần bị băng tuyết hoàn toàn phủ lấp, trầm mặc ngủ yên trong chốn sâu nội tâm của Ngài, càng ngày càng lạnh lẽo, càng ngày càng hư vô, thậm chí có lúc ngay cả bản thân Ngài cũng đã có chút không nhớ nổi bộ dạng ngày trước của mình, gió núi đượm hương hoa dại dưới núi Nala, bánh tsampa mẹ tự tay làm trong thôn Urgelling, chim ưng bay lượn trên trời cao xa không với tới… Tất cả của tất cả đều đã đi xa, thứ lưu lại bên người Ngài chỉ có tiếng tụng kinh mãi không ngừng nghỉ và từng đôi từng đôi mắt thành kính chứa đầy kỳ vọng trong cung Potala. Ngài nghĩ, trọn đời này của Ngài đều phải trải qua như vậy thôi, bị mùi đàn hương và ánh lửa của đèn bơ vây quanh, ngồi cao cao trên giường mây, dùng ánh mắt thương xót khi Phật Bồ Tát nhìn Ngài, cũng thương xót nhìn xuống chúng sinh như thế.
Nhưng đột nhiên, Ngài cảm thấy đôi chân ngồi gập đã lâu quá đau nhức, đôi tay lần tràng hạt quá mệt mỏi, đôi môi không ngừng tụng niệm kinh văn quá khô khát. Ngài, ở trong Phật đường tối tăm tu hành quá lâu sắc mặt có chút trắng bệch, từ từ đứng dậy, đi ra khỏi Phật đường, lại bị ánh nắng gay gắt đột ngột làm chói mắt đến nỗi mở không ra. Ngài dùng tay che mắt, đứng rất lâu, mới lại nhìn mảng trời xanh biếc trước mắt, và mấy áng mây trắng lười nhác trên bầu trời. Bên Phật đường yên tĩnh có một tràng tiếng cười trong trẻo sảng khoái, Ngài không nén nổi tình cảm thôi thúc, đi về nơi phát ra tiếng cười, nhìn thấy một tiểu Lạt Ma đang quét nhà ở sau Phật đường. Tiểu Lạt Ma dáng vóc không cao, trong tay cầm chổi lớn quét đông một chút tây một chút, chẳng có người khác nói chuyện với chú, cũng không biết chú nghĩ đến điều gì, tự một mình cười đến nghiêng ngả.
Nhất thời, có một số ký ức quá khứ hiện lên trong đầu, trên khuôn mặt nhợt nhạt của Ngài cũng nở nụ cười mờ nhạt. Đi đến sau lưng tiểu Lạt Ma, Ngài hỏi với thanh âm hơi khàn: “Ngươi đang cười gì đó?” Tiểu Lạt Ma bỗng quay đầu nhìn thấy Phật sống, sợ đến mức phịch một tiếng quỳ thụp xuống đất, co rúm lại nói không ra lời. Lúc Ngài ở độ tuổi của tiểu Lạt Ma, vừa mới rời khỏi quê nhà Urgelling, Ngài khi đó chắc cũng là gầy nhỏ nhát gan như vậy, giờ đây mới phát hiện, chẳng qua là thời gian vài năm, Ngài đã trưởng thành cao lớn thế này. Ngài mỉm cười ngồi xổm người xuống, nhẹ nhàng vuốt đầu tiểu Lạt Ma: “Đừng sợ nhé, ta chỉ là muốn biết ngươi đang cười gì, nói cho ta biết được không?”
Tiểu Lạt Ma ngẩng khuôn mặt đen nhẻm lên, hai con mắt to tỏ ra đen trắng rõ ràng rất mực, chú nhóc dần dần khôi phục bình tĩnh trong nụ cười của Phật sống, nhỏ tiếng nói với Phật sống, chỉ cần quét xong mảnh đất này là có thể nghỉ nửa ngày, nhất định phải nhân cơ hội hiếm có này len lén chuồn ra khỏi cung Potala, chơi thỏa thích một chuyến, lại đến phố Barkhor ăn dồi huyết thơm nhất và bánh tsampa ngọt nhất.
Ngài nhướng mày, ý cười càng sâu: “Cũng dắt ta đi, có được không?”
Tiểu Lạt Ma mở to mắt, không dám tin lời trong tai nghe được. Kỳ thực sau khi nói ra câu này bản thân Ngài cũng có chút bất ngờ, đến Lhasa mấy năm nay, Ngài xưa nay vẫn chưa từng nảy sinh hiếu kỳ đối với thế giới bên ngoài cung Potala kia, nhưng một câu nói và thần sắc vui vẻ trên gương mặt nhỏ nhem nhuốc của tiểu Lạt Ma này, lại khiến Ngài không nhịn nổi muốn thò đầu ra khỏi bức tường cung điện cao ngất, nhìn ra bên ngoài một thoáng, xem thử những thứ có thể khiến chú nhóc này vui sướng như vậy, phải chăng cũng có thể đem lại cho Ngài vui sướng đồng dạng. Cũng chỉ xem một lần này, sau khi trở về, Ngài vẫn làm Phật sống Đạt Lai của Ngài, chẳng bao lâu Ngài sẽ thọ giới cụ túc, đã thọ giới này, thì xem như đã chặt đứt một chút dính dáng cuối cùng với trần thế, trước lúc đó, hãy để Ngài cuối cùng làm lại một lần Dangsang Wangpo.
(Dạ Dao)
Trong một gian Phật đường u ám của tu viện Drepung lại chẳng nhìn thấy một tia nắng, ở đây chỉ có đèn bơ lặng lẽ cháy. Trong lư hương khói nhẹ vấn vít, dưới lớp lớp kinh phướn, một vị Lạt Ma trẻ tuổi gầy gò quỳ trước Phật. Ngài nhắm hai mắt, tay lần tràng hạt, thầm tụng niệm kinh văn. Đã tụng niệm rất nhiều lần, nóng nảy trong lòng vẫn khó lắng dịu, dù Ngài khắc chế kìm nén thế nào, trước mắt luôn có một đôi mắt hư ảo như khói nổi. Đôi mắt này chẳng biết bắt đầu từ lúc nào đã cứ chăm chú nhìn Ngài, nhìn Ngài lưu lạc cùng khốn trong một cảnh mộng mê loạn, không thể tự thoát ra. Ngài hết lần này đến lần khác đối diện với đôi mắt này, nhưng ngoài tròng đen sâu thẳm của nó, chẳng nhìn thấy gì khác. Ngài không nhìn thấy nó mọc trên một khuôn mặt ra sao, càng không đoán ra nó náu thân giữa đám mây nhởn nhơ nào, Ngài chỉ có thể nghe thấy âm thanh khi nó chớp mắt, đó là âm thanh vỗ cánh của chim ưng bay cao nhất trên bầu trời, bị gió thổi, xa xa bay vào trong tai Ngài.
Khi Ngài còn là Dangsang Wangpo trong thôn Urgelling dưới núi Nala, Monyu, Nam Tạng, Ngài thích nhất là ngẩng đầu ngắm chim ưng chao liệng trên bầu trời. Con chim mạnh mẽ như vậy không thẹn là hóa thân của Không Hành Mẫu (Dakini), chúng qua lại giữa thần linh trên cõi trời và người phàm như sâu kiến trên mặt đất, truyền đạt ý chỉ của Phật Bồ Tát đến bốn phương tám hướng. Nhóc Dangsang Wangpo là một đứa bé thông minh, nhóc đọc thuộc lòng kinh Phật luôn nhanh hơn người khác, khi sư phụ kiểm tra nhóc gần như là buột miệng đọc ra: Không Hành Mẫu thân như cô gái trẻ mười sáu tuổi, một mặt hai tay, eo nhỏ yểu điệu, cổ đeo dây chuyền xương người, dùng đóa hoa chuông nhỏ làm trang sức, chân phải lơ lửng giữa trời, chân trái đạp lên tòa sen với vầng mặt trời, phía sau có lửa Ban Nhược… Nếu thật sự như kinh Phật kể, Không Hành Mẫu chắc là một cô gái trẻ tuổi xinh đẹp, thế thì vì sao cô không chọn hoa sen tuyết thánh khiết tươi đẹp hay động vật đẹp đẽ thuần tính làm hóa thân của mình, mà phải chọn chim ưng hung mãnh cô ngạo?
Nhóc Dangsang Wangpo còn chưa kịp nghĩ thấu vấn đề này, đã rời khỏi thôn Urgelling, rong ruổi ngàn dặm đến cung Potala của Lhasa, được chọn làm linh đồng chuyển thế của Phật sống Đạt Lai. Có lẽ chính từ lúc nhóc quay đầu cũng không nhìn thấy núi Nala nữa, đôi mắt trong cảnh mộng ấy liền bắt đầu chăm chú nhìn nhóc. Lại có lẽ đôi mắt ấy là đang chờ đợi nhóc, chờ cuối cùng có một ngày, nhóc Dangsang Wangpo lạc đường có thể tìm được phương hướng trở về quê hương.
Đôi mắt ấy… là Bồ Tát Không Hành Mẫu đang nhìn Ngài sao? Nếu thật sự là Bồ Tát, vì sao không thể cho Ngài nhiều gợi ý và ý chỉ hơn? Vì sao phải dùng một cái nhìn chăm chú đằng đẵng để khảo nghiệm kẻ tôi tớ trung thành nhất của bà? Trong lời khấn thầm trước Phật, Ngài từng vô số lần hướng về Phật Bồ Tát hỏi vấn đề này, nhưng Thích Ca Mâu Ni, Quan Thế Âm Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi, Cát Tường Thiên Nữ và các Pháp Vương, Kim Cang đều không trả lời, họ ngồi ngay ngắn trên từng tòa từng tòa sen, nhìn Ngài với đôi mắt thương trời xót người, đợi Ngài tự mình tìm được đáp án của câu hỏi.
Sau khi trải qua học tập cần mẫn và bế quan gian khổ, Ngài thọ giới sa di từ Ban Thiền Ngạch Nhĩ Đức Ni, phụng sắc chỉ tọa sàng, từ đó đã trở thành Phật sống Đạt Lai thứ 6 được muôn dân lễ bái kính yêu trong cung Potala, trở thành Tsangyang Gyatso uy nghi rạng rỡ, sắc tướng trang nghiêm. Mấy năm qua đi, nghi vấn này đã biến thành tuyết đọng ngàn xưa không tan trên núi Hymalaya, chúng nén chặt thành băng, từ từ trở nên kiên cố không thể phá vỡ, đông thành một khối với đá núi cứng rắn tương tự, có lẽ mãi mãi cũng sẽ không tách rời nữa.
Chú nhóc Dangsang Wangpo ngẩng đầu nhìn trời ấy dần dần bị băng tuyết hoàn toàn phủ lấp, trầm mặc ngủ yên trong chốn sâu nội tâm của Ngài, càng ngày càng lạnh lẽo, càng ngày càng hư vô, thậm chí có lúc ngay cả bản thân Ngài cũng đã có chút không nhớ nổi bộ dạng ngày trước của mình, gió núi đượm hương hoa dại dưới núi Nala, bánh tsampa mẹ tự tay làm trong thôn Urgelling, chim ưng bay lượn trên trời cao xa không với tới… Tất cả của tất cả đều đã đi xa, thứ lưu lại bên người Ngài chỉ có tiếng tụng kinh mãi không ngừng nghỉ và từng đôi từng đôi mắt thành kính chứa đầy kỳ vọng trong cung Potala. Ngài nghĩ, trọn đời này của Ngài đều phải trải qua như vậy thôi, bị mùi đàn hương và ánh lửa của đèn bơ vây quanh, ngồi cao cao trên giường mây, dùng ánh mắt thương xót khi Phật Bồ Tát nhìn Ngài, cũng thương xót nhìn xuống chúng sinh như thế.
Nhưng đột nhiên, Ngài cảm thấy đôi chân ngồi gập đã lâu quá đau nhức, đôi tay lần tràng hạt quá mệt mỏi, đôi môi không ngừng tụng niệm kinh văn quá khô khát. Ngài, ở trong Phật đường tối tăm tu hành quá lâu sắc mặt có chút trắng bệch, từ từ đứng dậy, đi ra khỏi Phật đường, lại bị ánh nắng gay gắt đột ngột làm chói mắt đến nỗi mở không ra. Ngài dùng tay che mắt, đứng rất lâu, mới lại nhìn mảng trời xanh biếc trước mắt, và mấy áng mây trắng lười nhác trên bầu trời. Bên Phật đường yên tĩnh có một tràng tiếng cười trong trẻo sảng khoái, Ngài không nén nổi tình cảm thôi thúc, đi về nơi phát ra tiếng cười, nhìn thấy một tiểu Lạt Ma đang quét nhà ở sau Phật đường. Tiểu Lạt Ma dáng vóc không cao, trong tay cầm chổi lớn quét đông một chút tây một chút, chẳng có người khác nói chuyện với chú, cũng không biết chú nghĩ đến điều gì, tự một mình cười đến nghiêng ngả.
Nhất thời, có một số ký ức quá khứ hiện lên trong đầu, trên khuôn mặt nhợt nhạt của Ngài cũng nở nụ cười mờ nhạt. Đi đến sau lưng tiểu Lạt Ma, Ngài hỏi với thanh âm hơi khàn: “Ngươi đang cười gì đó?” Tiểu Lạt Ma bỗng quay đầu nhìn thấy Phật sống, sợ đến mức phịch một tiếng quỳ thụp xuống đất, co rúm lại nói không ra lời. Lúc Ngài ở độ tuổi của tiểu Lạt Ma, vừa mới rời khỏi quê nhà Urgelling, Ngài khi đó chắc cũng là gầy nhỏ nhát gan như vậy, giờ đây mới phát hiện, chẳng qua là thời gian vài năm, Ngài đã trưởng thành cao lớn thế này. Ngài mỉm cười ngồi xổm người xuống, nhẹ nhàng vuốt đầu tiểu Lạt Ma: “Đừng sợ nhé, ta chỉ là muốn biết ngươi đang cười gì, nói cho ta biết được không?”
Tiểu Lạt Ma ngẩng khuôn mặt đen nhẻm lên, hai con mắt to tỏ ra đen trắng rõ ràng rất mực, chú nhóc dần dần khôi phục bình tĩnh trong nụ cười của Phật sống, nhỏ tiếng nói với Phật sống, chỉ cần quét xong mảnh đất này là có thể nghỉ nửa ngày, nhất định phải nhân cơ hội hiếm có này len lén chuồn ra khỏi cung Potala, chơi thỏa thích một chuyến, lại đến phố Barkhor ăn dồi huyết thơm nhất và bánh tsampa ngọt nhất.
Ngài nhướng mày, ý cười càng sâu: “Cũng dắt ta đi, có được không?”
Tiểu Lạt Ma mở to mắt, không dám tin lời trong tai nghe được. Kỳ thực sau khi nói ra câu này bản thân Ngài cũng có chút bất ngờ, đến Lhasa mấy năm nay, Ngài xưa nay vẫn chưa từng nảy sinh hiếu kỳ đối với thế giới bên ngoài cung Potala kia, nhưng một câu nói và thần sắc vui vẻ trên gương mặt nhỏ nhem nhuốc của tiểu Lạt Ma này, lại khiến Ngài không nhịn nổi muốn thò đầu ra khỏi bức tường cung điện cao ngất, nhìn ra bên ngoài một thoáng, xem thử những thứ có thể khiến chú nhóc này vui sướng như vậy, phải chăng cũng có thể đem lại cho Ngài vui sướng đồng dạng. Cũng chỉ xem một lần này, sau khi trở về, Ngài vẫn làm Phật sống Đạt Lai của Ngài, chẳng bao lâu Ngài sẽ thọ giới cụ túc, đã thọ giới này, thì xem như đã chặt đứt một chút dính dáng cuối cùng với trần thế, trước lúc đó, hãy để Ngài cuối cùng làm lại một lần Dangsang Wangpo.
(Dạ Dao)
11.11.13
Lời tựa "Gặp lại chốn hồng trần sâu nhất"
Rất nhiều năm trước, thích thơ của Tịch Mộ Dung. Lúc ấy cứ luôn mong mỏi có được một cuộc gặp gỡ trong sáng với người hữu duyên nào đó trên ngọn núi nở đầy hoa dành dành. Có lẽ sau này thật sự đã gặp, có lẽ thật sự đã nắm tay đi qua nẻo đường hồng trần. Mãi cho tới một ngày, chúng tôi lại cô độc đến lãng quên đôi bên.
Dòng chảy thời gian ngày càng sâu, nhiều sự việc đã mơ hồ không rõ. Chúng ta luôn nói, nếu chẳng gặp nhau, không chừng cuộc sống trôi qua phần nào bình đạm, nhưng lại tĩnh lặng bình an. Số mệnh nhân quả của thế gian này sớm có an bài, mỗi người đều có một quyển sách số mệnh định sẵn, không cho phép bạn và tôi tùy ý thêm bớt sửa đổi.
Chúng ta nên tin tưởng vạn vật trên đời đều có tình duyên. Dù là đá cứng đất cằn, cỏ khô cây mục, chỉ cần cho ánh nắng mưa móc, cho từ bi yêu thương, không vật nào không khiến ta cảm nhận được sự thần kỳ của tạo hóa tự nhiên và sứ mệnh cao xanh trao cho chúng. Do đó ở Tây Tạng, chúng ta đều nguyện ý thừa nhận cách nói của các tín đồ nơi này, tin rằng mỗi một con bò con dê đều có tình cảm, mỗi một ngọn cỏ gốc cây đều có linh hồn, mỗi một đám mây trôi đều có nước mắt, còn núi non sông ngòi, chim chóc sâu kiến đều có tính Phật và tôn nghiêm không thể nói thành lời của chúng.
Tsangyang Gyatso cũng là một hạt bụi nhỏ trong vạn vật, nhưng Ngài lại là một hạt bụi khiến chúng sinh cảm động. Đọc thơ tình của Ngài, tựa như gặp gỡ dịu dàng thương cảm, chúng ta bị tình yêu êm ái đả thương, nhưng vẫn một lòng hướng đến không hề hối hận. Mỗi ngày, đều có người trèo đèo lội suối tìm kiếm Ngài, chỉ bởi một lời hứa tình nguyện. Mỗi ngày, đều có người vì Ngài thắp sáng một ngọn đèn dầu bơ, quỳ mãi không đứng dậy trước Đức Phật. Dường như nhất định phải dùng phương thức si tình như thế, mới có thể đổi được một lần lướt vai, một cái ngoảnh nhìn.
Nhưng lại không biết, vị Phật sống nhân gian Tsangyang Gyatso sớm đã hóa thành cát bụi, chỉ vì cùng chúng sinh gặp lại chốn hồng trần sâu nhất. Còn chúng ta, không cần túc trực nơi bến đò hoang vu, hay dưới cây bồ đề lúc mặt trời lặn, si ngốc đợi Ngài nữa. Đã tin vào nhân quả, nên biết đời người duyên khởi duyên diệt, đến đến đi đi, ly ly hợp hợp, không thể cưỡng cầu.
Mộng như nước chảy, khắp nơi xuân xa. Khi gác bút, viết một bài thơ nhỏ, chẳng vì hững hờ tiễn biệt, cũng chẳng bởi cố ý nhớ đến ai. Chỉ là trong năm tháng ngắn ngủi, muốn trân trọng một cách khoan dung. Sự đời mênh mang rộng lớn, mong vạn vật sinh linh giữa nhân thế đều có thể gặp sao yên vậy.
Tất cả thành ra quá khứ rồi
Gặp chàng trong ký ức mà thôi
Ở chốn hồng trần sâu thẳm nhất
Gió nhạt mây nhòa vội chia phôi
Em vẫn là em thuở ban đầu
Chàng vẫn là chàng dẫu bể dâu
Bỗng một ngày kia trong thời loạn
Vui mừng, nghe hơi thở của nhau
Đợi được trùng phùng thật gian nan
Đắm chìm trong khói lửa nhân gian
Em nhận lời chàng, em xin hứa
Sẽ chẳng dễ dàng nói ly tan
(Bạch Lạc Mai)
Hỏi Phật
- Ta hỏi Phật: Vì sao không cho tất cả các cô gái dung nhan hoa nhường nguyệt thẹn?
- Phật nói: Đó chỉ là phù dung sớm nở tối tàn, dùng để che mắt người đời, chẳng vẻ đẹp nào có thể sánh bằng một trái tim trong sáng yêu thương, ta trao nó cho mỗi cô gái, nhưng có người lại để nó phủ bụi.
- Ta hỏi Phật: Thế gian vì sao có nhiều tiếc nuối như vậy?
- Phật nói: Đây là một thế giới luân hồi, luân hồi tức tiếc nuối, không có tiếc nuối, dù cho con nhiều hạnh phúc hơn cũng không cảm nhận được vui vẻ.
- Ta hỏi Phật: Làm sao để lòng người không còn cảm thấy cô đơn nữa?
- Phật nói: Mỗi trái tim sinh ra đều cô đơn mà khiếm khuyết, đa số mang theo sự khiếm khuyết này sống hết một kiếp người, chỉ vì khi gặp được một nửa khác có thể khiến nó trọn vẹn, không lơ là để lỡ thì cũng đánh mất tư cách sở hữu nó.
- Ta hỏi Phật: Nếu gặp được người có thể yêu thương, nhưng lại sợ không giữ được, nên làm thế nào?
- Phật nói: Lưu lại ít nhiều tình yêu chốn nhân gian, đối mặt ngàn trùng biến hóa nơi trần thế. Cùng người có tình, làm chuyện vui vẻ, đừng hỏi là kiếp hay là duyên.
- Ta hỏi Phật: Vì sao tuyết cứ rơi khi con đau buồn?
- Phật nói: Mùa đông sắp sửa qua đi, lưu lại chút ký ức.
- Ta hỏi Phật: Vì sao mỗi lần tuyết rơi đều là ban đêm con không để ý?
- Phật nói: Lúc không để ý con người luôn bỏ lỡ rất nhiều cảnh đẹp thật sự.
- Ta hỏi Phật : Thế qua vài ngày nữa tuyết còn rơi hay không?
- Phật nói: Đừng chỉ chăm chú vào thời kỳ này, bỏ lỡ mùa đông năm nay.
- Ta hỏi Phật: Vì sao tình cảm của con cứ luôn lên lên xuống xuống?
- Phật nói: Tất cả tự biết, tất cả tâm biết, mặt trăng có tròn khuyết, thủy triều có dâng rút, nổi nổi chìm chìm mới là thái bình.
(Thương Ương Gia Thố)
Tạng • Hoa sen
Men theo hẻm núi sông Yarlung Tsangpo đi về phía bắc, qua hẻm núi, vượt núi tuyết, xuyên rừng rậm nguyên thủy, mới có thể tìm được con đường nhỏ này.
Đó là một con đường nhỏ rách nát. Trên đường có nham thạch rạn nứt như mai rùa, đá sỏi nát vụn, trên vách núi nở ra những hoa nhỏ li ti.
Con đường này quanh co uốn khúc, ngoan cường chỉ về một nơi gọi là hoa sen.
Đúng vậy, hoa sen, loài hoa đất tuyết thuần khiết nhất của Tây Tạng. Nó ẩn nấp trong vách núi trùng điệp, là một đóa hoa đất tuyết rực rỡ chói mắt nhất.
Con đường này đã đi lại ngàn năm, tận cùng của nó là Mêdog (Mặc Thoát).
Một ngàn năm trăm năm trước, trên con đường này, lần đầu tiên có người đứng đấy.
Đó là một buổi hoàng hôn, tịch dương đỏ như máu vung vãi. Người kia đứng trên con đường này, nhìn xa xăm về phía đông của cao nguyên Thanh Tạng, lặng lẽ không nói.
Phía đông, là Cung Potala hùng vĩ tráng lệ, phía đông của Cung Potala, là dãy núi Nyenchen Tanglha, dãy núi Nyenchen Tanglha tiếp tục đi về phía đông, là đồng bằng rộng lớn. Trên đồng bằng, có một tòa thành to đẹp đàng hoàng trong truyền thuyết, tên của nó là Trường An.
Trường An, đó là một tòa thành trong truyền thuyết.
Trường An thời ấy, chính là đô thành của Thịnh Đường, đại hoàng đế sống trong thành Trường An tên Lý Thế Dân. Trinh Quán chi trị, thịnh thế càn khôn, chính là lúc Trung Hoa cường thịnh nhất. Vẻ phồn hoa của Trường An, sự khoan hậu của chính trị, con đường tơ lụa dát vàng dằng dặc vô biên, cuốn hết cát vàng, phủ lên hết phồn hoa và tang thương của Thịnh Đường.
Rất lâu, người kia cuối cùng từ từ mở miệng, ông ta hạ lệnh xây một con đường nhỏ, từ trên con đường nhỏ này đã bắt đầu lữ trình hành hương về đất thánh dài đằng đẵng.
Con đường này, điểm đầu ở Mêdog, điểm cuối ở Trường An.
Đường dài đằng đẵng, một lần đi này đã là mười năm.
Mười năm sau, bánh xe lộc cộc đè lên con đường này, in xuống vết bánh xe sâu hoắm.
Trên xe ngựa nặng nề, có tơ lụa, đồ sứ, thảo dược, lá trà, sách vở, tượng Phật, còn có một vị công chúa mỹ lệ như đá quý. Nàng chính là công chúa Văn Thành, cháu gái của Đường Thái Tông Lý Thế Dân, nàng đem đến cho Tây Tạng nền văn minh tiên tiến nhất thời đó.
Người kia tên là Songtsän Gampo (Tùng Tán Cán Bố), vị vua vĩ đại nhất của Tây Tạng. Ông đã thống nhất Tây Tạng, lại từ Trường An mang về văn minh tiên tiến.
Hoa lửa của nền văn minh này, từng giọt từng giọt, đều nhỏ trên con đường này.
Đường dài thăm thẳm, hoa nở hoa rụng, trong chớp mắt lại qua mấy trăm năm.
Con đường này, Thịnh Đường đi qua, Bắc Tống cũng đi qua, Đại Nguyên đi qua, Minh Thanh cũng đi qua, một con đường nhỏ ngoằn ngoèo khúc khuỷu, đã qua lại biết bao thương nhân và quan viên, đã ghi lại phồn thịnh và suy thoái của biết bao triều đại.
Con đường này, mãi đến thế kỷ 18, nhà văn Mỹ James Hilton còn đi qua. Ông vượt qua núi tuyết cao ngất, lội qua con sông xanh thẳm, cuối cùng đến được nơi đây, kinh ngạc trước vẻ u nhã tĩnh mịch và kín đáo ở đây. Nhiều năm sau, ông đã viết một cuốn sách – “Đường chân trời đã mất”.
Trong sách, ông đã xúc động miêu tả địa phương này: “Nơi mặt trời chiếu rọi sớm nhất, là Gyalthang của phương đông, nơi đẹp đẽ nhất của nhân gian, là Shangrila bên sông Naizi.”
Có nhiều cách nói khác nhau về Shangrila.
Có người nói Shangrila ở Zhongdian (Trung Điện) của Vân Nam, cũng có người nói là ở Daocheng (Đạo Thành) của Tứ Xuyên, tôi lại luôn kiên trì cho rằng đó là Mêdog. Chỉ có địa phương u tĩnh thánh khiết như Mêdog, mới có thể gọi là Gyalthang của phương đông, nơi đẹp đẽ nhất của nhân gian.
Sau khi cuốn sách này xuất bản, lập tức dẫn đến sự quan tâm của bên ngoài đối với Tây Tạng.
Chính là như vậy, họ đã đến, từ bốn phương tám hướng, Châu Âu và Mỹ, đội gió sương và nỗi khổ nhớ quê, bất chấp nguy hiểm chôn thân đất lạ, mang một trái tim thành kính, trèo non lội suối, ngàn dặm xa xôi mà đến, chỉ để yết kiến đóa hoa sen thánh khiết nhất ấy.
“Mêdog” tiếng Tạng có nghĩa là nơi hoa sen nở rộ. Trong “Cam Châu Nhĩ” của Đại Tạng Kinh gọi Mêdog là: “Tịnh thổ của Phật Bạch Mã Cương, thắng cảnh đặc biệt nhất trong các thắng cảnh đặc biệt.”
Trong hoàng hôn, ánh nắng sót lại của tà dương chênh chếch chiếu qua, ở nơi tận cùng của mặt trời lặn, lặng lẽ bừng nở một đóa hoa sen. Một đóa hoa sen thánh khiết nhất trên thế gian, Mêdog.
Mêdog ẩn nấp trong quần thể núi, có hồ, có núi, có thác nước, nhìn từ xa xa, phảng phất sen đỏ nở bung, một vẻ tốt lành.
Đây là một địa phương thần bí, cũng là một địa phương duy nhất ở Trung Quốc không thông đường hoàn toàn.
Vào Mêdog, nhất thiết phải đi xuyên hẻm núi, qua rừng rậm, vượt núi tuyết, lội đầm lầy, chín phần chết một phần sống, mới có thể nhìn thấy đóa hoa sen đẹp đẽ nhất của cao nguyên Thanh Tạng. Trong đó, có núi tuyết mênh mang cao hơn 4.000 mét, có hẻm núi hiểm trở của Himalayas, có rừng mưa nhiệt đới rậm rạp, có khu không người Ngari (Ali) được gọi là cấm địa của sinh mệnh, dọc đường có thể trải qua biến hóa bốn mùa xuân, hạ, thu, đông.
Đúng vậy, muốn đi Mêdog gặp gỡ, trước hết phải trải qua thử thách cửu tử nhất sinh, mới có thể nhìn thấy cảnh đẹp sen đỏ nở rộ, trăm chim cùng hót ấy. Đây là một địa phương tươi đẹp mà lại thần bí biết bao.
Tây Tạng là cực thứ ba của thế giới, Mêdog là cực thứ ba của Tây Tạng.
Chính ở nơi tịnh thổ của Phật, thắng cảnh đẹp nhất trong các thắng cảnh, chàng, Đạt Lai Lạt Ma thứ 6, Phật sống truyền kỳ của Tây Tạng, hoàng tử thơ tình Tsangyang Gyatso (Thương Ương Gia Thố) đã chào đời!
Tsangyang Gyatso sinh năm thủy trư rabqung thứ mười một của lịch Tạng, ngày 1 tháng 3 năm 1683 công nguyên. (rabqung: chu kỳ 60 năm)
Nghe nói, ngày chàng sinh ra, có hiện tượng lạ, trên bầu trời Mêdog mọc lên bảy vầng thái dương, trên trời tuôn xuống cột sáng màu vàng cực lớn, Phật quang quấn quít, khí tía xung thiên.
Theo tiên đoán của kỳ thư Tây Tạng “Thần Quỷ Di Giáo”, hiện tượng lạ này là Liên Hoa Sinh chuyển thế, tôn quý không gì sánh bằng, có thế vạn phật triều thánh, khí thế không thể cản trở.
Bảy mặt trời cùng mọc, cột vàng chiếu rọi, cảnh tượng thật là đẹp đẽ, chỉ xuất hiện vì một mình chàng!
Thế nhưng, Mêdog hiện nay, lại vĩnh viễn không có người con trai ấy. Chàng đã xa Mêdog rất nhiều năm.
Chàng trai ấy, chàng trai cô độc ngạo nghễ anh tuấn lạ lùng ấy, áo trắng áo xanh, tiêu sái rời Mêdog, từ đó lưu lạc chân trời.
Chàng cứ đi mãi trên đường, đã đi trọn ba trăm năm.
Vào đêm ấy, Tsangyang Gyatso cầm chiếc đèn lồng thoắt sáng thoắt tối, đi trên con đường nhỏ này.
Một cơn gió thổi qua, rừng cây vang tiếng xào xạc, chim chóc nơi xa thấp giọng hót. Tsangyang Gyatso thoáng rụt cổ, nhìn về phương xa, phương xa là núi màu xanh, mênh mênh mang mang. Nhìn xa hơn nữa, phương xa chỉ là một màu đen đậm đặc.
Đường nhỏ cô độc, hoa nhỏ li ti, đèn lồng chập chờn, mặt trăng dịu dàng, nơi xa phảng phất truyền đến tiếng gọi của người tình. Tất cả, đều đã thành hồi ức vĩnh viễn trong đáy lòng chàng.
Chàng suốt đời đều nhớ nhung quê hương, nhớ nhung con đường nhỏ này, thế nhưng hết một đời này chàng lại chẳng có cơ hội trở về nữa. Con đường nhỏ ấy của quê nhà, đã định sẵn chỉ có nhớ lại trong mơ. Con đường về nhà này, quanh co khúc khuỷu, vĩnh viễn không có tận cùng.
Nhiều năm sau, tình cảnh ấy vẫn hiển hiện trong lòng chàng. Sau này, chàng đã viết một bài thơ, kỷ niệm cuộc tình này:
Từ hướng đông lên vượt khỏi đồi,
Bóng trăng lồng lộng vẻ vui tươi.
Trăng mang hình thể vào tâm tưởng,
Khuôn mặt người yêu hớn hở cười.
(Hoàng Nguyên Chương dịch)
Ba trăm năm sau, cũng có một ca sĩ đơn côi, cảm nhận được nỗi cô độc sâu sắc này.
Người ca sĩ này, một cây đàn guitar, một bộ đồ jeans, đã đem đến cho giới ca nhạc biết bao truyền kỳ. Anh là John Denver, nhiều năm sau, anh đã hát: “Đường nhỏ thôn quê, đưa ta về nhà”. Anh tha thiết yêu quê hương mình, yêu con đường xập xệ ấy. Con đường nhỏ quanh co ấy, đã lay động con tim biết bao kẻ lãng du chân trời.
Thế nhưng, con đường nhỏ ngoằn ngoèo ấy, Tsangyang Gyatso lại chẳng có cơ hội đi một lần nữa.
Tsangyang Gyatso đã thấm mệt. Chàng đã đi trên đường quá lâu, chàng thật sự quá mệt mỏi. Cuối cùng chàng quay đầu nhìn một thoáng, con đường uốn lượn kia, là xa xăm như thế, xa đến hết một đời người cũng không trở về được.
Thế là chàng lẳng lặng nằm xuống trên con đường nhỏ ấy, hướng về phương hướng của hoa sen.
Cái chết giống như đêm tối, tĩnh mịch mà yên lành, nơi tận cùng của đêm tối, là đồng trống xa xôi, sương mù lan tỏa, sông nước mênh mang, buổi chiều hôm, phảng phất có mấy tiếng sói tru dài, như than như khóc, rất mực thê lương.
Trong màn đêm, Tsangyang Gyatso cuối cùng đã ngủ vùi.
Đường nhỏ thôn quê, xin đưa ta về nhà.
(Tử Phi)
Ở trên đỉnh núi phía đông
Ở trên đỉnh núi phía đông,
Trăng soi vằng vặc, thinh không rạng ngời.
Giai nhân khuôn mặt tươi cười,
Hiện lên trước mắt, in nơi đáy lòng.
Tuyết rơi đã bảy ngày, hồ thánh Namtso một màu thánh khiết. Mấy chú hạc trắng nhàn nhã lượn vòng trên mặt hồ.
Ngài ngẩng đầu, ngắm hạc trắng chao liệng trên bầu trời, chúng phải chăng sẽ bay về hướng Litang?
Litang, nơi nàng ở. Vì nàng, nước sông ở đó biến thành dòng sữa, đất hoang biến thành mục trường, gió hú biến thành ca hát. Đó là miền đất tốt lành nhất.
Ngài khẩn cầu cao xanh, hy vọng ánh trăng dịu dàng nhất và đóa hoa cách tang tươi đẹp nhất, có thể, khẽ khàng rơi xuống Litang, rơi bên người Mã Cát A Mễ.
Ánh trăng mềm mại dường ấy, đóa hoa nõn nà dường ấy, cô gái xinh đẹp dường ấy.
Mặt trăng mọc lên trên đỉnh núi chót vót, trăng đến giữa trời sáng tỏ, một vầng trăng trong trẻo lành lạnh.
Ngài ngẩng đầu ngắm trăng sáng vằng vặc, trăng cũng như con mắt ôn nhu đăm đăm nhìn Ngài. Ngài hướng về mặt trăng suy tư, có cô gái dưới núi chậm bước đi đến, nhưng người trong lòng Ngài nhớ mong ở đâu?
Mặt trăng dần dần đi xa, ánh trăng như nước, chiếu sáng vết thương lòng của Ngài. Vì thuần khiết của Ngài, thành kính của Ngài, tình yêu của Ngài, khoảnh khắc đó, cả núi tuyết đều trở nên thần thánh.
Vào đêm đông lạnh lẽo vắng vẻ này, Thương Ương Gia Thố, tôi cũng đang cảm nhận nỗi cô độc của Ngài. Mặt trăng sáng trong lạnh lẽo chiếu trên người Ngài, tôi có thể chạm đến vui sướng của Ngài, tịch mịch của Ngài, tình yêu của Ngài.
Tôi phảng phất nhìn thấy Ngài, mỗi bước một nhanh, vì nàng cầu phúc ở bên hồ, Ngài kiên trì cầu khấn dưới trăng, khao khát được nhìn một thoáng dung nhan tuyệt thế của nàng.
Giai nhân đã đi, ta sao lẻ bóng?
Hoa tuyết, từng phiến từng phiến rơi xuống, rơi trên đầu Ngài, người Ngài, tan chảy thành nước, tựa như ánh trăng thanh lạnh xa vắng, từng giọt từng giọt gieo rắc trên mặt đất.
Đúng thế, hoa tuyết rực rỡ, huy hoàng, thanh khiết lạnh lùng, giống như người con gái đơn côi, bình tĩnh đi qua dưới pháo hoa.
Tôi cũng đứng sau lưng Ngài, bình tĩnh đi qua. Ngài ngẩng đầu, ngắm hạc trắng bay lượn trên bầu trời, hạc trắng nhởn nhơ bay qua, chỉ lưu lại nước biếc dập dờn tự chảy xuôi.
Ngài rốt cuộc là lữ khách cô độc, nỗi cô độc của Ngài, tựa như khói mây, tịch mịch hiếm có, bất kể giữa đám đông chen chúc, bến đò ồn ào, phố xá nhộn nhịp, ngõ đá yên tĩnh, đồng nội trống trải, đỉnh núi hùng vĩ, Ngài đều có thể cảm nhận được nỗi cô độc cách tuyệt với đời ấy.
Nỗi cô độc này, không thể diễn tả, chỉ có bản thân Ngài mới cảm nhận được.
Phải rồi, người quá đỗi siêu thoát thế tục, đều là cô độc.
Ngài là Phật sống, vốn nên chuyên tâm nghiên cứu Phật học, bên đèn dầu khói xanh tượng Phật cổ kính cảm ngộ chúng sinh; ai bảo Ngài lại là thiếu niên đắc chí, phong độ tiêu sái, còn viết được thơ hay, văn chương tung hoành, tài hoa xuất chúng, khiến cho bốn bề ca vang, đầy ngõ truyền xướng. Ngài làm thơ hay, hào phóng cũng được, Ngài muôn ngàn lần không nên tuổi trẻ ngông cuồng, phóng ngựa uống rượu, phong lưu phóng khoáng, lại phải lòng một cô gái chốn phàm trần như vậy!
Có lẽ, nàng cũng cô đơn. Giống Ngài.
Một cô gái quá đẹp quá kiêu, cũng cô đơn. Vì quá đỗi xinh đẹp và kiêu ngạo, khiến phụ nữ ghen ghét, khiến đàn ông tự thẹn kém cỏi. Một cô gái tuyệt thế dường ấy, thương tiếc bản thân, sẽ không dễ dàng yêu một chàng trai. Nàng sẽ luôn đứng ở phương xa, kiên trì chờ đợi một người, chỉ có một người, một thiếu niên hào quang chói mắt, trẻ tuổi ngông cuồng, tài hoa xuất chúng, kinh hãi thế tục, ung dung tự tại, áo trắng áo xanh, tiêu sái đi qua.
Phong thái diễm lệ vô song của nàng, cũng chỉ vì một mình Ngài bừng nở.
Trăng soi vằng vặc, thinh không rạng ngời.
Giai nhân khuôn mặt tươi cười,
Hiện lên trước mắt, in nơi đáy lòng.
Tuyết rơi đã bảy ngày, hồ thánh Namtso một màu thánh khiết. Mấy chú hạc trắng nhàn nhã lượn vòng trên mặt hồ.
Ngài ngẩng đầu, ngắm hạc trắng chao liệng trên bầu trời, chúng phải chăng sẽ bay về hướng Litang?
Litang, nơi nàng ở. Vì nàng, nước sông ở đó biến thành dòng sữa, đất hoang biến thành mục trường, gió hú biến thành ca hát. Đó là miền đất tốt lành nhất.
Ngài khẩn cầu cao xanh, hy vọng ánh trăng dịu dàng nhất và đóa hoa cách tang tươi đẹp nhất, có thể, khẽ khàng rơi xuống Litang, rơi bên người Mã Cát A Mễ.
Ánh trăng mềm mại dường ấy, đóa hoa nõn nà dường ấy, cô gái xinh đẹp dường ấy.
Mặt trăng mọc lên trên đỉnh núi chót vót, trăng đến giữa trời sáng tỏ, một vầng trăng trong trẻo lành lạnh.
Ngài ngẩng đầu ngắm trăng sáng vằng vặc, trăng cũng như con mắt ôn nhu đăm đăm nhìn Ngài. Ngài hướng về mặt trăng suy tư, có cô gái dưới núi chậm bước đi đến, nhưng người trong lòng Ngài nhớ mong ở đâu?
Mặt trăng dần dần đi xa, ánh trăng như nước, chiếu sáng vết thương lòng của Ngài. Vì thuần khiết của Ngài, thành kính của Ngài, tình yêu của Ngài, khoảnh khắc đó, cả núi tuyết đều trở nên thần thánh.
Vào đêm đông lạnh lẽo vắng vẻ này, Thương Ương Gia Thố, tôi cũng đang cảm nhận nỗi cô độc của Ngài. Mặt trăng sáng trong lạnh lẽo chiếu trên người Ngài, tôi có thể chạm đến vui sướng của Ngài, tịch mịch của Ngài, tình yêu của Ngài.
Tôi phảng phất nhìn thấy Ngài, mỗi bước một nhanh, vì nàng cầu phúc ở bên hồ, Ngài kiên trì cầu khấn dưới trăng, khao khát được nhìn một thoáng dung nhan tuyệt thế của nàng.
Giai nhân đã đi, ta sao lẻ bóng?
Hoa tuyết, từng phiến từng phiến rơi xuống, rơi trên đầu Ngài, người Ngài, tan chảy thành nước, tựa như ánh trăng thanh lạnh xa vắng, từng giọt từng giọt gieo rắc trên mặt đất.
Đúng thế, hoa tuyết rực rỡ, huy hoàng, thanh khiết lạnh lùng, giống như người con gái đơn côi, bình tĩnh đi qua dưới pháo hoa.
Tôi cũng đứng sau lưng Ngài, bình tĩnh đi qua. Ngài ngẩng đầu, ngắm hạc trắng bay lượn trên bầu trời, hạc trắng nhởn nhơ bay qua, chỉ lưu lại nước biếc dập dờn tự chảy xuôi.
Ngài rốt cuộc là lữ khách cô độc, nỗi cô độc của Ngài, tựa như khói mây, tịch mịch hiếm có, bất kể giữa đám đông chen chúc, bến đò ồn ào, phố xá nhộn nhịp, ngõ đá yên tĩnh, đồng nội trống trải, đỉnh núi hùng vĩ, Ngài đều có thể cảm nhận được nỗi cô độc cách tuyệt với đời ấy.
Nỗi cô độc này, không thể diễn tả, chỉ có bản thân Ngài mới cảm nhận được.
Phải rồi, người quá đỗi siêu thoát thế tục, đều là cô độc.
Ngài là Phật sống, vốn nên chuyên tâm nghiên cứu Phật học, bên đèn dầu khói xanh tượng Phật cổ kính cảm ngộ chúng sinh; ai bảo Ngài lại là thiếu niên đắc chí, phong độ tiêu sái, còn viết được thơ hay, văn chương tung hoành, tài hoa xuất chúng, khiến cho bốn bề ca vang, đầy ngõ truyền xướng. Ngài làm thơ hay, hào phóng cũng được, Ngài muôn ngàn lần không nên tuổi trẻ ngông cuồng, phóng ngựa uống rượu, phong lưu phóng khoáng, lại phải lòng một cô gái chốn phàm trần như vậy!
Có lẽ, nàng cũng cô đơn. Giống Ngài.
Một cô gái quá đẹp quá kiêu, cũng cô đơn. Vì quá đỗi xinh đẹp và kiêu ngạo, khiến phụ nữ ghen ghét, khiến đàn ông tự thẹn kém cỏi. Một cô gái tuyệt thế dường ấy, thương tiếc bản thân, sẽ không dễ dàng yêu một chàng trai. Nàng sẽ luôn đứng ở phương xa, kiên trì chờ đợi một người, chỉ có một người, một thiếu niên hào quang chói mắt, trẻ tuổi ngông cuồng, tài hoa xuất chúng, kinh hãi thế tục, ung dung tự tại, áo trắng áo xanh, tiêu sái đi qua.
Phong thái diễm lệ vô song của nàng, cũng chỉ vì một mình Ngài bừng nở.
(Tử Phi)
Kiến dữ bất kiến
Nàng gặp, hay không gặp ta
Ta vẫn ở đây
Không mừng, không lụy
Nàng nhớ, hay không nhớ ta
Tình vẫn ở đây
Không còn, không mất
Nàng yêu, hay không yêu ta
Yêu vẫn ở đây
Không thêm, không bớt
Nàng theo, hay không theo ta
Tay ta vẫn nơi nàng
Không lơi, không siết
Hãy ngả vào lòng ta
Hoặc là
Dành cho ta một chỗ trong trái tim nàng
Bình lặng yêu nhau
Âm thầm thương tưởng.
Thầm đọc bài thơ này, vừa nhắm mắt lại, đã đi vào một cảnh giới duy mỹ.
Đó là một vùng đất tuyết sâu thẳm trang nghiêm, một màu trắng xóa mênh mang mà xa xăm. Không người. Không âm thanh. Không cây cối. Trên trời trống trải, không có chim chóc bay qua.
Trước mặt có một dòng chảy màu đen, nước sông êm đềm khoan thai, chầm chậm chảy, phảng phất một tấm lụa màu đen thật dài, vĩnh viễn không nhìn thấy bờ bến.
Hoa tuyết, từ bốn phương tám hướng thổi đến, hoa tuyết vờn bay đầy trời, lượn vòng, múa may, dâng lên, lặp đi lặp lại rồi từ từ rơi xuống.
Ngài và nàng, tựa sát vào nhau, chân trần, từng bước từng bước đi trên đất tuyết. Hoa tuyết vạch qua bầu trời bao la, rơi xuống trên đầu, trên mình, trên chân hai người, tan chảy thành nước, chẳng còn nhìn thấy một chút vết tích.
Tuyết lớn rơi đầy, trong chớp mắt đã phủ kín dấu chân khi đến, không tìm lại được con đường vốn có nữa.
Ngài nhìn nàng, thương xót mà quyết đoán, Ngài cứ thế dắt nàng kiên quyết đi tiếp, không có phương hướng, cũng không có mục tiêu, một con đường nhỏ tùy ý dưới bóng mây, đầu kia của bầu trời, tận cùng của thế giới, cứ thế cùng nàng đi mãi, dù kết quả ra sao, dù con đường trước mặt có bao xa, Ngài chỉ cần nắm chặt bàn tay nhỏ bé của nàng, chính là nắm được cả thế giới, chỉ cần hai người có thể ở bên nhau, Ngài sẽ không hề nhìn lại mà đi tiếp như thế.
Tận cùng của tận cùng của con đường là ở đâu?
Ngài không biết, cũng không muốn biết. Chỉ cần nàng vẫn bầu bạn bên Ngài, Ngài chẳng buồn suy nghĩ những việc khác, chỉ một mạch đi về phía trước. Không có đường lùi, sẽ không lùi lại. Ta sẽ nắm bàn tay nhỏ bé của nàng, phương xa của phương xa của phương xa, tận cùng của tận cùng của con đường, ta và nàng cùng đi.
Hoa tuyết, từng phiến từng phiến nở bung, rơi rụng chốn trần thế, tất cả dường như trở về sự thuần khiết nguyên thủy nhất. Ngài nắm tay nàng, chân trần đi trong tuyết lớn mênh mông, sau lưng, là một vùng đất tuyết bao la.
Không thể tưởng tượng.
Giống như một bức tranh thuở khai thiên lập địa, lúc bắt đầu của trời đất, buổi ban sơ của vạn vật, một đôi tình nhân chính là như thế tay nắm tay, đi về hướng tận cùng của tận cùng của hồng hoang.
Một tình yêu vì nghĩa không hối.
Rất nhiều người điên cuồng si luyến bài thơ này, đơn giản, trong sáng, mang một chút đau buồn man mác.
Có người nói, bài thơ này chỉ hai câu trên là do Thương Ương Gia Thố viết, phần dưới là người đời sau thêm vào trong khi truyền xướng, đã không thể khảo chứng. Thế nhưng, vẻn vẹn hai dòng chữ này, đơn sơ linh hoạt, nhuần nhị đẹp đẽ, vài nét bút sơ sài, giống như thủy mặc, đã phác họa ra một bức tranh tình yêu tuyệt mỹ.
Lòng thành thì linh.
Thương Ương Gia Thố, tôi hiểu rõ Ngài, giống như tôi hiểu rõ bản thân. Nỗi cô độc của Ngài, niềm thương cảm của Ngài, ưu sầu không thể nói thành lời của Ngài.
Đúng thế, Ngài là Phật sống Thương Ương Gia Thố, tượng trưng của Tây Tạng, thần của Tây Tạng, Ngài có thân phận và trách nhiệm của mình, những thứ ấy, đều không cho phép Ngài yêu đương. Nhưng, tình yêu như thế, há nói không yêu là không yêu sao? Đã biết yêu là sai, không yêu cũng là sai, một bầu sầu khổ ly biệt đó, lại cùng ai bày tỏ?
Khó trách trong câu chữ thuần khiết của Ngài thổ lộ ra niềm thương cảm như vậy, khó trách giữa lời thơ có nỗi u uất như vậy, tình yêu này, vốn dĩ vừa bắt đầu đã là sai!
Sai, sai, sai.
Tâm ý tương thông. Một buổi hoàng hôn năm trăm năm trước, một nhà thơ lớn đời Tống cũng từng rầu rĩ như thế. Trong lựa chọn đau khổ dường ấy, ông nhiều lần hỏi bản thân, rốt cuộc là yêu, hay là không yêu?
Nhà thơ ấy chính là Lục Du. Trong tác phẩm nổi tiếng "Thoa đầu phụng", ông miêu tả tình cảm thế này:
“Tay mềm yếu, Rượu Hoàng Đằng, Thành xuân sắc, liễu xanh tường. Gió đông ác, Ân tình bạc, Nỗi lòng buồn bã, Tháng năm tan tác. Sai! Sai! Sai!
Xuân như cũ, Người hao gầy, Khăn lụa hồng đẫm lệ hoen. Hoa đào rơi, Bến vắng lặng, Núi thề còn đây, Thư tình khó đề. Đừng! Đừng! Đừng!”
Một lòng sầu muộn, mấy năm chia lìa. Sai sai sai! Núi thề còn đó, thư tình khó ngỏ. Đừng đừng đừng!
Hóa ra tình yêu xưa nay đều là như thế, không phải là “Sai sai sai!” thì là “Đừng đừng đừng!” Có tương tư vô vọng như thế, mới có thơ tình thuần mỹ như thế, thảo nào được người đời truyền tụng.
Tuy nhiên, Thương Ương Gia Thố rốt cuộc chẳng phải là Lục Du, Ngài không có vẻ khoát đạt gửi tình vào non nước như thế, Tây Tạng cũng không có hoàn cảnh chính trị thông thoáng như thế của Trung Nguyên. Lục Du có thể tùy ý cưỡi một chú lừa còm, một túi thơ, một bầu rượu, bèn có thể lưu lạc chân trời, chẳng quản trời long đất lở, nhân gian buồn vui!
Nhưng Ngài không thể!
Ngài là Phật sống, là linh hồn của Tây Tạng, là lãnh tụ tinh thần của Tây Tạng. Trên người Ngài, gánh vác quá nhiều vinh nhục và mong đợi, quá nhiều sứ mệnh và hoài bão, khiến Ngài không thể hít thở, không thể vùng vẫy thoát ra.
(Các bài thơ, từ "Kiến dữ bất kiến" và "Thoa đầu phụng" sử dụng bản dịch có sẵn trên mạng)
Không mừng, không lụy
Nàng nhớ, hay không nhớ ta
Tình vẫn ở đây
Không còn, không mất
Nàng yêu, hay không yêu ta
Yêu vẫn ở đây
Không thêm, không bớt
Nàng theo, hay không theo ta
Tay ta vẫn nơi nàng
Không lơi, không siết
Hãy ngả vào lòng ta
Hoặc là
Dành cho ta một chỗ trong trái tim nàng
Bình lặng yêu nhau
Âm thầm thương tưởng.
Thầm đọc bài thơ này, vừa nhắm mắt lại, đã đi vào một cảnh giới duy mỹ.
Đó là một vùng đất tuyết sâu thẳm trang nghiêm, một màu trắng xóa mênh mang mà xa xăm. Không người. Không âm thanh. Không cây cối. Trên trời trống trải, không có chim chóc bay qua.
Trước mặt có một dòng chảy màu đen, nước sông êm đềm khoan thai, chầm chậm chảy, phảng phất một tấm lụa màu đen thật dài, vĩnh viễn không nhìn thấy bờ bến.
Hoa tuyết, từ bốn phương tám hướng thổi đến, hoa tuyết vờn bay đầy trời, lượn vòng, múa may, dâng lên, lặp đi lặp lại rồi từ từ rơi xuống.
Ngài và nàng, tựa sát vào nhau, chân trần, từng bước từng bước đi trên đất tuyết. Hoa tuyết vạch qua bầu trời bao la, rơi xuống trên đầu, trên mình, trên chân hai người, tan chảy thành nước, chẳng còn nhìn thấy một chút vết tích.
Tuyết lớn rơi đầy, trong chớp mắt đã phủ kín dấu chân khi đến, không tìm lại được con đường vốn có nữa.
Ngài nhìn nàng, thương xót mà quyết đoán, Ngài cứ thế dắt nàng kiên quyết đi tiếp, không có phương hướng, cũng không có mục tiêu, một con đường nhỏ tùy ý dưới bóng mây, đầu kia của bầu trời, tận cùng của thế giới, cứ thế cùng nàng đi mãi, dù kết quả ra sao, dù con đường trước mặt có bao xa, Ngài chỉ cần nắm chặt bàn tay nhỏ bé của nàng, chính là nắm được cả thế giới, chỉ cần hai người có thể ở bên nhau, Ngài sẽ không hề nhìn lại mà đi tiếp như thế.
Tận cùng của tận cùng của con đường là ở đâu?
Ngài không biết, cũng không muốn biết. Chỉ cần nàng vẫn bầu bạn bên Ngài, Ngài chẳng buồn suy nghĩ những việc khác, chỉ một mạch đi về phía trước. Không có đường lùi, sẽ không lùi lại. Ta sẽ nắm bàn tay nhỏ bé của nàng, phương xa của phương xa của phương xa, tận cùng của tận cùng của con đường, ta và nàng cùng đi.
Hoa tuyết, từng phiến từng phiến nở bung, rơi rụng chốn trần thế, tất cả dường như trở về sự thuần khiết nguyên thủy nhất. Ngài nắm tay nàng, chân trần đi trong tuyết lớn mênh mông, sau lưng, là một vùng đất tuyết bao la.
Không thể tưởng tượng.
Giống như một bức tranh thuở khai thiên lập địa, lúc bắt đầu của trời đất, buổi ban sơ của vạn vật, một đôi tình nhân chính là như thế tay nắm tay, đi về hướng tận cùng của tận cùng của hồng hoang.
Một tình yêu vì nghĩa không hối.
Rất nhiều người điên cuồng si luyến bài thơ này, đơn giản, trong sáng, mang một chút đau buồn man mác.
Có người nói, bài thơ này chỉ hai câu trên là do Thương Ương Gia Thố viết, phần dưới là người đời sau thêm vào trong khi truyền xướng, đã không thể khảo chứng. Thế nhưng, vẻn vẹn hai dòng chữ này, đơn sơ linh hoạt, nhuần nhị đẹp đẽ, vài nét bút sơ sài, giống như thủy mặc, đã phác họa ra một bức tranh tình yêu tuyệt mỹ.
Lòng thành thì linh.
Thương Ương Gia Thố, tôi hiểu rõ Ngài, giống như tôi hiểu rõ bản thân. Nỗi cô độc của Ngài, niềm thương cảm của Ngài, ưu sầu không thể nói thành lời của Ngài.
Đúng thế, Ngài là Phật sống Thương Ương Gia Thố, tượng trưng của Tây Tạng, thần của Tây Tạng, Ngài có thân phận và trách nhiệm của mình, những thứ ấy, đều không cho phép Ngài yêu đương. Nhưng, tình yêu như thế, há nói không yêu là không yêu sao? Đã biết yêu là sai, không yêu cũng là sai, một bầu sầu khổ ly biệt đó, lại cùng ai bày tỏ?
Khó trách trong câu chữ thuần khiết của Ngài thổ lộ ra niềm thương cảm như vậy, khó trách giữa lời thơ có nỗi u uất như vậy, tình yêu này, vốn dĩ vừa bắt đầu đã là sai!
Sai, sai, sai.
Tâm ý tương thông. Một buổi hoàng hôn năm trăm năm trước, một nhà thơ lớn đời Tống cũng từng rầu rĩ như thế. Trong lựa chọn đau khổ dường ấy, ông nhiều lần hỏi bản thân, rốt cuộc là yêu, hay là không yêu?
Nhà thơ ấy chính là Lục Du. Trong tác phẩm nổi tiếng "Thoa đầu phụng", ông miêu tả tình cảm thế này:
“Tay mềm yếu, Rượu Hoàng Đằng, Thành xuân sắc, liễu xanh tường. Gió đông ác, Ân tình bạc, Nỗi lòng buồn bã, Tháng năm tan tác. Sai! Sai! Sai!
Xuân như cũ, Người hao gầy, Khăn lụa hồng đẫm lệ hoen. Hoa đào rơi, Bến vắng lặng, Núi thề còn đây, Thư tình khó đề. Đừng! Đừng! Đừng!”
Một lòng sầu muộn, mấy năm chia lìa. Sai sai sai! Núi thề còn đó, thư tình khó ngỏ. Đừng đừng đừng!
Hóa ra tình yêu xưa nay đều là như thế, không phải là “Sai sai sai!” thì là “Đừng đừng đừng!” Có tương tư vô vọng như thế, mới có thơ tình thuần mỹ như thế, thảo nào được người đời truyền tụng.
Tuy nhiên, Thương Ương Gia Thố rốt cuộc chẳng phải là Lục Du, Ngài không có vẻ khoát đạt gửi tình vào non nước như thế, Tây Tạng cũng không có hoàn cảnh chính trị thông thoáng như thế của Trung Nguyên. Lục Du có thể tùy ý cưỡi một chú lừa còm, một túi thơ, một bầu rượu, bèn có thể lưu lạc chân trời, chẳng quản trời long đất lở, nhân gian buồn vui!
Nhưng Ngài không thể!
Ngài là Phật sống, là linh hồn của Tây Tạng, là lãnh tụ tinh thần của Tây Tạng. Trên người Ngài, gánh vác quá nhiều vinh nhục và mong đợi, quá nhiều sứ mệnh và hoài bão, khiến Ngài không thể hít thở, không thể vùng vẫy thoát ra.
(Các bài thơ, từ "Kiến dữ bất kiến" và "Thoa đầu phụng" sử dụng bản dịch có sẵn trên mạng)
(Tử Phi)
Bất phụ Như Lai bất phụ khanh
Tằng lự đa tình tổn phạm hành,
Nhập sơn hựu khủng biệt khuynh thành.
Thế gian an đắc song toàn pháp,
Bất phụ Như Lai bất phụ khanh.
Đọc Thương Ương Gia Thố, phải nấu trà đậm, đốt hương Tạng, để trà đặc sôi sục trên lò đất đỏ, hương Tạng sực nức lan tỏa khắp nhà, vẻ hoa mỹ và đau buồn của thơ ca cũng theo mùi hương chảy tràn bốn phía. Lúc đó, mới có thể hiểu được thiền tông và bi thương trong thơ, chạm đến nỗi nhớ da diết của nhà thơ.
Trà, nhất định phải là trà thanh khoa của Tây Tạng, mang sức lực và sinh khí vô hạn. Hương thì dùng hương Tạng, trong kinh điển Phật giáo, hương thường dùng để ví với đức trì giới của người tu hành, là vật may mắn phải có của người tu hành muốn thành tựu chân ngôn, xông hương rộng khắp sẽ thanh tịnh nghiệp chướng thù oán...
Trong “Giới Đức Hương Kinh”, Phật Đà nói với A Nan, chỉ có hương thơm của trì giới không chịu ảnh hưởng của gió thuận hay nghịch, có thể xông khắp mười phương. Còn trong “Lục Tổ Đàn Kinh”, cũng dùng hương để ví với ngũ phần pháp thân, gọi là “ngũ phần pháp thân hương”.
Bài thơ này, nhất định phải tắm gội hương Tạng, bầu bạn Phạm âm, mới có thể lĩnh hội được cảnh giới của nó.
“Tằng lự đa tình tổn phạm hành, Nhập sơn hựu khủng biệt khuynh thành. Thế gian an đắc song toàn pháp, Bất phụ Như Lai bất phụ khanh.”
Đọc kỹ, có chỗ giống “Xứ Tuyết” dưới ngòi bút của Yasunari Kawabata, bi ai, tĩnh mịch, diễm lệ, khắc nghiệt, mang tượng trưng và ý vị của Thiền tông, tuôn chảy vẻ đẹp của bi thương.
Tôi nghĩ, Kawabata năm xưa chắc cũng đã đọc thơ của Thương Ương Gia Thố, vì vậy mới viết được câu chữ hoa lệ mà bi thương dường này.
Bài thơ này, cũng có người dịch thành: “Tự tàm đa tình ô phạm hành, Nhập sơn hựu khủng ngộ khuynh thành. Thế gian na đắc song toàn pháp, Bất phụ Như Lai bất phụ khanh?”
Bản dịch trước là tự thuật, bản dịch sau đã có đôi chút ý nghi vấn. So sánh với nhau, bản trước từ ngữ hay hơn, nhưng câu hỏi của bản sau lại có một ý vị riêng.
Thương Ương Gia Thố, Ngài vốn là một vị Phật sống tu hành, lại yêu một cô gái ngoài đời, tình yêu này, vừa bắt đầu đã là sai.
Nước có phép nước, nhà có phép nhà, tăng nhân có giới luật của tăng nhân. Bắt đầu từ thời Tùng Tán Cán Bố, đã có “Thập Thiện Kinh” quy định tu vi. Trong đó ở phần “Thập Giới” đã quy định rõ ràng: “Bất sát, bất đạo, bất dâm, bất lưỡng thiệt, bất ác khẩu, bất vọng ngôn, bất ỷ ngữ, bất tham, bất sân, bất si.” (Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói hai lời, không nói lời ác hại, không nói xằng bậy, không nói lời thêu dệt, không tham lam, không giận dữ, không si mê)
Giới luật cứng rắn của Thập Giới, trong đó có một điều là: Bất dâm (Không tà dâm).
Thương Ương Gia Thố, Ngài là Phật sống, nếu Ngài cùng người phàm yêu nhau, đó chính là “dâm”.
Đáng buồn thay, vốn là một lãng tử đa tình, một ngày kia bị nhận định là Phật sống, tức thì cả tư cách yêu một người cũng không có!
Phật sống như vậy, giới luật như vậy, dù là thành Phật lại có ích gì!
Ngài cũng từng muốn từ bỏ, muốn quên cô gái ấy. Ngài cầu xin Phật pháp cứu giúp, lật sách kinh, niệm kinh văn, càng niệm, trong lòng càng rối loạn. Là kinh rối loạn, hay là tâm rối loạn?
Ngài dứt khoát đặt sách kinh xuống, xoay kinh luân, kinh luân làm bằng bạc ròng xoay hết một vòng lại một vòng, Ngài biết, chuyển kinh luân xoay một vòng, sẽ bằng thành kính niệm kinh một trăm lần, Ngài xoay kinh luân hết lần này đến lần khác, chỉ muốn cứu rỗi linh hồn mình.
Bồ Đề Sư Tử Thượng Sư dạy: “Công đức xoay chuyển kinh luân, nếu xoay một vòng, tức là bằng tụng niệm “Đại Tạng Kinh” một lần; nếu xoay hai vòng, bằng tụng niệm tất cả kinh Phật; nếu xoay ba vòng, có thể tiêu trừ tất cả tội chướng từ sở thân, khẩu, ý; nếu xoay mười vòng, có thể tiêu trừ tội chướng như Tu Di Sơn Vương.”
Chuyển kinh luân xoay nhanh, kinh văn lần lượt lướt qua, Phật pháp vô biên, mênh mênh mang mang, nhưng Ngài dần dần phát hiện, bản thân khổ sở cầu xin trước Đức Phật, không phải vì siêu thoát, lại chỉ vì chạm được ngón tay nàng vuốt qua kinh luân.
Cuối cùng, trong đàn hương ấy, trong Phạm âm ấy, Ngài từ từ mở mắt, hình bóng của nàng dâng lên đầy mắt đầy tim.
Kinh Phật cho Ngài biết, đây là tâm ma, ma do tâm sinh, cần chặt đứt tơ tình, một lòng hướng Phật.
Thế nhưng, trong lòng Ngài dần dần hiện lên một cô gái mắt sáng cười tươi, từng nét chau mày mỉm miệng của nàng, từng cử động của nàng…
——Ngài không thể không tưởng nhớ.
Tình yêu chính là ma chướng, trong khoảnh khắc đã đánh tan tu hành khổ tâm mấy mươi năm của Ngài.
Ngài cuối cùng mở mắt. Tâm của Ngài đã rối loạn. Ngài rốt cuộc vẫn là đã khuất phục, đã lùi lại, đã thỏa hiệp.
Ngài đã yêu, yêu một cách không thể kìm chế, tình yêu ấy điên cuồng tuyệt vọng, tình yêu ấy bất chấp thân phận và địa vị.
Cũng chỉ có tình yêu nồng nàn tuyệt vọng như thế, mới có thể viết ra bài thơ nóng bỏng đau xót như thế, không có cho đi, thì chẳng có nhận lại.
(Tử Phi)
Âm dương cách trở khỏi nặng lòng
Một là đừng gặp gỡ, để khỏi quyến luyến nhau.
Hai là đừng quen biết, để khỏi tương tư nhiều.
Ba là đừng bầu bạn, đỡ vương mang dây nợ.
Bốn là đừng tiếc nhớ, khỏi hoài niệm đêm thâu.
Năm là đừng yêu nhau, khỏi lỡ mai đoạn tuyệt.
Sáu là đừng chạm mặt, để khỏi phải tương phùng.
Bảy là đừng hiểu lầm, để khỏi sinh chia rẽ.
Tám là đừng thề hứa, để khỏi phải dùng dằng.
Chín là đừng cậy trông, để khỏi thành phụ thuộc.
Mười là đừng tái ước, để khỏi phải bên nhau.
Nhưng vừa gặp đã nên quen biết, mà gặp cũng như không.
Chỉ muốn cùng người quyết tuyệt, âm dương cách trở khỏi nặng lòng.
(Bản dịch thơ trên mạng)
Đọc thơ tình thuần mỹ như vậy, nên chọn một đêm mưa, pha một ấm trà xanh, làn khói bảng lảng, mưa rơi rả rích, mấy tiếng nhạn kêu, chầm chậm tô vẽ ra ý thơ tuyệt mỹ.
Hoặc là, vào một ngày đông lạnh lẽo tuyết rơi, trên mặt đất phủ một tầng tuyết dày, hâm một hũ rượu ngon, vừa uống vừa hát, nhởn nhơ nhàn nhã đọc thơ, cũng cảm khái, cũng than thở, cũng ngẫu hứng đàn tấu một khúc Đông Phong Phá. Trong say sưa mê ly, ngắm tuyết bay dưới trăng, giọt giọt xót xa, nghe trên chín tầng mây, ai đó ngâm nga ca dao âu sầu?
Cứ thế đọc tiếp từng bài từng bài thơ cổ xưa, ngoảnh đầu lại, đã là trăm năm.
“Một là đừng gặp gỡ, để khỏi quyến luyến nhau. Hai là đừng quen biết, để khỏi tương tư nhiều.”
Vừa gặp gỡ, đã quyến luyến. Vừa quen biết, đã tương tư.
Làm sao cho ta gặp được người?
Là ở đầu phố, ở cuối ngõ, nơi bến đò, trên đường đi, là tại một ngõ nhỏ lát đá phiến xanh nào đó, trên trời mưa bụi mông lung bay, dưới đất gió nhẹ thổi, trong không khí tràn đầy mùi cỏ xanh như có như không.
Nàng đã đến, váy dài vải bông trắng tinh, tóc dài phơ phất, cầm một chiếc ô vải dầu, lẻ loi mà cao ngạo đi qua.
Chàng lúc đó, đang ở trên đường.
Chàng vốn là một lữ khách cô độc, cũng từng yêu, cũng từng hận, bước chân gấp gáp, hành lý nặng nề, đường đi gian khó, dọc đường đã thưởng thức phong cảnh ven đường, cũng đã nếm đủ nỗi tịch mịch của hành trình.
Chính là vào buổi chiều trời mưa ấy, mưa nhỏ tí tách trên phiến đá xanh, hai người gặp nhau.
Nàng là một cô gái cao ngạo như thế, cao ngạo và cố chấp cả đời. Chàng là một lữ khách cô độc như thế, dáng vẻ vội vã, chưa từng lưu luyến một người con gái nào.
Cô độc của chàng chạm trán lẻ loi của nàng, thận trọng của nàng đụng phải trầm mặc của chàng. Không cần lời lẽ nào khác, chỉ là nhìn nhau như thế. Đây chính là tình yêu vậy.
“Ba là đừng bầu bạn, đỡ vương mang dây nợ. Bốn là đừng tiếc nhớ, khỏi hoài niệm đêm thâu.”
Chàng vốn là một lữ khách cô độc, lênh đênh như bèo dạt trên biển lớn, nửa đời phiêu bạt, lưu lạc chân trời. Nàng lại là cô gái rất mực trầm tĩnh, chỉ khát khao bình yên và vĩnh hằng.
Hai người, giống như chân trời góc biển, bất kể quen nhau, biết nhau, hay là yêu nhau, định sẵn phải chia lìa.
Đã biết, tình yêu này vừa bắt đầu đã là sai, thế thì, dứt khoát vừa bắt đầu liền từ bỏ. Khoảnh khắc cùng nàng gặp gỡ đó, chàng dứt khoát quay đầu đi, không nhìn nàng. Đúng thế, không có bắt đầu thì không có kết thúc, không chạm mặt, sẽ không tương phùng, không yêu nhau, sẽ không đoạn tuyệt.
Mối tình mênh mang này, vừa gặp gỡ, đã là vĩnh biệt.
“Chín là đừng cậy trông, để khỏi thành phụ thuộc. Mười là đừng tái ước, để khỏi phải bên nhau.”
Thế nhưng, duyên phận như vậy, trong cõi sâu xa tự có vận mệnh, hai người cuối cùng vẫn gặp nhau.
Chàng rốt cuộc vẫn không thể trốn tránh, hai người vẫn gặp nhau như thế, vẫn nhìn nhau như thế, vẫn biết nhau như thế, vẫn quen nhau như thế, vẫn yêu nhau như thế.
Đã gặp gỡ, đã quyến luyến. Đã quen biết, đã tương tư.
Đã bầu bạn, đã mang nợ. Đã tiếc nhớ, đã hoài niệm.
Đã yêu nhau, đã đoạn tuyệt. Đã chạm mặt, đã tương phùng.
Đã hiểu lầm, đã chia rẽ. Đã thề hứa, đã dùng dằng.
Hóa ra, nói không gặp là giả, sớm đã lún sâu trong tình yêu là thật. Không gặp, là vì không yêu; không yêu, là vì không tổn thương; không tổn thương, là vì yêu vĩnh viễn.
Khó trách trong câu chữ biểu lộ ra nỗi cảm thương như vậy, giữa lời thơ có uất ức như vậy. Tình yêu này, vốn vừa bắt đầu đã là sai! Yêu đến sâu đậm, mới biết “Chỉ muốn cùng người quyết tuyệt, âm dương cách trở khỏi nặng lòng.”
Không chịu dễ dàng gặp gỡ, không chịu dễ dàng quyến luyến, không chịu dễ dàng quen biết, không chịu dễ dàng tương tư, không chịu dễ dàng bầu bạn, không chịu dễ dàng mang nợ, cũng không chịu dễ dàng yêu nhau, cũng không chịu dễ dàng phụ bạc. Tình yêu triền miên trùng lặp như vậy, mới có đau thương thống khổ vương vấn như vậy. Đây, chính là tình yêu dưới ngòi bút Thương Ương Gia Thố.
Tình yêu của Thương Ương Gia Thố, là một sự gìn giữ vĩnh viễn, bất kể tương lai có bao xa.
Vĩnh viễn của vĩnh viễn có bao xa?
Là chân trời, góc biển, hay là con đường nhỏ nơi tận cùng bóng mây kia?
Dù con đường trước mặt có xa xôi đến đâu, một con đường nhỏ tùy ý dưới bóng mây, chàng tình nguyện nắm tay nàng đi tiếp.
Tôi không biết. Tôi cứ luôn ngẫm nghĩ, Thương Ương Gia Thố rốt cuộc là một đấng nam nhi thế nào, truyền kỳ như thế, lại tài hoa xuất chúng như thế. Một bài thơ tình này, kinh động người đời, như hồng nhạn bay vút qua trước mắt đã để lại ấn tượng khó quên, lưu truyền mãi ba trăm năm, chạm đến nỗi đau của biết bao người!
(Tử Phi)
Subscribe to:
Posts (Atom)






