Showing posts with label Dorje Zhoigar. Show all posts
Showing posts with label Dorje Zhoigar. Show all posts
15.6.14
Hôn nhân Tây Tạng (14)
Hảo Hảo:
Lâu rồi không ngủ yên giấc như thế. Chẳng có ánh đèn mờ ảo, chẳng có ve vuốt gợi tình, chẳng có lời âu yếm thiết tha… Trấn nhỏ trong núi, ngoài một hai tiếng chó sủa thi thoảng, mọi thứ tỏ ra rất đỗi tĩnh mịch mà khoan thai, an toàn yên tâm vui vẻ giống như tử cung của mẹ.
Tỉnh giấc chưa đến bảy giờ, lười nhác duỗi lưng, tinh thần sảng khoái. Nhanh nhẹn mặc áo xuống giường, thu thập ba lô. Bữa sáng ăn mì, một bữa đơn giản nhưng hiệu quả, trước giờ không có thói quen ăn sáng, nhưng hôm nay lại nghiêm chỉnh ăn hết một bát to, vì mỗi ngày tiếp theo đều cần thể lực cực lớn để chèo chống. Một mình dạo phố một vòng, còn men theo đường núi đi đến ngôi chùa nhỏ ven rừng, gặp một chú tiểu, trò chuyện với chú, ăn hai miếng bã sữa của chú, còn đựng đầy túi áo táo khô, trở về kể với hội Bản Đao, bị trách móc một trận, nói tôi không nên đi lung tung, chủ yếu là không an toàn, tôi cười cười, trong lòng không hề cho là đúng.
Lên đường, bước chân vững vàng. Tôi thích cảm giác trên đường, đặc biệt là nơi không quen thuộc, cảm nhận nỗi kinh ngạc vui mừng đến sau mỗi ngã rẽ. Mêdog là gì? Nếu nói Tây Tạng là Shambhala (thế giới cực lạc) duy nhất trên tinh cầu này, thế thì Mêdog chính là miền đất thần bí cuối cùng của Tây Tạng. Huyện duy nhất không thông đường này được các chuyên gia gọi là “Bảo tàng thảm thực vật thế giới”, nghĩ ắt vẫn có lý. Con đường ba hôm trước đi qua, bốn mùa đều có. Trên đỉnh núi, tuyết trắng phau phau; dưới chân núi, cỏ xanh mơn mởn. Ven rừng còn có rất nhiều cây chuối, giơ tay đã có thể hái xuống một nải, hình dạng không giống với chuối chúng ta thường ngày ăn cho lắm, khá lớn. Giống như… Tôi bóc một quả cầm trước mặt ngắm nghía, trong óc thoáng qua hình bóng của Gyatso, đúng, quả này rất giống một thứ trên người Gyatso. Vừa nghĩ như thế, người tự nhiên nhũn ra, trong lòng trước sau luôn có một cảm giác run rẩy đối với anh, bèn ngoạm thật mạnh một miếng. Ngày đầu tiên hiếu kỳ, vừa đi vừa hái; ngày thứ hai chỉ là xem hiếm lạ, không muốn ăn nữa; ngày thứ ba thì nhìn mà không thấy, thị giác đã mệt mỏi.
Vì tôi không thích sự ve vãn của anh chàng Hỗn Độn, nên đi hơi nhanh, bỏ bọn họ phía sau một quãng gần 5km. Không biết giỏi đi có xem là một ưu điểm hay không, dù sao chỉ cần lên đường, tôi sẽ hưng phấn khác thường, trong hoán đổi nhanh chóng của từng bước từng bước chân, tất cả những điều không vui đều tan biến như mây khói.
Mêdog không phải là nơi ngắm cảnh, phong cảnh suốt dọc đường chẳng có bất cứ khác biệt gì giữa đi một bước và đi trăm bước, đều là rừng cây, rừng cây, rồi lại rừng cây. Mêdog cũng không phải là nơi xem phong tục dân gian, người bản xứ và người bên ngoài chẳng có khác biệt gì về ăn mặc trang điểm, huống chi trên đường đi căn bản rất khó gặp được ai.
Thế thì, chúng tôi đến Mêdog làm gì?
Đường, chúng tôi vì đường đi Mêdog mà đến.
Đi qua Mêdog không nói đường, lúc này tôi mới biết hàm nghĩa thật sự của đường, mỗi bước dưới chân, đều đo đạc bằng tấm lòng. Con đường nhỏ trong rừng quanh co khúc khuỷu hoặc bằng hoặc dốc hoặc rộng hoặc hẹp ấy, cũng giống như mỗi một ngày tôi từng trải qua, có vui có buồn có đau thương có sung sướng. Mỗi một quả dại hái xuống, quả đẹp ăn vào miệng không phải toàn bộ đều ngon ngọt, giống như làm tình, nôn nóng không nhẫn nại, sau khi đạt được, nỗi niềm chất chứa trong lòng không phải toàn bộ đều vui vẻ.
Đi theo hành trình đã sắp xếp, mỗi đêm đúng giờ nghỉ chân ở nhà trọ đã đặt trước, cuộc sống dạng này mới lạ lại an toàn, là kiểu tôi thích. Rất ít đi chung với hội Cá nhỏ, tôi xưa nay thích đi một mình, lần này càng thậm tệ hơn, sự quấy rầy của Hỗn Độn khiến tôi phiền toái không chịu được, trước giờ chưa từng chán ghét một người như thế, luôn luôn phải đề phòng anh ta đến gần, do đó dứt khoát đi nhanh hơn.
Ra ngoài ba ngày, không thể nói là thưởng thức phong cảnh, cứ gấp gáp đi đường hoài. Sau khi đến Beibeng, trước mắt bừng sáng trong lòng vui sướng, trấn nhỏ trong núi này tươi đẹp tựa như Giang Nam khói mưa, tức thời quyết định dừng chân. Buổi tối nói với hội Cá nhỏ, tôi phải nghỉ ngơi ở đây hai ngày, họ có thể đi trước. Hỗn Độn bảo sẽ ở lại bầu bạn với tôi, tôi nói không cần, tôi gặp được một người đồng hương là bộ đội ở binh trạm, muốn nán lại nơi này với anh ấy hai hôm. Lời này mập mờ, ý tứ không nói mà hiểu, tôi cố ý như thế, những người khác nhìn Hỗn Độn cười vang, tôi chẳng mảy may để ý quay người ra ngoài đi tìm anh đồng hương mới quen biết.
Về sau Cá nhỏ bảo ở Mêdog tôi đã làm cho Hỗn Độn quá đau lòng, nói anh ta thật sự thích tôi. Tôi đáp nếu anh ta không tổn thương tôi thì phải chịu tổn thương, tôi không thể trao thân thể mình cho một người đàn ông tôi không thích hơn nữa hoàn toàn không có cảm tình. Anh ta thích tôi là tự do của anh ta, tôi không thể vì anh ta thích tôi thì phải chấp nhận anh ta. Huống chi, trên đường đi cô đơn cần an ủi, nhu cầu dạng này còn cách tình yêu rất xa rất xa, nỗi buồn tẻ trên đường chỉ là tạm thời, chúng ta rốt cuộc sẽ đi đến đoạn đường phồn hoa huyên náo, không thể căn cứ tình huống của mỗi một đoạn đường để xử lý tạm bợ thân tâm của mình. Đó không phải là nguyên tắc của tôi, cũng không phải là cuộc sống tôi muốn trải qua, ở bên cạnh người nào, tôi chỉ nghe theo tiếng gọi của nội tâm mình.
Beibeng có độ cao so với mực nước biển thấp, khí hậu ẩm ướt mà nóng nực. Ba ngày nay cứ đi trong mưa bụi, quần áo trên người mỗi ngày đều ướt át dán trên da thịt, cộng thêm muỗi đốt, sớm đã ngứa ngáy khó chịu. Mỗi một dòng suối nơi này đều rất đỗi quyến rũ, nhiệt độ nước không lạnh không nóng, trong trẻo xanh biếc chầm chậm chảy qua, có thể khuấy động lòng bạn bất cứ lúc nào.
Anh đồng hương đi bộ đội ở đây đã bốn năm, chỉ về nhà một lần, cuộc sống trong núi sâu đơn điệu buồn tẻ mỗi ngày đều giống nhau như khuôn đúc. Đột nhiên nghe được giọng nói quê nhà, anh thấy thân thiết tôi cũng thế, người cùng quê có những câu chuyện nói mãi không hết. Anh bảo, buổi tối muốn mời tôi ăn gà nấu lẩu, anh tìm khắp làng xóm xung quanh mới mua được hai con, lục khắp lán rau lôi ra hơn mười quả dưa chuột. Nghe anh miêu tả, tôi thèm đến chảy nước miếng.
Ở Beibeng cảnh đẹp như tranh vẽ, lại có bữa tiệc tối thịnh soạn như thế, người đầy mùi mồ hôi phải chăng quá ảnh hưởng phong cảnh. Tôi cầm quần áo để thay, theo anh đi men dòng suối đến chỗ sâu trong rừng.
Lúc sương mù trắng xóa bao phủ núi non, chúng tôi mới từ trong rừng bước ra, tôi đằng trước, anh đằng sau. Anh còn hát một bản tình ca quê nhà cho tôi nghe. Đã nhiều năm chưa nghe, giai điệu quen thuộc khiến tôi bất giác hơi nhớ nhà, nhớ Minh. Nếu không trốn khỏi quê nhà, hiện giờ mình phải chăng cũng đang hầu chồng dạy con?
Ký ức sâu sắc nhất trong những ngày trekking Mêdog, ngoài rừng cây và con đường nhỏ dường như mãi mãi chẳng có tận cùng, chính là sau khi nhìn thấy mỗi một con gà không gọi là gà, mà hô: “Một trăm tám, hai trăm tư.” Gà niêu đá của Mêdog rất nổi tiếng. Một niêu một trăm tám đến hai trăm tư, định giá tùy theo gà lớn hay nhỏ. Bắt đầu từ Paixiang, chúng tôi đã chung tình với gà nấu niêu đá kiểu này.
Còn nhớ ở trấn Lulang của Nyingchi, trên một con đường toàn là quán gà niêu đá. Kể ra cũng thú vị, món ăn bản xứ đặc sắc này, chủ quán lại tuyền là người nội địa, đều bảo niêu đá của mình đến từ Mêdog, là niêu đá tốt nhất ở Tây Tạng. Lúc ấy còn ngỡ rằng Mêdog đã ở kế bên Lulang. Lần này mới vỡ lẽ, đây là hai địa phương hoàn toàn khác nhau, mà niêu đá Mêdog chính cống ở trấn Lulang là hiếm càng thêm hiếm. Không chỉ vì hai nơi cách nhau quá xa, mà còn bởi sản lượng niêu đá Mêdog chính cống rất ít, hơn nữa giá thành vận chuyển lại cao, toàn nhờ nhân công cõng ra ngoài, phí vận chuyển và chi phí của bản thân niêu đá gần như tỉ lệ thuận, thông thường chi phí vận chuyển một niêu đá cỡ vừa đến Lulang khoảng hai ngàn đồng, lại cộng thêm lợi nhuận của nhà buôn, giá cả đó sẽ khiến người ta giật mình. Vốn dĩ muốn mua một chiếc niêu đem về tặng Liên, cô ấy thích những thứ thuần túy tự nhiên. Trên đường đi hỏi giá, đành thôi ý định. Anh đồng hương mua cho tôi một mớ đũa gỗ mun, bảo mang về làm vật kỷ niệm cũng không tệ. Nói là gỗ mun, thật ra là cây mây lâu năm trong rừng rậm nguyên thủy Mêdog, niên đại lâu dài, thân cây nhuộm thành màu đen mà thôi.
Khi chúng tôi đến Mêdog đã là sau chín giờ tối. Vừa vào thị trấn huyện liền nhìn thấy năm người bọn Hỗn Độn giống như du thần đang dạo phố, anh em hoạn nạn gặp lại, cảm thấy thân thiết bội phần, reo hò ôm nhau, bá vai bá cổ đi về quán trọ Ngư Trang.
Chỗ ở tại Mêdog vẫn có chọn lựa, chẳng hạn như Nhà khách Cục Lương thực hoàn cảnh tương đối tốt, nhưng giá cả cũng tương đối đắt, là nơi quan chức địa phương đi công tác hay ở. Dân phượt thông thường đều ở Ngư Trang, rẻ, mỗi người hai mươi đồng.
Tuy nói Mêdog không thông đường, hàng hóa vào ra đều nhờ nhân công vận chuyển, song cũng không hoang lương như trong tưởng tượng. Giữa vùng núi bên phải thị trấn huyện, từng tòa từng tòa biệt thự mái nhà màu hồng được bao bọc bởi non xanh nước biếc, cực kỳ khí thế. Thật là gia viên lý tưởng! Từ nhỏ đã mơ ước được sống trong môi trường thế này, xa hoa như công chúa. Kiếp này, phải chăng đều chỉ có thể nằm mơ mà thôi?
Khi dạo phố gom được bốn bạn phượt, đeo ba lô to đùng, nhìn ngược nhìn xuôi. Dẫn họ về Ngư Trang, sắp xếp chỗ ở. Họ nói nể tình tôi nhặt họ, mời tôi ra ngoài ăn chơi xả láng. Tìm một quán gà niêu đất trên phố, gọi làm một con hai trăm rưỡi, năm chai bia quá đát, năm người ăn đến bụng căng tròn, ợ no một cách rất mất hình tượng, hát tình ca loạn xị bát nháo, bước chân liêu xiêu trở về Ngư Trang trùm mền ngủ vùi.
Thực sự quá mệt, kết thúc mỗi ngày chuyện muốn làm nhất chính là ngủ thiếp đi không tỉnh dậy nữa, nhưng điều này cũng giống như tình yêu tôi muốn có, là nguyện vọng mãi mãi không thể thực hiện. Chạng vạng tối thức giấc cả người đều nổi u, đặc biệt là mắt cá chân, đầy những đốm đỏ lớn lớn nhỏ nhỏ. Toàn bộ là muỗi đốt, có vết đã sưng tấy, ngứa ngáy khó chịu. Lục tung ba lô, cuối cùng cũng tìm ra một chai dầu gió, vừa thoa vừa cảm ơn Liên quả thật là một cô nàng tốt bụng, cả dầu gió cũng chuẩn bị cho tôi. Miệng lẩm bẩm, tay không ngừng thoa dầu khắp các u lớn u nhỏ, thình lình bên cạnh thò ra một cái vuốt ưng, hô lớn có phúc cùng hưởng có nạn cùng chịu, cướp đi chai dầu gió.
Những người trùm đầu che mặt khác vừa ngửi được mùi dầu gió cũng lập tức bò dậy, bắt đầu anh cướp tôi đoạt trong căn phòng nhỏ hẹp, cuối cùng còn oẳn tù tì quyết định ai dùng trước ai dùng sau. Đây là thói đời gì vậy? Tôi đã nhặt thứ người gì về vậy? Bọn cướp, đau đớn gào khóc nhìn mấy kẻ xấu đó biến chai dầu quý báu của tôi thành chai rỗng.
Hội Cá nhỏ ngày hôm sau ra về, vì bản mặt “u mê” chưa khai hóa của Hỗn Độn, tôi quyết định ở lại, cùng với bốn “của báu” tôi nhặt được đi ra khỏi Mêdog theo đường Pomi. Buổi chiều nhận được tin nhắn Hỗn Độn gửi: xin lỗi Hảo Hảo, đã phá hoại cảm xúc chuyến đi lần này của em, thật sự xin lỗi, sau khi về Lhasa mời em ăn cơm. Cười cười trả lời, anh biết là tốt, ăn cơm thì miễn đi.
Cùng là người đi đường, gặp mặt quen biết là nguyên tắc của chúng tôi, không thêm phiền phức cho người khác không quấy rầy người khác cũng là nguyên tắc của chúng tôi. Kết bạn chỉ là để chuyến đi không buồn tẻ. Còn an ủi thân thể, đó là chuyện cần giao lưu, cần cảm giác, anh tình em nguyện mới làm được.
Từ Mêdog trở về, chọn một con đường khác, phần vì Hỗn Độn, phần vì tôi có cách nghĩ riêng. Tôi là người không muốn đi lại lối cũ, tình cảm như thế, cuộc sống cũng như thế.
Mêdog đến 82K, bao một chiếc xe jeep Bắc Kinh, tám trăm đồng, nhét hết năm người chúng tôi vào. Sắp rời khỏi, trong lòng lại không nỡ. Nói là không nỡ, kỳ thực nên nói là áy náy thì chính xác hơn. Nhớ đến hai ngày ở Beibeng, rừng rậm mây mù lượn lờ, suối nhỏ trong vắt, bia quá đát mà say người, anh chàng bỗng nhiên mua nhà ở quê … Tôi quả thật chẳng phải là gái ngoan, hành vi phóng đãng, đi đến đâu cũng đều đùa với lửa rồi chết cháy.
Đến 82K xuống xe, đi xuyên qua rừng rậm nguyên thủy dày đặc bí gió, ngắm bầu trời âm u, thầm nghĩ, ở bên kia rừng rậm, phải chăng người ấy vẫn đang đợi tôi quay về?
Gái ngoan lên thiên đường, gái hư đi bốn phương, đây là miêu tả đúng nhất về tôi chăng.
Một lần nữa nguyền rủa mình: Gái hư, mi xuống địa ngục đi.
Ngày thứ hai đi bộ đến 52K, đỉa rất nhiều, rắn cũng rất nhiều. Người địa phương bảo tốt nhất không nên dừng lại, vì đỉa đều ở trên cây, khi có người đi bên dưới chúng sẽ từ trên rơi xuống, sau khi chui vào cổ áo không dễ dầu gì bắt ra, chỉ nghe thôi đã hãi. Thế là rảo bước nhanh hơn, chẳng bao lâu đã bỏ rơi bạn đồng hành rất xa.
Không cần lo lắng chút nào, giữa rừng rậm có vẻn vẹn một con đường, chỉ cần nhìn chuẩn phương hướng, chả lạc mất được. Lúc tôi thoải mái hong giày trong quán trọ ở 52K, mấy người kia mới uể oải bước vào, cô nàng dẫn đầu tên Miêu Miêu nhìn thấy tôi liền hỏi: Ả Hảo Hảo hư đốn kia, chạy nhanh như thế để tìm đàn ông à?
Ở đây có đàn ông sao? Nói xong hơi chột dạ nhìn bốn phía xung quanh, vô số ánh mắt lườm nguýt bay đến. Trơ tráo cười giải thích, xin lỗi xin lỗi, tiểu nữ tử nói lỡ lời, các vị đại nam nhân đừng để bụng.
Nhờ thế, không khí trong quán trọ sôi nổi hẳn lên. Bốn anh chàng trông giống porter đang hong quần áo hong giày ở đằng kia xúm lại, hỏi chúng tôi từ đâu đến? Đã đi mấy ngày? Ngày mai vượt núi tuyết Garlung, có cần porter không.
Cần cần cần, Miêu Miêu kêu trước tiên, giọng nói quả thật nhão nhoét y như mèo gọi xuân. Anh ơi, đến Pomi bao nhiêu tiền ạ?
Một anh chàng nhìn ba lô bên cạnh cô, nói một người năm trăm.
Đắt quá, rẻ một chút nha anh.
Bốn trăm rưỡi, không thể ít hơn. Núi tuyết Garlung nguy hiểm lắm, tụi tôi có thể dẫn các bạn đi.
Những người khác nhất trí đồng ý, mang ba lô kèm dẫn đường, một người bốn trăm rưỡi.
Thật sự rất nguy hiểm ư? Tôi hỏi. Nhớ đến số điện thoại Liên cho tôi, lại hỏi, các anh có biết một porter tên Trần Điếc không?
Cậu ấy chính là Trần Điếc. Anh chàng bên cạnh chỉ một người nhỏ con mặc áo jacket màu vàng gọi lớn, Điếc ơi, em gái hỏi cậu nè.
Bốn giờ sáng, chủ quán trọ gõ cửa từng phòng gọi xuất phát, muộn hơn vượt núi dễ xuất hiện tuyết lở.
Mắt nhắm mắt mở bò dậy, mì đã bày trên bàn, ăn hết một bát to mới xuất phát.
Núi tuyết Garlung, nghe vô số phượt gia từng kể gian nan ra sao ra sao, hơi không cẩn thận, liền có khả năng mãi mãi bị chôn vùi trong tuyết. Khi nhìn thấy nó thật sự sừng sững trước mặt, cũng không cảm thấy cao lớn cho lắm. Khoảnh khắc giẫm lên tuyết đọng có đôi chút hưng phấn, leo còn nhanh hơn cả Trần Điếc. Thế nhưng, lên trên chưa đến ba trăm mét đã bắt đầu thở phì phò như trâu, tuyết dưới chân ngập đến đầu gối, mỗi lần cất bước đều vô cùng khó khăn.
Quan sát các porter, họ vẫn từ tốn tiến lên, như đi trên đất bằng.
Không dám lớn tiếng nói chuyện, thậm chí hít thở đều phải chậm rãi. Đây là câu trước khi lên núi các porter dặn đi dặn lại, nói là bất cứ một chút thanh âm nhỏ nào cũng có thể dẫn đến không khí chấn động, tạo thành tuyết lở.
Thế là dứt khoát ngồi trên đất tuyết, lau kính mát, chờ họ đi lên.
Trần Điếc đeo hai chiếc ba lô đến bên tôi trước tiên, đưa cho tôi một miếng chocolate, sau đó nắm tay tôi đứng dậy, kéo tôi từng bước từng bước nhích lên, chúng tôi mất ba tiếng rưỡi mới đến cửa núi.
Tầng mây phương đông rực đỏ, núi tuyết vàng óng tươi đẹp tuyệt vời.
Đất tuyết ngập đến đầu gối đi xuống rất phí sức, tốt nhất dùng phương thức “trượt”. Trần Điếc khẽ nói: Cô ngó tôi nhé, lát nữa cứ trượt xuống giống tôi, tôi ở bên vách núi chặn cô lại, đừng sợ gì cả. Anh nói xong bèn hai chân duỗi thẳng nửa người trên ngả về phía sau, vun vút trượt xuống. Chuyện này không làm khó được tôi, từ nhỏ tôi rất giỏi giữ thăng bằng, đây chỉ là trò chơi con nít. Quả nhiên, tôi thuận lợi trượt đến chân núi. Các bạn phượt khác thì không như thế, ngã nghiêng ngã ngửa, Miêu Miêu thậm chí ngã chúi mũi, chọc chúng tôi cười ha hả.
24K, một miền đất cực kỳ xinh xắn dưới chân núi tuyết Garlung, sau khi cả hội đến đây, ôm nhau vừa nhảy vừa cười, nguy hiểm đã qua, chuyến đi Mêdog xem như đã thành công.
Nhân lúc chờ cơm canh dọn lên, mở điện thoại, gửi tin nhắn cho Liên: Đã đến 24K, thuận lợi, đã gặp Trần Điếc, mới phát hiện cậu thật sự là một thiên thần.
Cánh đã gãy. Liên trả lời.
Thế vẫn là thiên thần.
Cảm ơn sự sùng bái của cậu.
Có phải rất đắc ý không?
Cậu nghĩ sao?
Cuối cùng trả lời một câu: Đồ xấu xa. Rồi không để ý cô nữa. Xem các tin nhắn chưa đọc, Nhất Hàng gửi hơn chục tin, chẳng qua là những lời thường lệ như nhớ tôi yêu tôi, chả có gì mới mẻ. Còn có một số máy lạ: Nếu em muốn dừng bước, lúc nào cũng có thể đến tìm anh. Ngẫm nghĩ một lát, người này là anh đồng hương ở Beibeng chăng? Không dám khẳng định, thực tình không nhớ số của anh ấy.
Tin nhắn cuối cùng vẫn là của Nhất Hàng. Hảo Hảo, anh đi Chamdo giải quyết chút công chuyện, khoảng mười ngày trở về, chăm sóc tốt bản thân, đợi anh.
Xem xong, trong lòng trống trải. Chẳng có tin nhắn của anh ấy. Gyatso, người đàn ông tôi cố gắng muốn quên ấy, hoàn toàn chẳng có tin tức.
Tôi hết thuốc chữa rồi chăng? Thầm hỏi bản thân. Phải chăng tôi yêu anh ấy rồi? Tôi đã yêu anh chàng giống như lãng tử ấy rồi sao? Yêu chàng trai Khampa đến không hình đi không dấu ấy rồi sao? Vừa nghĩ đến dáng vẻ của anh, người tôi liền hơi nôn nao. Đây không phải là hiện tượng tốt, điều này chứng tỏ cơ thể tôi lại sắp không chịu sự khống chế của trái tim tôi, tôi chán ghét loại cảm giác này. Tôi véo mạnh một cái trên đùi, hung hăng và cơm vào miệng như trút giận, nước mắt bất giác rơi xuống bát cơm, cùng với cơm nuốt chửng xuống.
Ngẩng đầu, phát hiện những người khác đều ngơ ngác nhìn tôi. Không sao, tôi lau nước mắt, cười nói. Cuối cùng cũng bình an rồi, không nhịn nổi phải cảm động một chút.
Cậu làm bọn tớ giật cả mình, Miêu Miêu khoa trương nói. Còn tưởng cậu làm sao chứ.
Đến Pomi vẫn còn 24km, toàn là xuống núi, đường rất dễ đi, buổi trưa chúng tôi đã đến nơi. Vốn nói mời đám Trần Điếc ăn cơm, họ bảo còn có công việc nên thôi, lần sau, tạm biệt nhé! Hoan nghênh các bạn lại đến! Rồi chia tay. Check-in khách sạn Pomi, mỗi người một trăm sáu, đối với chúng tôi, không gọi là không xa xỉ, nghĩ tình đi gần nửa tháng trời vất vả như thế, úy lạo bản thân một chút cũng là chuyện nên làm.
Buổi chiều tự do hoạt động.
Tắm gội xong xuống lầu, một bạn tây đứng bên quầy tiếp tân, nhìn thấy tôi, huýt sáo, dùng tiếng Trung ngọng nghịu nói cô gợi cảm quá, xinh đẹp quá, có thể trò chuyện với cô không?
Không. Tôi đáp dứt khoát.
Ôi. Bạn tây làm ra vẻ đau khổ. Sau đó nói: Tôi tên Jerry ở phòng 315, hoan nghênh nữ thần gợi cảm ghé thăm mọi lúc.
315, chống hàng giả đấy. Trông bộ dạng bạn tây, không nhịn được tươi cười, lập tức cảm thấy không ổn. Thầm nhắc nhở mình đừng gây chuyện nữa, mau đi thôi, bèn hối hả ra khỏi khách sạn.
Một mình dạo phố, ngâm nga khúc hát ngắn. Đi ngang một siêu thị, thấy bên cửa đặt một chiếc lồng, một con vẹt mỏ đỏ kháu khỉnh nhảy tới nhảy lui ở bên trong. Mua vẹt, ông chủ, mua vẹt. Giọng Tứ Xuyên đặc sệt đột nhiên vang lên.
Nhìn xung quanh, chẳng có ai. Giọng nói kỳ quái vẫn hô: mua vẹt, ông chủ, mua vẹt. Cúi đầu ngắm chiếc lồng, thoắt vui, thì ra là con vẹt tự rao. Tức cười, chim tự rao bán mình. Hứng thú, ngồi xổm xuống hỏi nó, bao nhiêu tiền? Một ngàn hai, ít hơn không bán! Nào ngờ nó đáp như thế. Tôi choáng quá, khen nó: Mi thật là chú vẹt thông minh nhất trên đời. Chẳng dè nó tiếp tục gào: mua vẹt mua vẹt, ông chủ mua vẹt, một ngàn hai, ít hơn không bán.
Mi chỉ biết câu này sao? Có thể nói câu khác không? Tôi chăm chú nhìn nó, tràn đầy hứng thú. Nó vẫn chỉ gào câu ấy: mua vẹt mua vẹt, ông chủ mua vẹt, một ngàn hai, ít hơn không bán.
Ngất thôi. Bèn dạy nó nói: chào bạn, ăn cơm chưa, chúc mừng phát tài, Gyatso… Nó vẫn lặp đi lặp lại: mua vẹt mua vẹt, ông chủ mua vẹt, một ngàn hai, ít hơn không bán.
Buồn chán!
Không đếm xỉa đến nó nữa.
Lại đi về phía trước, phát hiện ở Pomi trước cửa rất nhiều cửa hàng ven đường đều bày bán vẹt, một con năm trăm đến một ngàn rưỡi, nghe nói đều bắt từ rừng rậm nguyên thủy xung quanh.
Mỗi lần đi qua một cửa hàng, đều ngồi xuống nói mấy câu với chim: chào bạn, ăn cơm chưa, chúc mừng phát tài, Gyatso… Luôn buột miệng nói ra tên anh, sau khi ý thức được buồn bực vô cùng. Mình làm sao vậy, vì sao mình phải thế này? Người ta không cần mình nữa, người ta bỏ chạy rồi, người ta trốn nấp rồi, mình còn nhớ hắn làm gì? Lặng lẽ không nói đứng dậy rời đi. Đến cửa hàng tiếp theo, lại ngồi xuống trước lồng chim, nói với vẹt: chào bạn, ăn cơm chưa, chúc mừng phát tài, Gyatso… Lau nước mắt mắng mình: đồ khốn, chẳng ra gì, nhớ anh ấy làm chi, vì sao còn nhớ anh ấy?
Đứng dậy đi tiếp về phía trước, bước chân lảo đảo. Đến cửa hàng tiếp theo, vẫn ngồi xuống. Chào bạn, ăn cơm chưa, chúc mừng phát tài, Gya…tso… Nước mắt không ngăn được chảy xuống.
Nỗi nhớ bất ngờ không kịp đề phòng đã đánh gục tôi, lấy điện thoại nhanh chóng mở ra, cuồng loạn bấm mười một con số ấy. Số điện thoại bạn gọi không nằm trong vùng phủ sóng. Gọi lại, vẫn là số điện thoại bạn gọi không nằm trong vùng phủ sóng. Không cam tâm, tiếp tục gọi, hết lần này đến lần khác, vẫn là giọng nói khiến ta chán ghét đó: Số điện thoại bạn gọi không nằm trong vùng phủ sóng.
Gyatso… Gyatso… Tên đáng chết này. Bất lực ném điện thoại vào ba lô, lại ngồi bên lồng chim trước một cửa hàng, nước mắt như mưa. Chào bạn, ăn cơm chưa, chúc mừng phát tài, Gya…Gya… Gyatso, em nhớ anh. Cuối cùng cũng gào ra, bất chấp ánh mắt khác lạ xung quanh, đứng dậy chạy nhanh lên phía trước.
Chiều hôm ấy, một mình trên đường phố nơi đất khách, từ đầu đường đi đến cuối đường lại từ cuối đường đi đến đầu đường. Tôi là một kẻ không có linh hồn, tôi là một kẻ không biết cười, thờ ơ phía trước, tư tưởng hỗn loạn. Tôi muốn giết người, tôi muốn phóng hỏa, muốn làm một chuyện kích thích, để tôi quên anh ấy đi, hãy để tôi đừng nhớ anh ấy nữa, ông trời ạ…
Không ngừng đi, không ngừng đi, muốn đi đến rã rời gân cốt, quay về có thể ngủ ngay.
Thế nhưng, mấy tiếng đồng hồ trôi qua, thân thể không những chẳng mệt mỏi chút nào, mà ngược lại càng lúc càng hưng phấn.
Về đến khách sạn, mở cửa phòng, “phịch” một tiếng đá văng giày, lẹ làng cởi quần áo, mở nước nóng thật lớn, ném mình vào trong bồn tắm, thân tâm quấn quýt thành một khối.
Không được nghĩ đến anh ấy, đừng nghĩ đến anh ấy, trong phòng tắm mù mịt hơi nước, ra lệnh bản thân như thế. Ngón tay bất giác quẹt qua nhũ phong đầy đặn, trong óc hiện ra dáng vẻ anh nằm sấp trên người mình, ngậm núm vú mút như trẻ con, một bàn tay còn bá chiếm bầu vú kia. Đồ khốn. Không nhịn nổi lại mắng vào hư không, chẳng biết là mắng mình hay mắng Gyatso.
Thân thể tôi thường hay phân ly với con tim, con tim nghĩ thế này, thân thể lại cứ phải làm thế nọ, cũng chẳng biết kiếp trước đã tạo nghiệt gì mà kiếp này chịu giày vò kiểu này? Véo mạnh núm vú, thân tâm co thắt một cơn, lòng cuồng loạn mơ màng.
Tôi sống sót về đến Lhasa bằng cách nào, hiện giờ đã không nhớ nổi, hai ngày mơ mơ hồ hồ, chỉ nhìn thấy non non nước nước lùi về phía sau. Nhưng vẫn nhớ Liên đón tôi ở bến xe, ngắm tôi một thoáng, hỏi sao mắt sưng dữ vậy, rồi không nói gì nữa, lẳng lặng đón lấy ba lô của tôi.
Về đến phòng cô, ngồi trên tấm thảm ở ban công, ánh nắng vẫn ấm áp.
Theo thói quen ôm đầu gối, khẽ nói: Tớ không ổn, Liên ạ, tớ vẫn là ả Hảo Hảo đó, Mêdog chẳng có tác dụng đối với tớ.
Tìm anh ấy đi, dù sao cũng nên có một lời giải đáp. Liên đưa cho tôi ly nước trái cây.
Tớ không tìm được anh ấy, tớ chẳng biết anh ấy là ai, anh ấy ở đâu. Tôi luồn tay vào tóc, bứt mạnh.
Cậu không biết anh ấy là ai đã yêu anh ấy, cậu là cô khờ à? Liên hơi giận.
Tớ yêu anh ấy ư? Tôi hoang mang ngẩng đầu nhìn Liên, cậu bảo tớ yêu anh ấy ư?
Bộ dạng này của cậu, ngoài tình yêu còn có nguyên nhân khác sao?
Tớ tự chuốc lấy cái chết rồi, sao tớ lại yêu anh ấy nhỉ? Sao tớ lại yêu anh ấy nhỉ? Liên, cậu bảo tớ thật sự yêu anh ấy ư? Lại nhìn Liên như van xin, mong cô nói một câu không phải.
Cậu đó, vì sao chà đạp mình như thế. Tình yêu thật sự là kiếp nạn phụ nữ không tránh khỏi hay sao? Cô ngồi xuống bên tôi, cầm tay tôi xuống, vỗ nhè nhẹ lên lưng tôi một cách nhịp nhàng. Lòng tôi có được sự bình yên tạm thời, từ từ tựa trên vai cô ngủ thiếp đi.
(Dorje Zhoigar)
26.5.14
Hôn nhân Tây Tạng (13)
Zhoigar:
Lần này về nhà, phát hiện sức khỏe của mẹ yếu đi nhiều, bệnh đau tim phát tác liên tiếp hơn, khi sau lưng không người, thường thấy mẹ ấn ngực ngồi xổm trên đất, mãi một lúc mới thẳng lưng lên được, sau mỗi lần sắc mặt đều trắng bệch. Cha nói mẹ đã uống rất nhiều thuốc Tạng, nhưng chẳng có tác dụng. Mùng tám, mười lăm hàng tháng bà nội đều mời sư sãi đến nhà niệm kinh. Gyatso nói với cha, tốt nhất để mẹ lên bệnh viện huyện tìm bác sĩ người Hán khám thử, bệnh tim kéo dài sẽ có chuyện lớn. Cha nói: “Đây là bệnh cũ của bà ấy, lúc trẻ đã có, cứ khỏe một thời gian đau một thời gian, không có gì nghiêm trọng.” Cha nói như thế, khiến Gyatso cũng không tiện nói nữa.
Hôm nay vào bếp rót nước, thấy mẹ lại ngồi xổm trên đất trước lu nước, ôm ngực, trên trán mồ hôi lạnh đầm đìa, vội bước tới dìu, gọi lớn: “Gyatso, mau vào đây, bệnh của mẹ tái phát rồi.” Gyatso và cha đều gấp gáp chạy vào.
Tôi bảo Gyatso giúp tôi dìu mẹ đến trên ca-điểm bên bếp, đỡ mẹ nằm xuống, vội rót một ly nước để cha đưa đến bên miệng mẹ, Gyatso thì vừa giúp mẹ lau mồ hôi vừa nói: “Dạng này kéo dài không được, nên đi bệnh viện thôi!”
Mẹ uống chút nước, sắc mặt hơi đỡ, nói: “Không sao, qua một lát sẽ hết!” Tôi biết mẹ sợ tốn tiền. Trong núi lớn kiếm tiền khó khăn là chuyện ai cũng biết, nhưng dù sao cũng không thể vì tiền không cần mạng. Tôi chảy nước mắt khuyên mẹ: “Cứ nghe ý kiến của Gyatso, đến bệnh viện khám đi mẹ!” Mẹ không nói. Cha ở một bên lắc đầu bảo: “Bác sĩ người Hán làm sao tin tưởng được? Họ xảo quyệt, gạt tiền của chúng ta lại không trị bệnh! Hơn nữa mẹ con nằm viện, gia đình này của chúng ta làm thế nào? Vẫn là tìm bác sĩ trong làng đến khám.” Ở chỗ chúng tôi, có bệnh tìm Tạng y là tập quán từ xưa đến nay. Từ nhỏ đã biết cha không thích người Hán, luôn nói người Hán quá thông minh, quá nhiều mánh khóe. Trước đây mỗi lần cha nói câu này đều là sau khi uống rượu, mẹ luôn ở một bên lặng lẽ không nói bận rộn làm việc, sau đó lục chiếc đồng hồ đeo tay kiểu cũ kia ra thẫn thờ. Giờ đây, chiếc đồng hồ ấy đeo trên cổ tay của tôi, có lần Gyatso nói đùa với tôi, tôi đeo món đồ cổ nhãn hiệu Thượng Hải trên tay, phải chăng chuẩn bị đem làm của báu gia truyền. Hôm nay khi cha một lần nữa nói ra: “Bác sĩ người Hán làm sao tin tưởng được? Họ xảo quyệt, gạt tiền của chúng ta lại không trị bệnh!”, mẹ vẫn cúi đầu, tóc bạc bên mai nhẹ rung. Thời khắc đó, tôi thật sự cảm thấy mẹ đã già, lưng hơi còng, nếp nhăn trên trán ngang dọc, gò má thêm nhiều vết nám, đôi mắt ưu sầu giờ đây sắc buồn càng đậm đến nỗi không tiêu tan được.
“Không cần tìm bác sĩ, thuốc lần trước vẫn chưa uống hết mà. Bệnh cũ, chịu một chút sẽ qua!” Mẹ nói, nhổm người đứng dậy.
Tôi nhìn mặt mẹ, tuy hơi nhợt nhạt, nhưng đã khôi phục bình tĩnh. Mẹ bước tới cầm cái gáo lên, lại bắt đầu bận rộn.
Tôi ngắm bóng lưng của mẹ, xót xa. Mẹ trong ký ức luôn nín nhịn, mẹ giấu tất cả tâm sự trong lòng mình, chăm lo gia đình này bằng nết cần cù chất phác vốn có của phụ nữ Tạng, ngày này qua ngày khác năm này qua năm khác, xưa nay chưa từng thấy mẹ tranh cãi với ai hay thậm chí to tiếng nói chuyện, đối với bà nội, đối với cha, đối với các con, mẹ đều trầm mặc, trên mặt mãi mãi là biểu cảm không vui cũng không buồn. Thế nhưng, lúc không người, mắt mẹ nhìn về hư không, chất chứa quá nhiều tâm sự.
Cha trở về giếng trời uống rượu, tôi và Gyatso thì về phòng, tôi chán nản ngồi bệt xuống ca-điểm. Anh nhìn tôi một lát, đột nhiên nói: “Sự hiền thục của mẹ em có thể nói là mẫu mực của phụ nữ Tạng. Em có cảm thấy không? Lời nói của cha em quá đỗi làm tổn thương mẹ em, dù có đi khám bác sĩ người Hán hay không, cũng không nên nói như thế, quá khiến mẹ đau lòng, em nên khuyên cha, bệnh của mẹ không thể kéo dài thế này, chỉ niệm kinh suông chẳng có tác dụng gì đâu.”
“Em từng khuyên cha, cha không nghe mà. Cha vẫn luôn không thích người Hán, cứ nói người ta sẽ gạt cha. Ôi…”
“Thời đại nào rồi, còn có cách nghĩ kiểu này? Người Hán không phải là người ư? Thế tại sao cha vẫn hút thuốc của người Hán? Mặc quần áo của người Hán?”
“Em cũng hết cách, anh cho rằng em không sốt ruột à, nhìn thấy mẹ đau đớn như thế, em cũng buồn lắm…”
Lúc này, mẹ đẩy cửa bước vào, nói: “Zhoigar, con cùng mẹ xuống thăm đàn bò, có một con bê không bú sữa, chẳng biết có phải bị bệnh không!”
“Vâng, thưa mẹ!” Tôi đứng dậy khoác tay mẹ, tựa vào mẹ giống như lúc nhỏ.
Mẹ không đi ra ngay mà nhìn Gyatso, khẽ nói: “Gyatso, con là một đứa con ngoan, lần này thấy các con về, tương thân tương ái, mẹ cũng yên tâm. Zhoigar là đứa con gái duy nhất của mẹ, từ nhỏ được nuông chiều, con phải thông cảm cho nó nhiều một chút. Đàn ông xông pha bên ngoài là chuyện nên làm, nhưng bất cứ lúc nào, đều chớ quên người phụ nữ sau lưng đang chờ con về nhà.”
“Thưa mẹ, con sẽ không quên!” Gyatso thoáng nhìn tôi, nói.
“Như vậy là tốt, mẹ cũng có thể yên tâm đi rồi!”
“Mẹ…” Tôi lắc cánh tay mẹ, nũng nịu gọi, “Mẹ muốn đi đâu vậy?”
“Ồ…” Mẹ quay đầu nhìn tôi, thần sắc thoáng hoảng hốt, sau đó nói: “Mẹ nói nhầm, là sau khi các con ra về, mẹ cũng yên tâm rồi!”
“Mẹ ơi, con rất tốt. Ở…” Tôi liếc Gyatso, làm mặt hề với anh, nói: “Ở nhà họ, họ đều rất tốt với con, mẹ yên tâm nhé!”
“Tốt tốt tốt, như vậy là tốt lắm. Chúng ta đi thôi, đi xem bê con thế nào.” Mẹ kéo tôi, ra cửa xuống lầu đến chuồng gia súc.
Thêm cỏ trước mặt mỗi chú bò, bê con cũng rất khỏe, đang rúc vào bụng bò mẹ bú sữa. Mẹ kéo tôi ngồi trên đống cỏ khô, nói: “Zhoigar, nói thật với mẹ, anh em họ thật sự đối xử tốt với con chứ?”
“Mẹ à, họ thật sự rất tốt với con.” Tôi phủ phục trong lòng mẹ, đầu đặt trên đầu gối mẹ. “Cha mẹ anh ấy là người tốt, rất thích con. Tashi cần cù, đối với con đặc biệt tốt; Namgyal rất hoạt bát, nhưng không biết làm việc cho lắm; Gyatso buôn bán ở Lhasa, hơi bận.”
“Nói như thế, con đã có ba người chồng rồi?”
“Dạ phải, mẹ ơi, con đối với ba người họ, rất là khó xử, sợ xử lý không tốt sẽ khiến anh em họ oán hận lẫn nhau, đến lúc ấy con sẽ trở thành người vợ tồi.”
“Ôi, nhanh như vậy đã có ba người chồng rồi. Con ơi, thật làm khổ con!” Mẹ dùng ngón tay nhẹ nhàng chải mái tóc của tôi. “Con thích ai nhất?”
“Gyatso.” Tôi chẳng nghĩ ngợi gì đã trả lời. Trước mặt mẹ, tôi chân thực, trong suốt, tâm sự của tôi có thể giấu giếm bất cứ ai, chỉ không thể giấu mẹ. “Con nghĩ con thích anh ấy nhất.”
“Nhớ kỹ, con không được để người nào nhìn ra con thích Gyatso nhất, nếu không gia đình của con sẽ rối loạn, con hiểu không?”
“Hiểu ạ, mẹ ơi, con đều để trong lòng, chẳng ai nhìn ra đâu.”
“Zhoigar, con biết mẹ lo lắng cho con dường nào, sợ con xử lý không tốt quan hệ với người nhà gây ra phiền phức. Mẹ từng âm thầm nhờ người nghe ngóng tin tức của con, họ đều nói Gyatso không cần con nữa, nghe được lời này con biết mẹ đau lòng xiết bao không?” Mẹ nói đến đây, giọng hơi nghẹn ngào.
Tôi trở người, vẫn nằm trong lòng mẹ, hít sâu một hơi, mùi quen thuộc, mùi chỉ có mẹ mới có. Nhìn gương mặt in đầy dấu vết năm tháng của mẹ, tức khắc cũng có chút thương cảm, nhưng vẫn cười nói: “Mẹ ơi, Gyatso hơi bận, hơi ít về nhà. Nhưng sao lại bị đồn thành không cần con nữa chứ? Đừng tin những lời vớ vẩn ấy, con gái mẹ xinh đẹp thế này, đảm đang thế này, anh ấy làm sao có thể không cần con nữa chứ?”
Nghe tôi nói như vậy, mặt mẹ cuối cùng cũng có đôi chút sắc vui, vỗ má tôi nói: “Con đó, vẫn giống như hồi nhỏ. Sắp làm mẹ rồi, cũng nên khôn lớn!”
“Mẹ…” Tôi xoay người, hai tay vòng ôm eo mẹ, vùi mặt sâu hơn vào lòng mẹ.
Tôi nhớ thuở nhỏ, mỗi lần cho bò cừu ăn xong, tôi đều cùng mẹ ngồi tựa vào nhau thế này một lát, có lúc mẹ giúp tôi gãi lưng, có lúc giúp tôi bắt chấy trên đầu. Lúc nhỏ tôi không thích gội đầu, mỗi lần gội đầu luôn la hét thật to, mượn lời mẹ nói là “giống như đang giết tôi vậy!” Chẳng giống bây giờ, gả đến một nơi có suối nước nóng, tắm gội đến ghiền luôn, mỗi ngày không tắm người sẽ ngứa ngáy.
Vừa nghĩ đến suối nước nóng, liền cảm giác trên lưng có chút không ổn, về nhà sắp nửa tháng rồi, vẫn chưa tắm. Mẹ thò tay qua cổ áo xuống lưng tôi, giống như hồi nhỏ, tỉ mỉ gãi từng tấc da thịt trên lưng tôi, vừa gãi vừa xoa, tôi giống như bê con bú sữa cứ “ừm ừm”, thoải mái nhắm mắt.
“Mẹ à, có một chuyện con vẫn muốn hỏi mẹ!” Tôi trở người, nằm sấp trên đùi mẹ. Sờ chiếc đồng hồ trên cổ tay, dây đeo vẫn rất lỏng, có thể xoay tới xoay lui. Xem ra, cuộc sống hôn nhân không hề vỗ béo tôi được chút nào. Ai bảo phụ nữ Tạng vừa đám cưới đã phát tướng? Tôi chính là ngoại lệ, so với trước khi đám cưới, ngược lại đã gầy hơn.
“Con muốn hỏi cái này phải không?” Mẹ đăm đăm nhìn chiếc đồng hồ ấy.
“Mẹ ơi, mẹ biết con muốn hỏi gì sao?” Tôi ngoẹo đầu nhìn mẹ, dẩu môi.
“Mẹ là mẹ của con, con nghĩ gì còn không biết được à?” Mẹ nhìn tôi, một tia sáng xuyên qua ô cửa sổ nhỏ chiếu trên mặt mẹ, làn da ửng hồng toát ra ánh sáng nhàn nhạt. Mẹ vẫn luôn xinh đẹp. Vẻ đẹp của mẹ chẳng phô trương chút nào, yên tĩnh mang một chút ưu sầu. “Chiếc đồng hồ này là một chú bác sĩ người Hán họ Trác tặng mẹ. Lúc đó mẹ còn trẻ, cỡ như con bây giờ, cũng thích hát thích múa. Bác sĩ Trác đến làng chữa bệnh lưu động, đã trị dứt bệnh đau đầu của bà ngoại con. Mỗi lần chú ấy tới, trên xã đều sắp xếp chú ở nhà ngoại, chú thích nghe mẹ hát, bảo tiếng hát của mẹ vừa cất lên, chú mệt mỏi đến đâu cũng không cảm thấy mệt nữa. Mỗi lần chú ra ngoài khám bệnh, mẹ đều giúp chú xách thùng thuốc, buổi tối cùng dẫm lên ánh trăng trở về.”
Trên mặt mẹ lộ ra nụ cười hiếm có, trong mắt cũng có ánh sáng, khi chìm đắm vào chuyện xưa mẹ thật sự rất đẹp.
“Mẹ ơi, mẹ… mẹ yêu bác sĩ Trác đó phải không?”
Mẹ nhìn tôi, mỉm cười. “Mẹ không biết tình cảm của mẹ và chú ấy có phải là tình yêu mà các con nói hay không? Chỉ biết chú là người đàn ông suốt đời này mẹ cũng không quên được!”
“Mẹ ơi, vì sao mẹ không sống chung với chú ấy?”
“Mẹ và chú vốn đã ước hẹn phải ở bên nhau, đợi khi chú giải ngũ sẽ cùng chú về quê của chú, kết quả ngày thứ ba ông ngoại con đã gả mẹ cho cha con.” Mẹ nói đến đây, giọng hơi khàn.
“Mẹ… Bác sĩ Trác có biết mẹ gả cho người khác không?”
“Năm ngày sau mới biết, chú đến tìm mẹ, bị cha con dẫn người đánh cho một trận, sau khi về liền xin điều đến một trạm gác rất hẻo lánh ở Ngari.”
“Hai người không gặp lại sao?”
“Gặp một lần. Đó là sáu năm sau, chú đến huyện nhập thuốc, tìm được bà ngoại con, kiên trì van xin bà ngoại cho mẹ và chú gặp mặt một lần. Bà ngoại con thấy tội nghiệp, cũng cảm kích ơn cứu mạng của chú, bèn nhờ cậu con đến đón mẹ, giữa đường cậu con nói cho mẹ biết chú ấy chờ mẹ ở đầu cầu Nyima trên huyện, bảo mẹ mau đi. Lúc ấy ở chỗ chúng ta chưa có đường cái, mẹ chạy một ngày một đêm trong núi mới đến đó, chú vẫn đợi ở đầu cầu, vừa đen vừa gầy, râu mọc dài, quân trang mặc trên người chú rộng thùng thình. Nhưng… nhưng mẹ vẫn thoáng nhìn đã nhận ra chú.” Kể đến đây, cả người mẹ đều tỏa sáng, trên mặt tràn trề vẻ thẹn thùng như thiếu nữ. Ngừng một lát, mẹ mới nói: Chiếc đồng hồ này chính là lần đó chú tặng mẹ, nói nhờ người mua từ quê, người ta không biết chú cần một chiếc đồng hồ nam một chiếc đồng hồ nữ, mua hai chiếc đều là đồng hồ nam. Mẹ và chú mỗi người một chiếc, nói mãi mãi không vứt bỏ.”
“Sau đó thì sao? Hai người không liên hệ nữa ạ?”
“Nghe nói chú đã về quê, tình hình cụ thể không cách nào nghe ngóng được!”
“Mẹ…” Tôi ôm eo mẹ, chẳng biết nói gì cho phải. Thảo nào những năm qua mẹ luôn trầm mặc, dù cha nổi nóng thế nào, mẹ vẫn lặng lẽ không nói. Thì ra, trong thâm tâm mẹ ẩn giấu bí mật lớn như thế.
Ắt hẳn người đàn ông ấy mới là nguồn vui của mẹ?
Người không hiểu rõ nội tình sẽ cho rằng người phụ nữ trong gia đình anh em cùng vợ rất bừa bãi, có thể lên giường với bất cứ người chồng nào. Nói thật, khi chúng tôi còn trẻ, không thiếu cơ hội ở chung với cánh đàn ông, nhưng thật sự đi vào nội tâm chúng tôi lại chỉ có một người, cánh cửa trái tim trước sau chỉ rộng mở vì một mình người ấy. Giống như mẹ, tuân theo sắp xếp của trưởng bối gả cho cha, trong lòng lại thủy chung chỉ có chú bác sĩ họ Trác đó, suốt đời suốt kiếp.
“Còn không lên nấu cơm à?” Trên lầu bỗng truyền đến tiếng gọi của cha.
“Con xem chúng ta nói chuyện đến quên cả thời gian luôn.” Mẹ nhìn ngoài cửa sổ, sắc trời đã tối.
Đứng dậy, mẹ giúp tôi nhặt vụn cỏ trên người, kéo tôi đi lên lầu.
Nhà Rinchen ở làng dưới, đi đường núi khoảng mười lăm phút. Ăn cơm tối xong, tôi và Gyatso đi thăm anh.
Bước trên đường núi nhỏ hẹp, chúng tôi tùy ý tán gẫu.
“Nghe nói năm xưa nhà họ còn chuẩn bị cưới em phải không?” Gyatso xách hai túi trà bánh theo sau tôi.
“Phải, Rinchen đã nói như thế. Đáng tiếc anh ấy còn chưa nói với người nhà, nhà các anh đã cưới em trước rồi.”
“Hối hận không?”
“Hối hận!”
“Em nói gì?” Anh kéo eo tôi, xoay tôi lại. Nhìn thấy nụ cười trên mặt tôi, mới biết mình đã mắc lừa. “Em trêu anh à?”
“Xí, ai trêu anh chứ!” Tôi lườm anh một cái, quay người muốn đi. Tuy nói nơi này là núi lớn, không có dòng người qua lại, nhưng chỗ chúng tôi đang đứng là trên sườn dốc giữa hai làng trên dưới, tầm nhìn khá tốt. Một nam một nữ đứng trên bờ ruộng thế này, có ám muội quá hay không?
“Em thật sự không hối hận chứ?” Anh hơi dùng sức, tôi đã lọt vào lòng anh.
“Em có nói em không hối hận sao?” Tôi nhếch môi cười. “Còn không buông em ra, người ta đang nhìn chúng ta đấy!”
“Mặc kệ họ. Em hối hận chuyện gì?” Anh không hề có ý buông tôi ra, ngược lại cánh tay siết chặt hơn.
“Hối hận gả đến nhà các anh đó!” Không kéo cánh tay anh ra được, dứt khoát không vùng vẫy nữa, chẳng chút tỏ ra yếu đuối ngẩng đầu nhìn anh.
“Vì sao?” Anh lim dim mắt cúi đầu nhìn tôi.
“Anh không cần em mà, cứ không về nhà!” Tôi nhìn anh, thấy mắt anh dần dần dâng lên một vệt âm u, tôi hít sâu một hơi, e mình đùa quá trớn, vội nói: “Được rồi được rồi, em trêu anh đấy, mau buông em ra!”
Tôi chưa nói xong, anh đã cúi xuống, hôn tôi, rất đỗi mãnh liệt, không màng tất cả, đầu lưỡi bá đạo cạy môi răng tôi ra, mặc ý quấy rối trong miệng tôi. Con người này, thân mật cũng không coi nơi, sao lại có thể ở đây chứ? Người ở cả mấy sân phơi hai làng trên dưới đang nhìn chúng tôi kia mà. Tôi vặn vẹo, muốn đẩy anh ra, nào ngờ cánh tay anh ngược lại siết càng chặt.
Ôi, tùy anh vậy. Tôi không vùng vẫy nữa, thả lỏng thân thể, mặc anh ôm, nghênh đón nụ hôn của anh.
Khoảnh khắc nhắm mắt, nhìn thấy mặt trời chiều lặn về tây đang xuyên qua tóc anh, nhuộm chúng tôi thành màu vàng óng.
Anh mút tới mút lui đầu lưỡi và đôi môi tôi, y hệt một đứa bé tham ăn, cực kỳ bá đạo, cực kỳ ngông nghênh, hoàn toàn không cho tôi cơ hội thở lấy hơi.
Cuối cùng, anh buông tôi ra, nhìn mắt tôi, lẩm bẩm: “Không phải anh không muốn có em, anh quá muốn có em, quá muốn quá muốn có em, em không hiểu đâu, vợ ơi…” Anh lại bá đạo hôn tôi.
Ôi, lần này hay rồi, chả cần đến năm phút, tin tức vợ chồng Zhoigar hôn nhau trên đường núi sẽ truyền khắp cả làng. Tôi nghĩ như thế, hai tay bất giác ôm lấy cổ anh. Mặc kệ, anh là chồng mình, không phải sao? Là người chồng mình thích. Những ngày ấy, mình chẳng phải cứ luôn mong ngóng có một ngày thế này, có thể được anh ôm, tựa vào lòng anh hay sao? Lúc này, trong mắt anh viết rõ tình yêu đối với mình, điều này đã đủ rồi, bao nhiêu nước mắt đều xứng đáng.
Hạnh phúc, vào xế chiều hôm đó, đột ngột tràn trề cả con người tôi.
Nhà Rinchen ở làng dưới, cha anh có lương hưu, hai chú một người ở nhà làm việc, một người ở Lhasa làm công, điều kiện cuộc sống xem như khấm khá hơn các gia đình khác. Anh không đến thăm tôi cũng có thể hiểu được, ai xảy ra chuyện này đều cảm thấy chẳng có mặt mũi gặp người khác. Kể qua với Gyatso chuyện của tôi và Rinchen, thật ra đó cũng không thể xem là câu chuyện, trò chơi của hai đứa con trai con gái thuở bé vô tư hồn nhiên mà thôi. Nhưng cũng vì những chuyện cũ thơ ngây này, tôi càng cảm thấy áy náy với Rinchen vì đã giúp Chongtsong đào hôn.
Chiều nay quả thật không thích hợp gặp Rinchen, vì lòng tôi đầy ắp mật ngọt, hạnh phúc đến đột ngột khiến tôi quá đỗi vui mừng, bước chân cũng hơi lâng lâng. Tôi không biết đã đi qua đoạn đường đằng sau thế nào. Khi đến ngoài sân nhà Rinchen, thấy trên cửa sổ nhà họ còn lưu lại dấu vết làm đám cưới, rèm cửa mới, bên trên dùng mảnh vải khảm hình bát bảo cát tường, viền lá sen phía trên cửa sổ trắng tinh đẹp đẽ, chắc cũng mới thay không lâu. Tập quán ở chỗ chúng tôi, chưa đến năm mới, đều không thay những thứ này.
Chó giữ nhà nhìn thấy người lạ, sủa gâu gâu, em trai thứ hai của Rinchen xuống đón chúng tôi lên lầu.
Trong giếng trời gọn gàng ngăn nắp, trên dây phơi áo còn vắt mấy chiếc phổ-lỗ mới kiểu nữ, trên chiếc bàn nhỏ bên cạnh có một đôi giày hoa màu đỏ chưa thêu xong, nghĩ chắc đều là chuẩn bị cho cô dâu mới? Cảnh tượng thế này, trông sao mà quen thuộc. Ba ngày trước khi gả chồng tôi chạy về nhà chất vấn cha chẳng phải cũng nhìn thấy cảnh tượng thế này hay sao? Số mệnh của con gái, trưởng bối quyết định trong chớp mắt, nhưng cần con trẻ tự mình mò mẫm trải qua một đời.
Cha mẹ Rinchen đều có mặt, thấy chúng tôi, sắp xếp chúng tôi ngồi ở giếng trời, Gyatso đặt trà bánh trên bàn. Mẹ Rinchen hứng một bình rượu thanh khoa đem ra, cha anh rót cho chúng tôi mỗi người một ly.
“Chúng cháu đến thăm Rinchen, anh ấy ra ngoài rồi ạ?” Tôi uống một ngụm nhỏ rồi đặt xuống. Từ sau khi biết tôi mang thai, Gyatso bèn không cho tôi uống rượu nữa, nói người Hán bảo rượu không tốt cho em bé, bất kể lời anh nói có lý hay vô lý, tôi luôn vui lòng nghe theo.
Mẹ Rinchen chỉ về căn phòng bên cạnh, ý là Rinchen ở bên trong, khẽ nói: “Làm sao không biết ngượng mà ra ngoài cơ chứ? Vợ sắp cưới lại bỏ trốn, mất mặt lắm. Rinchen nhà bác kiếp trước đã tạo nghiệt gì, phải để cô gái đó sỉ nhục nó thế này?”
“Bác gái ơi, chuyện đã như vậy rồi, bác đừng buồn nữa. Cô ấy không biết tình hình nhà bác, không thể nói là cố ý sỉ nhục Rinchen.” Tôi nắm tay bà, quả thật chẳng biết an ủi bà thế nào mới phải.
“Zhoigar, hồi đó cháu chẳng phải cũng đám cưới như thế hay sao? Chẳng phải cũng tìm được một gia đình tốt hay sao? Cha mẹ nào không yêu thương con mình? Làm sao có thể tùy tiện gả con gái mình cho gã đàn ông không tốt kia chứ? Cháu bảo chúng ta ai chẳng trải qua như thế? Sao đến lượt cô ấy lại không qua được? Đã đính hôn còn bỏ trốn. Tình hình nhà bác cháu cũng biết, không tệ mà, cũng sẽ không để cô ấy thiệt thòi…” Mẹ Rinchen nói, nước mắt liền chảy xuống.
“Đừng như thế, bác gái ạ, buồn bực cũng chẳng ích gì. Cô ấy không có phúc vào cửa nhà bác, với điều kiện nhà bác, bác trai hoàn toàn có thể tìm một nàng dâu tốt khác về.”
“Xảy ra chuyện này, ai còn bằng lòng gả con gái đến nhà bác?” Cha Rinchen đang uống rượu với Gyatso thở dài, rầu rĩ nói.
“Bác trai, mỗi người đều có duyên phận của mình, chuyện này chỉ có thể nói cô ấy không có duyên với Rinchen, không miễn cưỡng được.”
“Ôi…” Cha Rinchen uống ực một ly, gương mặt vốn đã có chút say sưa càng đỏ gay.
Nhân lúc Gyatso và cha Rinchen uống rượu, tôi đến căn phòng nhỏ của Rinchen, thấy anh nằm trên ca-điểm, hai tay gối sau ót ngắm trần nhà ngẩn ngơ.
“Rinchen, không ngó ngàng đến em nữa ư?”
Anh thoáng nhìn tôi, nói: “Em đến rồi!”
“Rinchen, một cô gái đã đánh gục anh hay sao?” Tôi đi đến trước mặt anh, nhìn anh.
“Một cô gái vẫn chưa gặp mặt đánh gục anh đấy!” Anh bực bội nói.
“Cô ấy không phải đánh gục con người anh, mà là đánh đổ thể diện của anh. Rinchen, có đến nỗi thế không, Chongtsong là một cô gái tốt, cô ấy không cố ý, cô ấy chỉ sợ đám cưới, sợ đột nhiên phải đến một gia đình xa lạ sinh sống. Cô ấy không cố ý sỉ nhục anh, điều này anh còn không rõ hay sao?”
“Anh biết, anh cũng không trách cô ấy, chỉ cảm thấy hơi khó xử.” Anh ngồi dậy, ra dấu mời tôi ngồi xuống. “Biết vợ chồng em về rồi mà mãi vẫn không sang thăm em. Chắc em cũng thông cảm?”
“Anh không sao là được. Chongtsong là hàng xóm của chúng em, cô ấy thật sự là một cô gái tốt, áp lực mà cô ấy gánh chịu không hề ít hơn anh.” Tôi ngồi xuống, nghĩ đến Chongtsong cũng ở Lhasa, nói không chừng lúc nào sẽ chạm mặt. Nghĩ đoạn nói tiếp: “Rinchen, chẳng phải anh từng nói muốn yêu đương và tự mình kiếm vợ giống như người Hán ư? Do đó đừng trách Chongtsong được không? Cô ấy thân gái một mình, nếu không phải quả thật bị bức bách đến hết cách, làm sao có thể nỡ rời gia đình ra đi kia chứ?”
“Zhoigar, em thật là một vị Kim Cương Hợi Mẫu. Trở nên hiền lành thế này từ bao giờ?” Anh cười, nhìn tôi nói.
“Xí, làm như em ác lắm vậy?” Lườm anh một cái.
“Em không ác, em ngang ngược, hết sức ngang ngược.”
“Ăn nói quàng xiên.” Tôi suỵt anh một tiếng.
“Nghe em hai nói chiều nay hai người diễn một màn kịch thân mật trên sườn núi? Kỹ thuật của người ấy thế nào?” Anh bỡn cợt nháy mắt với tôi.
“Đi chết đi, anh…” Tôi đỏ bừng mặt. Toi rồi, cả cái người không ra cửa này cũng biết, cả làng trên dưới còn ai không biết nữa chứ? Đây mới là mất hết mặt mũi đó, nhìn ánh mắt chế giễu của anh, hận không thể tìm khe nứt trên đất chui xuống. “Em thích anh ấy, phải không?” Đột nhiên anh thu lại nụ cười, khẽ hỏi.
“Không nói với anh nữa.” Tôi đứng dậy, không muốn tiếp tục chủ đề này. “Rinchen, chúng ta ra dạo bên vách núi nhé, chỗ tảng đá lớn ấy, cùng em ra đó ngồi một lát.”
“Được, anh cũng lâu rồi không ra.” Anh đứng dậy, lại bổ sung một câu: “Từ sau khi em đi, anh cũng không ra đó nữa.”
Ánh trăng ban đêm rất sáng, tôi, Gyatso, Rinchen cùng đi về phía vách núi.
“Rinchen, em dự định ra sao?” Gyatso hỏi.
“Ngày mai em sẽ đi, về Lhasa.” Rinchen nói.
“Người già ở nhà làm thế nào?” Tôi hỏi.
“Có hai em trai ở lại, chắc không sao.”
“Em đi cũng tốt, ở lại nơi này chỉ tăng thêm thương cảm. Ở Lhasa có chuyện gì có thể tìm anh.” Gyatso vỗ vai Rinchen, nói cho Rinchen biết số điện thoại của mình.
“Ừ, anh Gyatso, đến Lhasa em sẽ liên hệ với anh.”
Bên vách núi có một tảng đá xanh lớn, lõm vào một mặt vách núi. Hồi nhỏ, tôi và Rinchen thường đến đây chơi. Còn nhớ có lần tôi làm mất cừu con, về nhà sợ bị đánh, bèn nấp ở đây một đêm, Rinchen cũng bầu bạn với tôi cả đêm; lần đầu tiên tôi dậy thì cũng là ở đây, nhìn thấy vết máu phía trên đùi, sợ đến la oai oái, tưởng rằng mình sắp chết; còn nữa, Rinchen cũng là ở đây lần đầu tiên nói với tôi muốn cưới tôi làm vợ, còn nhớ năm đó, tôi mười bốn, anh mười lăm.
Hang đá nho nhỏ này đã chất chứa quá nhiều ký ức đẹp đẽ của tôi.
Ba chúng tôi co ro trong hang đá bé tí, phía trước chưa tới năm bước là vách đá muôn trượng.
“Hai người có cảm thấy tôi hiện giờ đặc biệt đáng thương không?” Rinchen ôm đầu, buồn bã nói.
“Sao anh lại thế nữa? Cô ấy không biết anh mà.” Tôi hiểu nỗi khổ của Chongtsong, cũng rõ tình cảnh khó xử của Rinchen. Khi phương thức truyền thống và hạnh phúc cá nhân phát sinh xung đột, tôi không biết nên chọn lựa thế nào.
“Phương thức hôn nhân kiểu này vốn dĩ không hợp lý. Cô ấy chạy trốn, đối với em chưa chắc không phải là chuyện tốt, chẳng lẽ em thật sự muốn cưới một cô gái hoàn toàn không quen biết? Cùng chia sẻ tình yêu với anh em của em hay sao?” Lúc Gyatso nói câu này, thoáng nhìn tôi. Chẳng biết tại sao, tôi cứ cảm thấy câu này của anh không chỉ nói cho Rinchen nghe.
“Ở Lhasa, thấy người khác đều tự kiếm vợ, tự quyết định hôn nhân, cũng từng nghĩ. Nhưng không qua được cửa ải của cha, hết cách, đây chính là số mệnh của chúng tôi.” Rinchen nhìn dưới vách núi, ở đó sương mù dày đặc, anh ngừng một lát, sau đó hít sâu một hơi. “Được rồi, đừng nói chuyện này nữa, cha cũng đồng ý tôi đi Lhasa, ngày mai sẽ đi. Có lẽ, tôi sẽ gặp được người tôi yêu ở Lhasa, chúc phúc cho tôi nhé!”
Lúc trăng sáng sao thưa, chúng tôi mới chia tay, ai về nhà nấy. Rinchen nói sáng sớm ngày mai anh lên đường, không cần tiễn anh.
Khi về đến nhà, mẹ vẫn đang đợi. Nhìn thấy chúng tôi mẹ bảo: “Về rồi à, ngủ sớm thôi.” Tôi cùng Gyatso về phòng, giúp anh cởi áo khoác, rồi xuống bếp lấy nước cho anh rửa mặt. Tôi là như thế, bất cứ lúc nào, luôn nhớ mình là ai, nhớ chuyện mình cần làm. Không thể phủ nhận, đêm nay tâm trạng tôi vui vẻ, bước chân nhanh nhẹ, thậm chí muốn làm nũng để anh phục vụ tôi một chút. Nhưng chỉ là thử nghĩ mà thôi. Từ nhỏ mẹ đã bảo ban tôi, phụ nữ lúc nào cũng không được quên bổn phận của mình, khi đắc ý chớ vênh váo, khi thất vọng đừng lầm lì, tôi luôn ghi nhớ.
Lúc vào bếp, anh hai theo vào, kéo áo tôi một cái, khẽ nói: “Hôm nay anh lên núi, đã gặp Tashi!”
“Cái gì?”
“Em nhỏ tiếng một chút, nó không cho anh nói với em.”
“Tashi… đến rồi?” Tôi do dự nhìn mắt anh hai, có chút không dám tin. Tashi, một người chồng khác của tôi, lúc này nên ở nhà trông nom gia súc, chăm sóc cha mẹ kia mà.
“Phải, anh đã gặp, ở trên núi, còn nói chuyện với nó, nó bảo ra ngoài tìm bò yak, nhưng anh cảm thấy không giống, mời nó đến nhà ta, nó lại không chịu. Nói phải đi suốt đêm trở về. Nhờ anh giao cái này cho em.” Anh hai đưa cho tôi một chiếc túi nhỏ.
“Cái gì thế?” Tôi đón lấy mở ra, bột thanh khoa, hương thơm thoang thoảng, chắc là tsampa mới của năm nay.
Trời ạ, anh ấy điên rồi sao? Xa xôi như thế, đến gửi tôi một túi tsampa nhỏ! “Anh hai, anh không nói với người khác chứ?”
“Không. Tashi không cho anh nói.”
“Cảm ơn anh, anh hai!” Tôi cất tsampa vào tủ, đi lấy nước, nhưng lòng dạ cứ quay mòng mòng.
“Em gái, Tashi nó...” Anh hai ngập ngừng, bộ dạng nửa muốn nói nửa không muốn nói.
“Anh ấy làm sao?” Tôi quay mặt nhìn anh.
“Anh thấy khi nó đi về đã khóc!”
“Đã khóc?” Gáo nước rơi tõm xuống lu nước, “Tashi đã khóc? Tại sao?”
Anh hai không nói nữa, quay người đi ra. Bóng lưng ấy lại khiến mũi tôi cay cay, anh hai và Tashi ắt có đôi chút cùng bệnh thương nhau?
Bưng nước về phòng, tâm sự sóng sánh như nước.
Đặt trước mặt Gyatso, cởi vớ của anh đặt chân vào trong chậu, cái được cái chăng giúp anh rửa chân. Tashi đến rồi? Chỉ vì gửi cho tôi một túi tsampa? Lúc về còn khóc…
“Sao thế? Có tâm sự à?” Gyatso nâng cằm tôi, nhìn như nghiên cứu.
“Dẹp anh đi.” Tôi lấy khăn lau khô cho anh, bưng chậu nước sang một bên, đặt nệm xốp xuống đất, ôm mền chúng tôi mang đến định trải lên trên.
“Trải chiếc mền ấy xuống dưới, chúng ta đắp một chiếc mền được rồi. Chiếc mền ấy quá nặng, đắp lên thở không nổi.” Anh chỉ chiếc mền Tạng bằng lông cừu trên tay tôi nói.
“Chiếc mền kia của anh quá nhẹ, sẽ lạnh đấy.” Tôi vẫn không quen với mền bông tơ, quá nhẹ, đắp trên người chẳng có chút trọng lượng nào.
“Anh thêm trọng lượng cho em.” Anh bước tới, đón lấy chiếc mền, ghé bên tai tôi nói một cách ám muội.
“Dẹp anh đi!” Cảm giác trên mặt nóng bừng, không dám nhìn khuôn mặt nhăn nhở của anh, bưng chậu nước đi ra ngoài.
Khi rửa chân, cố ý rửa thật chậm, trong đầu hiện lên hình bóng của Tashi. Những ngày vừa qua thật sự không nhớ tới anh, những ngày vừa qua toàn bộ thân tâm bị Gyatso nhét đầy. Vừa nghĩ đến chuyện anh đã khóc, đột nhiên có chút áy náy. Tashi, người chồng một lòng một dạ yêu tôi, khi tôi uyển chuyển thừa hoan dưới người Gyatso, anh đang làm gì? Từ ngày đầu tiên đám cưới, tôi một lòng nghĩ đến Gyatso, nghĩ đến người chồng mình không nắm bắt được, xưa nay chưa từng nghĩ Tashi sẽ nghĩ thế nào, khi anh nhìn tôi phải chăng cũng vô vọng như khi tôi ngóng Gyatso.
Tôi biết Gyatso đang đợi tôi, cũng biết đêm nay dưới chiếc mền bông tơ nhẹ mỏng kia có ý vị gì. Nếu đổi vào bất cứ đêm nào trước đó, tôi đều sẽ nhiệt tình tiếp đón. Nhưng đêm nay, tôi đột nhiên chẳng có cảm xúc, không muốn thân mật với Gyatso. Nước mắt của Tashi khiến tôi nảy sinh ý nghĩ sớm về nhà.
Đều là chồng tôi, về tình về lý, tôi nên chăm lo chu toàn mới phải.
Khi về phòng, Gyatso đã phát ra tiếng ngáy, thầm thở phào, nhẹ nhàng cởi quần áo, rón rén chui vào mền, nằm kề anh mà ngủ.
Tashi lặn lội đường xa đưa tsampa đến khiến tôi khó xử. Lúc mang thai, tôi luôn thèm ăn bát tsampa mới, nhưng lại không dám ở trước mặt mọi người lấy ra túi bột đó nói là Tashi đưa đến cho tôi. May mà anh hai hiểu ý, trưa hôm sau, anh hai ở trước mặt mọi người lấy ra chiếc túi ấy, nói là gặp một người bạn đang xay bột ở nhà xay, nghe nói Zhoigar đã về, đặc biệt tặng anh một túi nhỏ, mang về cho em gái nếm thử bột mới.
Tôi đón bát tsampa anh hai đưa, hương thơm nhức mũi.
“Anh hai, tặng chiếc túi ấy cho em được không?” Gyatso cười nói.
“Được chứ!” Anh hai đưa chiếc túi cho Gyatso, “Loại túi da bò này em lấy làm gì?”
“Để đựng tsampa ạ. Em ở Lhasa, thỉnh thoảng muốn ăn nhưng trong quán cơm lại không có. Dùng túi đựng một ít, mang theo bên mình cũng tiện hơn.” Gyatso đón lấy, nhìn thoáng qua, cất vào trong người.
Gyatso chủ động đề nghị trở về, anh nói Lhasa còn có rất nhiều việc phải xử lý, chậm trễ lâu ngày không được.
Cha mẹ chuẩn bị cho chúng tôi rất nhiều quà tặng, cả nhà lớn nhỏ đều có, anh hai tiễn chúng tôi đến cửa núi. Khi chia tay, anh hai hỏi: “Em gái, tặng em một món quà có lấy không?”
“Lấy chứ. Cái gì vậy anh?” Tôi vui mừng nhảy nhót. Thấy tay anh hai giấu trong người, ở đó căng phồng. Hồi nhỏ khi anh lên núi, thường bắt những động vật nhỏ về, cũng giống như hiện giờ hỏi tôi có lấy hay không.
“Còn nhớ Toinzhub không?” Anh hai từ trong người móc ra một con Tạng ngao nhỏ kháu khỉnh bụ bẫm, “Con của nó.”
“Con của Toinzhub?” Tôi trợn tròn mắt, hưng phấn đón lấy ôm trong lòng.
“Ừ, tháng trước Toinzhub bệnh chết. Đây là ngao con mà nó để lại, chỉ có một con này thôi, anh nuôi sống bằng sữa cừu.”
“Toinzhub đáng thương!” Lần này về không thấy nó, thì ra nó đã… “Ôi… anh hai, cảm ơn anh tặng nó cho em!”
“Cảm ơn gì chứ? Toinzhub là chó ngao của em, anh biết em thích nó, đem con nó về đi.” Anh hai nhìn tôi thương yêu cười, sau đó xoay người nói với Gyatso: “Gyatso, đối xử thật tốt với em gái anh nhé, người khác đều nói nó là ma nữ chuyển thế, anh cảm thấy nó là tiên nữ chuyển thế mới đúng. Được rồi, hai em đi thôi.”
Gyatso và anh hai ôm nhau, rồi lên ngựa. Tôi cất ngao con vào người, cũng xoay mình lên ngựa, bước trên con đường về nhà quanh co khúc khuỷu.
Lúc sắp đến cổng nhà, Gyatso bỗng đứng lại. Lấy từ trên người ra chiếc túi kia đưa cho tôi. “Em trả lại cho Tashi đi.”
Tôi đón lấy. “Gyatso, em…”
“Không cần nói nữa, anh đều biết hết. Chiếc túi này là anh mua cho Tashi ở Lhasa, nó dùng đã năm năm, làm sao anh không nhận ra.”
“Gyatso, không phải em bảo anh ấy đến đâu!” Tôi yếu ớt nhìn anh, thật chẳng biết nói gì mới phải.
“Anh biết, nên anh nhờ em trả lại cho nó. Tashi rất tốt, các người… hãy sống thật tốt.” Anh nói xong, xoay người đi thẳng về phía trước.
Tôi nhìn bóng lưng của anh, thẳng tắp mà quyết liệt, nước mắt bất giác rơi lã chã. Anh thế này là ý gì? Trách tôi ư? Chúng tôi sống thật tốt? Còn anh? Từ “các người” chẳng lẽ không bao gồm bản thân anh sao? Tashi hay Namgyal, thậm chí sau này còn có anh em khác, đều là một phần tử trong “chúng tôi”, đây đều là số mệnh sắp xếp, định sẵn chúng tôi phải trở thành một tổng thể, đây không phải là chuyện mà tôi có thể chọn lựa.
Lau nước mắt, đuổi kịp bước chân của anh.
(Dorje Zhoigar)
17.5.14
Hôn nhân Tây Tạng (12)
Hảo Hảo:
Tôi chạy một mạch đến cổng chùa Jokhang, hướng về cánh cửa lớn khép chặt ấy rạp mình dập đầu ba lần. Những ngày ở Lhasa, tôi đã quen rạp mình dập đầu lạy Phật giống như tất cả những người dân Tạng, trải thẳng người trên phiến đá xanh, cảm nhận cái mát lạnh dưới người truyền đến, trong chớp mắt cả con người đều bình tĩnh lại. Thân bình tĩnh rồi, tôi mới biết tìm kiếm; tâm bình tĩnh rồi, tôi mới biết bước tiếp theo hướng đến đâu.
Khi lạy xong lạy cuối cùng, đứng thẳng tắp ngắm cánh cửa lớn màu sẫm ấy, tôi biết mình lại phải bắt đầu đi rồi, trong lòng bắt đầu tìm kiếm cảm giác lên đường. Tôi luôn thích đi, thích đi trên con đường xa lạ, ngắm những con người và phong cảnh xa lạ. Nán lại một nơi quá lâu, tôi cứ không tìm được chính mình, sẽ khiến cuộc sống biến thành một nắm gai rối. Tôi không tháo gỡ được những sợi gai rối bời đó, thế thì, chỉ có vứt bỏ. Vứt bỏ là chọn lựa của bản thân tôi, cũng là chọn lựa duy nhất có thể làm. Từ nhỏ đã như thế, phiền phức thu xếp không xong bèn vứt bỏ, để mình làm lại từ đầu.
Đám Tạng phiêu quen thân không ngồi ở ngã rẽ, tôi thở phào, hiện tại vẫn chưa chuẩn bị sẵn sàng gặp họ. Gọi một cú điện thoại cho Liên, nói tớ vẫn còn sống, cậu còn thu nhận tớ không? Liên bảo nha đầu chết tiệt nhà cậu, tối nay bọn tớ có thức ăn ngon, về muộn đừng hối hận. Thế là tôi chạy như bay qua quảng trường chùa Jokhang, chạy qua đường Cuomeilin nhỏ hẹp, ở ngã đường chặn một chiếc xe, đến nhà trọ gia đình Liên ở.
Vừa vào sân đã giật nẩy mình. Rất nhiều người, mặc áo lông vũ, áo gió, mà lại đang tháng tám! Nhưng Lhasa chính là như vậy, bạn mặc áo hai dây không cảm thấy lạnh, bạn mặc áo da cừu cũng không cảm thấy nóng. Đám nam nữ này khi ở nhà mùa đông e rằng cũng chưa từng mặc nhiều như thế, giữa mùa hè ở Lhasa lại gắng sức phô phang vật dụng dã ngoại thuộc nhãn hiệu tên tuổi nào, tốn bao nhiêu tiền. Phải chăng rất buồn cười? Không, một đám người như thế ở Lhasa không buồn cười, tùy tiện dạo các quán bar xung quanh phố Barkhor, bảo đảm quơ một cái được cả nắm. Khi đến đều mang ưu thế, cảm thấy ta đây ưu việt hơn người, vật chất phong phú, tinh thần đầy đủ. Đợi thật sự đến nơi này rồi, một tháng, nhiều nhất hai tháng, liền không muốn trở về cuộc sống trước kia nữa, cảm thấy nó đặc biệt mệt mỏi, oán trách đó chẳng phải ngày tháng con người trải qua. Thế là, to gan nghỉ việc, ly hôn, thậm chí bỏ nhà xa con, chỉ vì có thể ở Lhasa phơi nắng mãi không thấy đủ.
Do đó khi tôi bước vào, vừa mở miệng đã đĩnh đạc nói chuyện Lhasa, mọi người đều quay về phía tôi, ánh mắt của cả nam lẫn nữ đủ kiểu đủ dạng. Sùng bái, đố kỵ, cái gì cũng có. Người khác có cảm xúc thế nào, với tôi không quan trọng, cũng không ảnh hưởng được tâm tình của tôi.
Liên ở một bên yên tĩnh ngắm tôi ba hoa chích chòe giữa đám đông, ánh mắt trong bụng biết tỏng tòng tong.
Buổi tối sườn hầm với đậu trắng, một bạn trên mạng tên Bản Đao mời. Phương thức này cũng xem là đặc sắc của nhà trọ gia đình. Luân phiên mua thức ăn, cùng nấu cơm. Mỗi người một ngày, công bằng hợp lý. Bản Đao không ngừng múc sườn cho tôi, mãi đến khi xương trước mặt tôi chất thành núi.
Tôi đã ăn bao nhiêu sườn, chả biết, tóm lại dạ dày thực tình không chứa nổi nữa mới bỏ đũa xuống. Cười ha hả, hai chân duỗi ra phía trước, ngã người trên ghế. Ai bảo: “Ăn uống no nê muôn sự đủ?” Thuần túy vớ vẩn, tôi hiện giờ ăn uống no nê xong, khó chịu muốn chết.
Thế là đứng dậy, lảo đảo đi vào nhà vệ sinh, nôn hết dầu mỡ trong bụng ra, để dạ dày lại trở nên trống rỗng, y như con tim của tôi. Rửa ráy sạch sẽ, đến phòng Liên. Đẩy cửa, thấy cô ngồi trên ban công, ánh nắng chênh chếch chiếu trên người cô, quầng sáng rất lóa mắt. Cô không nhìn tôi, chỉ nói qua đây ngồi đi. Tôi liền bước qua, rất không có hình tượng dựa vào cô ngồi bệt xuống, nói: cậu giết tớ đi, tớ không muốn sống nữa, tớ muốn chết, cậu giết tớ đi.
Liên chả nhìn tôi lấy một cái, chỉ nói: cậu viết sẵn di chúc, để lại toàn bộ sách của cậu, máy ảnh của cậu, tất cả đồ đạc của cậu cho tớ, sau đó chẳng nói gì nữa. Tôi ngắm Liên bao trùm trong quầng sáng, thật không hiểu cô làm sao có thể yên tĩnh như thế, không dạo phố, không dạo chùa chiền, không cần đàn ông, một mình kề cận mảnh trời này, ngắm mặt trời mọc lên lại lặn xuống.
Tớ muốn đi rồi, muốn đi Mêdog, cậu đi không?
Không đi. Lúc nào xuất phát?
Ngày mai hoặc ngày kia!
Tôi đến khách sạn đám Tạng phiêu thường ở, tỉ mỉ kiếm trong cột quảng cáo những tờ dán tìm bạn đồng hành. Có đi Everest, có đi Chamdo, còn có đi Changtang… Tôi không hứng thú với những nơi ấy, nơi tôi muốn đi là Mêdog, huyện duy nhất không thông đường của Trung Quốc, vùng đất bí mật ẩn giữa núi non trùng điệp cheo leo.
Không thấy tờ dán, tôi bèn móc thỏi son ra, tự viết một tờ: Người đẹp, tìm bạn đồng hành đi Mêdog, nam nữ không hạn chế, sau đó để lại số điện thoại di động. Còn chưa ra đến đường lớn, điện thoại đã reo không ngừng. Cuối cùng xác định năm người, hai nữ ba nam, hẹn tám giờ sáng mai ở bến xe ngoại ô phía đông xuất phát.
Gọi điện thoại cho Liên báo tin mừng, cô hỏi giấy thông hành của cậu làm xong chưa? Lúc này mới biết, đi Mêdog cần giấy thông hành. Gấp rút chụp hình, lục chứng minh thư ra photo hai bản, vội vàng chạy đến nơi làm giấy tờ, người ta nói phải có chứng nhận của cơ quan. Bèn gọi điện thoại cho bạn bè, tìm đến mấy người, cuối cùng cũng xin được giấy chứng nhận, lại ngồi taxi đến, người ta chả thèm xem qua, nói còn phải có thư giới thiệu của đồn công an. Suốt một buổi chiều, tôi cứ chạy tới chạy lui như thế, mướt cả mồ hôi, người ta chẳng thèm ngước mắt lên, coi thường hết thảy cố gắng của mình.
Ra khỏi văn phòng ấy, ngồi phịch xuống ghế gỗ ở hành lang, gọi điện thoại cho một cô gái đã hẹn, nói mình có thể không đi được, không làm được giấy thông hành. Cô bảo đừng nôn nóng, đợi tớ một lát. Một lúc sau cô chạy đến, chỉ cầm hình và chứng minh thư của tôi đi vào, chưa đến hai phút, đã cầm giấy thông hành ra, nói làm xong rồi, ngày mai xuất phát.
Trời ạ, chuyện này là thế nào vậy?
Tôi nhét giấy thông hành vào ba lô, lúc này mới nghĩ đến phải cảm ơn người ta một tiếng. Còn chưa biết tên cô nữa cơ, cô bảo cô tên là Cá trên trời, gọi cô Cá nhỏ được rồi. Vừa nghe tên này, đã biết người ta không muốn nói chuyện của mình.
Hẳn đó là đặc sắc của Tạng phiêu, lưu lại Tây Tạng, chính là muốn để bản thân nhẹ nhõm một chút, làm lại chính mình. Quên hết tất cả, bao gồm họ tên, bao gồm từng trải trong quá khứ, tất thảy vứt hết, lại tùy tiện đặt một cái tên, tùy tiện bịa một quê quán, đã biến thành một người hoàn toàn mới mẻ.
Thế là, ngày tháng ở Lhasa liền trở nên đơn giản, đơn thuần như trẻ thơ!
Thu xếp đồ đạc, đổ hết đồ ra đất, từng món từng món xem thứ nào dùng tới thứ nào không dùng tới. Những thứ dùng tới ném vào ba lô, những thứ không dùng ném sang một bên. Liên luyện yoga trên ban công, chẳng nghe lọt tai những lời lẩm bẩm hưng phấn của tôi. Thường nghĩ, không biết trên đời này còn có thứ gì lay động được Liên? Bàn về Mêdog với cô, nói đến chỗ hưng phấn bản thân hoa chân múa tay, thế mà cô chẳng có tí xíu phản ứng, trên mặt là nụ cười điềm đạm thoáng chút mơ hồ xưa nay vẫn thế. Ngắm cô dưới ánh nắng, nghĩ người đàn ông thế nào mới có thể khiến cô gái như Liên biến thành lòng như nước lặng?
Phải chăng một ngày kia tôi cũng sẽ trở nên như thế? Người đàn ông nào có thể khiến tôi trở nên như thế, ngược lại tôi cảm kích anh ta. Trạng thái hiện tại của Liên là điều tôi khao khát, nội tâm giống như một vị Kim cương bách độc bất xâm, bề ngoài lại là một vị thiên thần. Cuộc sống đơn giản, công việc đơn giản, tự mình nuôi sống mình, không vì tốt xấu của ngoại vật và được mất của bản thân mà vui hay buồn, cảnh giới tuyệt diệu biết bao!
Say sưa ngắm bóng lưng ngồi thiền của Liên. Áo vải bông mỏng nhẹ mặc trên người cô, sao mà thích hợp. Vải vóc trên đời này nhiều đến nỗi đếm không xuể, nhưng chỉ có một loại thích hợp nhất với mình. Cũng như vải bông, chỉ có thể mặc trên người cô gái như Liên, mới tỏ rõ chất mộc mạc không hưởng khói lửa nhân gian của nó. Nhìn gì mà say sưa thế? Liên bỗng nhiên quay người, tiếp đó nói: nha đầu chết tiệt, dáng vẻ sống lại của cậu vẫn rất đáng yêu đấy.
Tớ đang nghĩ phải chăng sẽ chết ở Mêdog, cậu bảo có khi nào tớ chẳng đi ra được không nhỉ?
Cậu chưa từng nghe sao? Người tốt mạng không dài, người xấu sống ngàn năm!
Tớ là người xấu? Cậu cho rằng tớ là người xấu? Tôi đột nhiên trở nên nghiêm túc, nước mắt rưng rưng. Tớ là người xấu ư? Tớ tốt với Gyatso, lên giường với Nhất Hàng, tớ đã thành gái hư rồi ư?
Liên bước đến, ôm tôi vào lòng, nói: Cậu làm sao có thể là gái hư kia chứ? Cậu nhiều nhất là yêu tinh.
Thế là tôi cười. Tôi là yêu tinh, từ nhỏ họ đã nói như thế. Khi tôi còn bé, cha thường ôm tôi nói tôi là yêu tinh nhỏ của cha; sau đó gặp được Minh, Minh nói tôi là yêu tinh nhỏ của anh, lừa tôi lên giường của anh, khiến tôi trở thành đàn bà, một người đàn bà như yêu tinh; sau đó một phụ nữ khác nhảy ra nói tôi là yêu tinh, đã dụ dỗ bạn trai của cô, đòi tôi trả Minh lại cho cô. Thế là tôi trốn chạy đến Tây Tạng, đêm khuya bị Gyatso vác trên vai, nói tôi là yêu tinh của anh, kiếp này định sẵn sẽ chung sống với anh; còn Nhất Hàng, cũng nói tôi là yêu tinh của anh, kiếp này định sẵn sẽ trở thành người phụ nữ của anh… Thế thì, tôi quả thật là yêu tinh rồi. Một yêu tinh ắt hẳn chẳng có chuyện gì là không nên làm? Nguyên tắc của yêu tinh và tiên nữ khác nhau, nguyên tắc của tiên nữ là khiến người khác vui vẻ, nguyên tắc của yêu tinh chính là khiến bản thân vui vẻ. Tôi vẫn thích làm yêu tinh cơ, chuyện khiến người khác vui vẻ hãy nhường cho tiên nữ làm thôi, tôi chỉ làm yêu tinh.
Liên giúp tôi gom lại đồ đạc vứt đầy đất, từng món một xếp vào túi. Sau đó từ trong tủ thức ăn vặt của cô lấy ra hai gói bánh quy, ném một gói cho tôi, nói đây là bữa tối của chúng tôi. Rồi pha cho tôi một ly nước ép trái cây, bản thân cô thì rót một ly nước lọc.
Sinh hoạt đơn giản là nguyên tắc của chúng tôi, tuyệt đối không vì ăn no bụng mà khiến mình cả người dầu khói. Trừ phi là vì vui vẻ, nấu một bữa cơm canh đơn giản cũng không hẳn là không được.
Ăn uống no nê, tôi vỗ bụng, rất mất hình tượng ợ một cái, nằm liệt trên đất, khiến Liên chau mày lườm tôi.
Điện thoại reo, Anh Sói gọi đến. Nói, Hảo Hảo, anh cả uống say rồi, say đến sắp chết, tụi anh đều không lo nổi, em đến trông nom nhé.
Vì hành động anh hùng của Anh Sói và Trác Nhất Hàng trong sự kiện “bắt cóc” lần trước, hai người bèn có lý do chơi chung với nhau. Nhất Hàng có xe, rành rẽ Tây Tạng hơn hẳn đám Tạng phiêu, không những tuổi tác, mà kiến thức và kinh nghiệm cũng không phải Tạng phiêu bình thường có thể bì kịp. Sau mấy chuyến du ngoạn xa gần, đã trở thành anh cả của đám người ấy. Thế nhưng Nhất Hàng có một thói quen, không bao giờ đưa Tạng phiêu đến nơi anh ở, bảo là không gian riêng tư, không cho quấy rầy. Trong đám người phiêu bạt ở Lhasa chúng tôi, cái gọi là không gian riêng tư hầu như không tồn tại. Chúng tôi ăn ở không phân biệt nhà nào, hôm nay ai đó có tiền, thì ăn chơi xả láng tập thể, ngày mai hết tiền, thì nhịn đói tập thể. Đương nhiên, đôi lúc, chúng tôi cũng AA, đây là bóng dáng mà cuộc sống quá khứ thỉnh thoảng vương lại, ở Lhasa không phải là tuyệt đối. Càng nhiều lúc, chúng tôi là một đám trẻ con không muốn khôn lớn, mỗi người ôm ấp mộng tưởng của riêng mình, quên tuốt quá khứ cũng quên tuốt tương lai, dạo chơi ở chốn trời xanh nước biếc này.
Nhất Hàng uống say rồi, còn say mèm, chuyện này rất hiếm. Từ khi quen anh đến giờ, luôn là một người đàn ông sạch sẽ, trên người thoảng mùi nước hoa, rất đỗi nho nhã, thích uống chút đỉnh, nhưng chỉ giới hạn rượu vang đỏ, một hai ly, dùng để tăng thêm tình tứ. Uống say? Không thể tưởng tượng. Tôi cười hì hì, tưởng tượng Nhất Hàng say xỉn không biết xơi tái sẽ như thế nào.
Chính vào lúc tôi đang nghĩ đến đắc ý suýt nữa chảy nước miếng, bên tai vẳng đến tiếng nói của cô nàng không hợp thời kia: Dáng vẻ của cậu giống như sói dê quỷ đói.
Tôi nguýt cô.
Nói với Anh Sói, lát nữa em đến, rồi cúp điện thoại ném lên giường. Kéo vi tính qua, lại bò toài tìm ổ cắm. Liên hai tay ôm ly nước lọc, đứng tựa cửa sổ, như cười mà không phải cười nhìn tôi, nói: Hảo Hảo, cậu sẽ muôn kiếp không phục hồi được đó.
Hừ hừ hừ, cái miệng quạ đen nhà cậu. Tôi liếc cô một cái, dựa vào đâu nói tớ muôn kiếp không phục hồi được, tớ đang cứu rỗi đứa bé sa vào lưới tình không thể tự cứu. Sau đó là ánh mắt thương xót của Liên tới tấp bay đến.
Tìm được ổ cắm, lỏng lẻo không chặt, cắm đến mấy lần mới có điện. Mở máy ra, thông qua QQ nhận file về Mêdog của một phượt gia gửi đến. Anh từng vào ra Mêdog ba lần, mượn lời của chính anh là “tương đối có kinh nghiệm”.
Mới ló mặt lên QQ, tiếng gọi chào đã vang không ngừng. Hôm nay không có tâm tư để ý bọn họ, ta đây còn có việc phải làm. Mở file nhận được, xem qua cả mừng.
Haha, hành trình rất đầy đủ, chi tiết. Không cần động não, làm theo cái này là được rồi. Quay đầu nói với cô nàng áo trắng không hưởng khói lửa nhân gian kia bên cửa sổ: Xem ra lần này ta đây không chết được rồi.
Cậu không đi gặp anh ấy sao? Trác Nhất Hàng!
Đi, đi ngay đây. Tạm biệt lần này, gặp lại sẽ là nửa tháng sau, thế nào cũng phải giã từ chứ. Tôi tỏ ra một biểu cảm hồ mỵ, quay người lách cách gõ bàn phím, gửi mail cho sếp. Gửi hai phương án hoạch định đã hoàn thành cho chị, nhờ chị chuyển phần trăm của tháng trước vào thẻ của tôi, nói tôi phải đi Mêdog một chuyến, khoảng nửa tháng sẽ về, có việc đợi tôi về lại làm. Sau đó đẩy vi tính ra, xách ba lô nhỏ ném lên vai, cầm điện thoại lên, gửi Liên một nụ hôn gió, rồi đi ra ngoài.
Này người chết, không thu dọn đồ đạc của cậu ư? Cô hỏi. Thân hình không hề nhúc nhích, vẫn là biểu cảm chiêu bài nhìn thấu chuyện đời đó.
Cậu giúp tớ đi, tớ tin tưởng cậu. Không ngoảnh đầu, đi thẳng xuống lầu bắt taxi, đến quán bar Travelers trên đường Cuomeilin.
Tôi thường đến quán bar này, từ chủ quán đến nhân viên phục vụ đều rất quen thuộc. Chủ quán là một Tạng phiêu lão làng, anh tự nói đã ở đây năm năm. Quán bar dạng này ở xung quanh phố Barkhor rất nhiều, một gian nhà cũ, một người thích Tây Tạng, bàn đất ghế đất, kiếm một số đồ vật bản địa bày lên, rồi từ Chongsaikang mua sỉ ít rượu, khi không đắt khách chủ quán kiêm phục vụ, khi đắt khách thuê hai nhân công thời vụ, bao ăn bao ở trả ít tiền lương. Không thể nói kiếm được tiền, nhưng nuôi sống bản thân lại nuôi sống người tình không thành vấn đề.
Ở Lhasa lâu ngày, đôi bên đều quen thuộc. Tôi vừa vào cửa, mấy bàn đã huýt sáo. Tôi cố ý uốn éo, thêm vài cái liếc mắt quyến rũ, xem như chào hỏi.
Anh Sói đập bàn gọi lớn: Hảo Hảo, ở đây ở đây. Tôi tháo kính mát, bước đến. Người đó nằm bò trên bàn, mắt lờ đờ nghịch một chiếc đồng hồ đeo tay kiểu cũ. Cô nàng bên cạnh anh nhìn thấy tôi, ngần ngừ một chút, vẫn đứng dậy ngồi sang đối diện. Tôi cũng không khách sáo, ngồi phịch xuống. Cướp lấy đồng hồ trên tay Nhất Hàng xem thử, đồng hồ Thượng Hải cũ đến rụng răng, đời ông nội từng dùng. Nhất Hàng nhìn thấy tôi, nói: Hảo Hảo, em… em lại xuất hiện rồi, là thật… người thật ư?
Cái gì? Người đẹp thế này còn có giả sao? Tôi nguýt anh một cái, nói: Say đến thật sự không ổn rồi, cả người đẹp cũng không nhận ra. Đồng hồ này anh kiếm từ đâu vậy? Văn vật à?
Đồng hồ? Đồng hồ gì?
Cái này nè! Tôi xách dây đồng hồ đung đưa trước mắt anh. Anh còn dùng món đồ chơi này ư?
Của cha anh. Anh cầm lấy, cất vào túi áo.
Vật kỷ niệm à. Anh còn ổn, biết món đồ này là ông già anh để lại, cất kỹ nhé, đừng để mất. Anh Sói, sao lại để anh ấy uống nhiều rượu thế này?
Cái gì anh để anh ấy uống? Anh ấy tự mình giành uống, uống sạch cả phần của anh nữa, làm anh hiện giờ con sâu rượu vẫn đang cựa quậy đây. Muốn đưa anh ấy về, không đi, nhất định đòi em đến.
Xem ra anh yêu em rồi. Tôi ghé đến trước mặt Nhất Hàng, hà hơi nói.
Anh yêu em. Nào ngờ anh thành thật không khách sáo thuận sào bò lên. Chọc cho những người bên cạnh cười ha hả.
Thôi đi, không vui. Tôi vỗ mặt anh, không để ý anh nữa, quay sang Anh Sói. Cô ấy là? Tôi hướng về người đẹp bên cạnh Anh Sói chu miệng, nhìn ánh mắt ấy, hình như có ý với Nhất Hàng.
Hôm nay nhặt ở tu viện Sera, long trọng giới thiệu, người đẹp Mơ Hồ. Anh Sói nói: Nếu em còn không đến, Nhất Hàng đã thuộc về cô ấy rồi.
Xí..., Mơ Hồ đẩy Anh Sói một cái, dáng vẻ nũng nịu, vẫn quả thật có chút tư thái của người đẹp mơ màng.
Lấy đi lấy đi, đỡ cho tớ chạy một chuyến. Tôi cười với Mơ Hồ, chân tâm thành ý.
Đừng nghe anh ấy nói bậy. Chiều nay khi chơi ở tu viện Sera, họ có xe, đưa tớ về. Hảo Hảo, nghe họ nói đến cậu cả buổi tối, cuối cùng nhìn thấy người thật! Người đẹp cười lên cũng rất đẹp, răng trắng như trân châu. Chẳng giống tôi, răng hỏng hết, cười lên rất thẹn với người xem, nhưng vẫn thường không nhịn được cười toe toét.
Lúc này, phục vụ mang tới hai đĩa bánh kem, nói là khách Tây ở đối diện tặng, mời chúng tôi nếm thử. Anh Sói búng tay đánh tróc với ông Tây, nâng ly uống một hớp, xem như cảm ơn.
Tôi nhìn quanh quán bar nhỏ này, phát hiện trong số nhân viên phục vụ đã thêm một gương mặt xa lạ. Bèn hỏi Anh Sói: Cậu phục vụ người Tạng mặt đen kia đâu?
Đi rồi, họ bảo về quê đám cưới rồi.
Đám cưới? Trên đời lại thêm một gã khờ!
Nếu em gả cho anh, anh tình nguyện làm gã khờ. Anh Sói uống một hớp bia lớn, lả lơi liếc tôi.
Đêm nay thích hợp trêu hoa ghẹo nguyệt ư? Sao mà nhìn mỗi bàn đều có chút ám muội. Ngay cả anh em hào sảng như Anh Sói cũng trở nên sắc dục.
Anh? Tôi ngắm nghía Anh Sói từ đầu đến chân. Cặp với người đẹp đây, đẳng cấp còn kém một chút.
Ôi, Anh Sói ôm ngực, vờ ra vẻ bị thương nặng lắm. Hảo Hảo, em giết người không thấy máu đó.
Nhất Hàng dùng tay bốc một miếng bánh kem nhét vào miệng. Tôi nhìn anh, thật sự ngạc nhiên khác thường. Rượu có ma lực lớn đến thế sao? Có thể biến một người đàn ông nho nhã, tinh tế thành bất cẩn thế này. Nhất Hàng tinh tế, ăn uống không phát ra tiếng, trên quần áo không dính cọng lông, uống rượu chú trọng tình tứ, rượu gì dùng ly gì còn quan trọng hơn bản thân rượu. Một người đàn ông chú trọng cảm giác hình thức như vậy, lại dùng tay bốc đồ ăn, thú vị. Tôi ngắm Nhất Hàng, lại ngắm chai bia trên bàn, bỗng nhiên bật cười.
Anh ấy, Anh Sói chu miệng về phía Nhất Hàng, món gì?
Tôi híp mắt nhìn Nhất Hàng say bí tỉ: Món hải sản.
Là mùi vị em thích phải không?
Bản thân em cũng không biết thích mùi vị gì.
Thảo nào. Anh Sói ghé mặt đến trước mặt tôi, ngửi trên dưới trái phải, nói hình như vẫn có mùi dầu bơ.
Chỉ cần không có mùi sói là được. Tôi kéo chai bia qua uống một ngụm.
Ôi, anh chết mất. Anh Sói tựa trên người Mơ Hồ. Mơ Hồ, chắc em không thể thấy chết không cứu đâu nhỉ.
Chúng tôi uống rượu, bốc phét, mãi đến khuya, đều có chút men say. Về nhà. Không biết ai đã nói câu này. Sau đó cả đám đứng dậy, không, là tôi đỡ Nhất Hàng đứng dậy, Mơ Hồ đỡ Anh Sói đứng dậy, ai nấy ư ử bài hát không thành khúc điệu đi ra ngoài, ai thanh toán, chẳng biết.
Đường Bắc Kinh Trung, rất yên tĩnh, bốn người chúng tôi ôm vai nhau, lớn tiếng hát, đi xiêu xiêu vẹo vẹo như con cua.
Mơ Hồ hình như ở khách sạn Tangfan ngoại ô phía đông, sau khi cô và Anh Sói hẹn nhau ngày mai đi tu viện Drepung, vẫy một chiếc xe, đi mất.
Người đẹp đi rồi. Tôi huýt sáo với Anh Sói.
Tội nghiệp quá, cả một cô gái cũng không giữ được. Anh Sói rất phối hợp, cúi đầu đấm ngực.
Sau đó chúng tôi cùng cười lớn.
Đã đến ngã đường Duosenge.
Anh Sói nói: Hảo Hảo, chúng ta đưa anh cả về trước.
Thôi, anh say thế này, còn đưa người khác. Em biết anh vẫn ở hostel, anh về đi, em đưa anh ấy được rồi.
Anh Sói nháy mắt với tôi, ám muội làm mặt hề.
Nếu anh còn cái kiểu ấy, thế thì anh đưa anh ấy nhé.
Tôi muốn Hảo Hảo đưa. Nhất Hàng lại vào lúc này buông ra một câu.
Người ta không cần anh, hết cách, muốn làm việc tốt cũng làm không thành. Anh Sói vẫy một chiếc xe, giúp tôi nhét Nhất Hàng vào.
Đến cổng khu nhà, móc mãi trong ba lô, mới móc ra mười đồng trả tiền xe. Chật vật lôi Nhất Hàng ra, dìu anh, xuyên qua con đường tăm tối của khu nhà, đến cổng, móc chìa khóa trên người anh ra, mở cửa, đi vào.
Tốt rồi, rốt cuộc cũng về nhà rồi. Tôi dìu anh lên lầu, để anh nằm trên giường, hứng một chậu nước nóng, dùng khăn lau mặt cho anh. Do dự một lát, cuối cùng vẫn giúp anh cởi quần áo. Lúc này mới phát hiện, vậy mà anh mặc cho tôi dày vò, ngoan ngoãn đến lạ lùng. Cũng được đi, người say có lẽ chẳng biết gì cả, đỡ cho tôi khó xử. Nhét anh vào trong mền. Nghĩ tới ngày mai sẽ xuất phát, dọc đường đi Mêdog đều không thể tắm gội, nhìn nhà vệ sinh tỏa ra ánh đèn màu vàng cam, có chút lơ đãng. Thực sự thích cái bồn tắm ấy, to đùng, ngâm mình trong đó, ắt là ấm áp thoải mái biết bao.
Nhất Hàng nằm trên giường ngủ rất say, xem ra trong chốc lát sẽ không tỉnh dậy. Tôi lẹ làng cởi quần áo, đi nhanh vào, chốt cửa lại. Ha ha, lần này có thể yên tâm hưởng thụ tắm bồn rồi. Vặn mở vòi nước, cảm nhận độ ấm của nước. Lâu rồi không tắm bồn, nơi ở trước đây là phòng vệ sinh công cộng, nhà thuê của Gyatso cũng vậy, chỉ có thể tắm vòi sen. Ở Lhasa, chúng tôi không cần tắm mát, nhiệt độ ở đây khiến da dẻ chúng tôi mỗi ngày đều khô ráo. Nhưng quá đỗi khô ráo, ngược lại càng tưởng nhớ cái cảm giác ngâm trong nước, cảm giác ngâm trong nước nóng. Không thích đến phòng tắm hơi, tôi có tật ưa sạch sẽ. Thế nhưng, tôi lại là một cô nàng đặc biệt thích tắm bồn, từng có kỷ lục một ngày tắm năm lần.
Ngắm nhìn bồn tắm bốc lên hơi nóng nghi ngút, tôi nôn nóng nhảy vào, nước ấm lập tức bao vây toàn thân. Nhắm mắt, cảm nhận sự ấm nóng tràn trề từng tấc thân thể, ngâm nga một bài hát ngắn.
Nằm mệt, đổi hướng. Ôi, nếu thời gian có thể ngừng lại thì tốt biết mấy! Tôi vuốt ve thân thể của mình, đường cong khêu gợi, như quả mật đào chín muồi, có thể nhỏ ra nước. Thân thể thế này, vì sao chẳng có một chốn gửi gắm? Không, là chẳng có một chốn nguyện ý gửi gắm? Tôi nhớ tới Minh, nhớ tới Nhất Hàng, nhớ tới Gyatso, ba gương mặt đàn ông này thay nhau xuất hiện trước mắt. Họ người nào cũng từng nói tôi thuộc về mình, nhưng người nào cũng chưa từng nói với tôi “Hãy gả cho anh!” Đúng, Minh đã tặng tôi một chiếc nhẫn, cho rằng tôi chính là mong mỏi chiếc nhẫn đính hôn này mới đi xa đến chân trời. Đàn ông luôn tự cho là đúng như thế. Cho rằng đã có thân thể tôi, trái tim tôi nên thuộc về anh ta bảo quản. Cho rằng lồng vào ngón giữa của tôi, trái tim tôi sẽ ở lại. Kỳ thực, chiếc nhẫn hay căn nhà, đó đều chỉ chẳng qua là cái cớ tìm kiếm tình yêu của phụ nữ mà thôi. Thứ chúng tôi thật sự muốn có, đàn ông không cho nổi, cũng không bằng lòng cho.
Ngón tay vô thức xoay vòng trên ngực, vân vê núm đỏ ấy, cảm thấy thân thể rúng động từ trong ra ngoài. Lấy sữa tắm, mới phát hiện là nhãn hiệu mình thích, lần đó dạo siêu thị đặc biệt mua về. Sau khi dùng hai lần, tôi không đến nữa, anh vẫn giữ lại. Đổ một vốc đầy, xoa trên bầu ngực đầy đặn trắng nõn, xát ra thật nhiều bọt, từng đám rơi xuống nước, lại bê bọt nổi xoa lên người, rơi xuống lại bê lên, lặp đi lặp lại đùa nghịch, cười nắc nẻ không ngớt.
Quên cả thời gian, cũng quên cả địa điểm.
Cuối cùng chơi mệt, vớt mình ra, lau khô, dùng khăn tắm quấn người, bầu ngực lộ ra một nửa, tôi thích để mình như thế, cảm giác mình như thế đặc biệt gợi cảm. Vẻ gợi cảm của phụ nữ không phải tất thảy chuẩn bị vì đàn ông, có lúc cũng chuẩn bị vì niềm vui của chính mình. Ngắm cô gái trong gương mịt mờ hơi nước, như một nữ thần gợi cảm vừa tắm xong, thế là dẩu môi, hôn gió một cái.
Mở cửa. A, con người vốn dĩ nên nằm trên giường kia lại ở trước cửa nhà vệ sinh, một tay chống tường, mắt say mơ màng nhìn tôi.
Anh không phải say rồi sao?
Say rồi, vì em!
Xin lỗi, mượn dùng nhà vệ sinh của anh. Nhìn mắt anh, hoảng loạn đến nói không lựa lời.
Nếu bằng lòng, nó mãi mãi thuộc về em. Trong mắt anh dâng lên sắc thái mông lung như mộng, nhìn tôi nói, lại không có ý bỏ cánh tay xuống để tôi đi qua.
Em không biết anh đã thức dậy. Nắm khăn lông trước ngực, khom lưng chui ra, nhanh chóng nhặt quần áo dưới đất lên. Lúc này mới phát hiện, dưới ánh mắt của anh, tôi không có dũng khí buông lỏng tay mình.
Muốn em mặc áo thế này sao? Tôi hỏi.
Anh không ngại ngắm em một lần nữa. Anh xoay người, như cười mà không phải cười nhìn tôi.
Em ngại. Tôi ngẩng đầu, nhìn lại anh. Người này giống bộ dạng say xỉn hay sao? Chẳng lẽ vừa rồi anh giả bộ?
Ngại gì?
Mắt khép hờ liếc anh. Nhất Hàng, bộ dạng này của anh, không đủ quân tử.
Em sỉ nhục anh. Anh bước tới nhìn tôi, tình ý thiết tha. Một tay đặt trên bờ vai trần của tôi nhẹ nhàng vuốt ve, tay kia vén mái tóc ướt của tôi ra sau gáy, vân vê dái tai của tôi. Khẽ nói, em cảm thấy trong phòng ngủ của mình, anh đối mặt với một người đẹp vừa tắm xong, còn có thể làm quân tử không?
Tôi là cô nàng không vượt qua nổi cám dỗ. Đặc biệt là người đàn ông đứng tuổi thành thục ấm áp kỹ xảo cao siêu dạng này. Miệng nói không, thân thể lại không nén nổi tựa qua. Anh cúi người, dùng đầu lưỡi nhẹ nhàng liếm bàn tay cầm khăn lông của tôi, sau đó ẵm tôi lên. Đừng, Nhất Hàng, Liên còn đợi em thu xếp đồ đạc đó. Tôi vô vọng giãy giụa trong lòng anh, kiểu muốn cự tuyệt lại như nghênh đón thế này càng giống cầu hoan chăng?
Anh đặt tôi lên giường, hôn trán, giữa mày và mũi tôi, sau đó ngấu nghiến mút môi tôi. Trái tim tôi mách bảo bản thân phải ngừng lại, song thân thể không tự chủ được nóng bừng, cong người nghênh đón sự vuốt ve của anh. Không biết lúc nào, chiếc khăn lông quấn trên người đã chẳng thấy, thay vào đó là thân thể đàn ông ấm áp.
Khi trời tờ mờ sáng, đột nhiên giật mình tỉnh giấc, người đàn ông bên cạnh hơi thở đều đặn. Ngắm mọi thứ trong phòng, quen thuộc mà lại xa lạ, lòng vô cớ trống trải. Sao tôi ở đây? Tôi làm gì phải nán lại đây? Mền tơ tằm, ấm áp dễ chịu, hơi quá ấm ngược lại không ngủ được. Lúc trời sắp sáng, khẽ khàng mặc áo rón rén ra cửa, như bỏ trốn chạy ra khỏi khu nhà, men theo đường cái chạy như bay về phía trước.
Đường xá sớm mai, không người, thỉnh thoảng một chiếc taxi chạy nhanh giảm tốc ấn còi, thấy tôi chẳng có phản ứng lại chạy vội đi. Tôi chạy như phát điên, không phân biệt phương hướng, gió quất trên mặt, tê tê, cảm giác trong miệng có vị mặn, nước mắt không biết lúc nào đã chảy xuống. Vì sao tôi khóc cũng chẳng biết nữa. Chính là muốn khóc, muốn khóc thật to, muốn gào thét, chỉ cảm thấy trong lòng buồn bã, đầu óc căng nhức. Tôi không biết mình thế này là sao, trong thời gian hơn nửa năm nay, nước mắt cứ muốn đến là đến.
Mỏi chân, ngồi bệt bên đường, gập chân ôm trước ngực, cằm đặt trên đầu gối, ngơ ngác nhìn phía trước. Đây là một tư thế an toàn, khi bất lực, khi không tìm thấy phương hướng, khi hoang mang, đều tìm một ngóc ngách ngồi như thế, hoàn toàn bao bọc trái tim lại. Tôi không muốn bị thương, nhưng lại cứ bị thương; tôi không muốn làm tổn thương người khác, lại cứ làm tổn thương người khác.
Không muốn để cuộc sống của mình buông thả không ràng buộc gì như thế, thân thể luôn luôn đi ngược lại với con tim. Tôi không biết tôi làm sao, sau mỗi lần vui vẻ, con tim lại càng thêm trống trải.
Chẳng có lý do, tôi đột nhiên lấy ba lô xuống, ra sức móc bừa bên trong, để mặc nước mắt thấm ướt manh áo mỏng. Nửa gói bánh quy, một trái táo, hai miếng chocolate, nhét đại vào miệng, hòa với nước mắt, gắng gượng nuốt xuống.
Đi thôi đi thôi, rời khỏi nơi này.
Cho mình thời gian, cũng cho người khác thời gian.
Về đến nhà trọ gia đình của A Kiện, cửa lớn khép hờ, đêm qua phải chăng họ đều để ngỏ cánh cửa này cho tôi? Lên lầu, thấy cửa phòng của Liên cũng khép hờ, lọt ra một tia sáng ấm áp.
Khe khẽ đẩy cửa ra, Liên đang ngủ say, nhưng ba lô của tôi đã thu xếp xong, đặt trên chiếc bàn bên cửa, trên ba lô có một mẩu giấy, trên đó viết: đừng mong tớ tiễn cậu, ở Mêdog nếu có chuyện, có thể gọi số điện thoại này, nói cậu là bạn tớ, anh ấy sẽ giúp cậu, sau đó ghi một cái tên, một số điện thoại.
Tôi thoáng nhìn bóng người trùm mền trên giường kia, chu miệng, làm một tư thế hôn, rồi xách ba lô lên, nhẹ nhàng đóng cửa, trong ánh nắng ban mai, đi về bến xe ngoại ô phía đông.
(Dorje Zhoigar)
7.5.14
Hôn nhân Tây Tạng (11)
Zhoigar:
Sau khi ăn lễ Ongkar là bắt đầu thu hoạch vụ thu khẩn trương. Nói là khẩn trương, cũng náo nhiệt chẳng bao lâu, ít ra nhà chúng tôi là như vậy. Thời gian chưa đến một ngày, thanh khoa đã toàn bộ chất thành một kim tự tháp nhỏ trên mặt đất, chỉ chờ phơi cho hơi nước khô ráo, tuốt hạt là được.
Thu hoạch vụ thu đối với chúng tôi chính là một kiểu lao động mang tính tượng trưng. Lương thực thật sự đang đi trên núi, những con bò yak và cừu ấy mới là kho lương của một gia đình.
Tôi ôm bó thanh khoa cuối cùng đến xếp xong, rốt cuộc có thể thẳng lưng lên nghỉ ngơi đôi chút. Tashi kéo bó đậu Hòa Lan bước đến, chìa tay đưa cho tôi chiếc khăn mặt, nói: “Em sang gốc cây bên kia ngồi một lát, việc còn lại anh làm được rồi!”
Tôi nhìn ruộng đậu, cũng chẳng còn lại bao nhiêu việc, huống chi còn có Namgyal phụ giúp. Bèn chẳng nói gì, đi đến trên bờ ruộng bên cạnh, nằm dưới bóng cây. Không biết vì sao, gần đây luôn dễ mệt mỏi, dạ dày cũng thường hay khó chịu, ăn gì cũng muốn nôn, còn không thể để người nhà phát hiện. Mùa này là lúc chúng tôi bận rộn nhất, gặt hái, tích trữ chất đốt của mùa đông, chăm sóc cừu con, bê con mới sinh, công việc rất nhiều. Nếu để họ phát hiện tôi mang thai, nhất định sẽ không cho tôi ra khỏi cửa. Nếu tôi ở nhà, Namgyal nhất định sẽ nấn ná trong nhà chẳng làm gì cả. Việc nhiều như thế, chỉ dựa vào Tashi, làm sao bận rộn cho xuể?
Tôi lim dim mắt, nhìn xuyên qua ngọn cây, bầu trời xanh thẳm, mấy sợi mây trắng lẫn trong màn trời, chầm chậm di động. Tôi thích thời tiết thế này, không lạnh không nóng, mát mẻ.
Từng đàn từng đàn chim vân tước bay đến, đậu trên ruộng thanh khoa đã gặt hái, ríu ra ríu rít tìm thức ăn. Nếu tôi hơi động đậy, chúng sẽ vù một tiếng bay lên, chẳng cần đến năm phút, lại đáp xuống, tiếp tục ồn ào như trước.
Tôi nhặt một bông thanh khoa để sót, tuốt xuống đặt trong lòng bàn tay chà xát mấy cái, hạt chắc mẩy liền lộ ra, thổi vỏ đi, ném vào miệng, một mùi vị tươi mới lan khắp toàn thân.
Chính vào lúc tôi đang tỉ mỉ thưởng thức mùi vị từ khoang miệng ngấm vào tim phổi, nghe thấy đằng kia Namgyal la lớn: “Anh cả đã về, anh cả tôi đã về!”
Tôi không thể hình dung tâm trạng lúc này, sướng điên người, như chim vân thước bay liệng cao tít trên trời vậy. Gyatso đã về, người đàn ông sau khi đám cưới với tôi chưa đầy một tuần đã ra đi chẳng thấy bóng dáng cuối cùng đã về. Anh về nhà không những tôi vui mừng, mà người trong nhà đều vui mừng, mẹ chồng thậm chí ôm chầm Gyatso khóc không thành tiếng. Cha chồng bận tíu tít lấy rượu thanh khoa, ly rượu bằng bạc ông hiếm khi dùng đến cũng lấy ra.
Em trai em gái đều vây bên Gyatso, trên tay cầm quà anh tặng, mỗi người đều có. Cha chồng một bộ áo lót giữ ấm, mẹ chồng một chiếc bang-điển dệt tơ của Nepal, Tashi và Namgyal mỗi người một chiếc mũ da chồn, em trai và em gái đều là hộp đựng văn phòng phẩm, anh tặng tôi một chiếc áo len, màu đỏ chót, như ráng sớm bên trời!
Lòng tôi vui sướng lâng lâng, cả xuống lầu cho gia súc uống nước cũng nhẹ nhàng hơn nhiều so với thường ngày, thậm chí còn ngâm nga điệu hát ngắn của quê nhà. Ngắm bê con đang uống nước, lỗ tai lại chú ý mỗi một chi tiết trên lầu truyền xuống. Giọng nam trung trầm thấp kia đang trả lời câu hỏi của cha mẹ chồng, anh bảo anh cứ bận suốt, bận thu mua trùng thảo, bận bán trùng thảo cho lái buôn Quảng Đông. Hình như còn lấy tiền đưa cho Tashi, nói phải mua thêm đồ dùng trong nhà. Có lẽ Tashi không lấy, cha chồng khuyên Tashi, nói đều là tiền người nhà kiếm được, nên dùng vào việc xây dựng gia đình, bảo Tashi cầm lấy.
Khóe miệng tôi nhếch lên, cười khoan khoái. Người đàn ông này cuối cùng cũng không quên mái nhà này, không quên trách nhiệm làm gia trưởng của mình.
Lúc này, Tashi xách một sọt cỏ xuống lầu, bỏ vào máng, thêm ít nước và bã rượu. Anh ngồi xổm trên đất, nhìn bò ngoạm cỏ, đột nhiên buồn buồn nói: “Anh ấy đã về, ngày mai em có thể về thăm cha mẹ rồi!”
Tôi hiểu tâm trạng lúc này của anh, từ lúc nhìn thấy anh cả anh, anh đã rầu rĩ. Vì Gyatso đột nhiên trở về, tất cả mọi người đều đang hưng phấn, ngoài tôi, chẳng ai chú ý đến sự thay đổi của Tashi. Hơn nữa, Tashi vốn hướng nội, hiền lành như khúc gỗ, không nói chuyện, vùi đầu làm việc là trạng thái rất bình thường, nhưng tôi biết, vì sự trở về của Gyatso, Tashi đã có tâm sự không muốn nói với ai.
Tôi đi đến bên anh, ngồi trên đống cỏ, đối với hoàn cảnh hiện nay của mình, thật có chút bất lực. Ba người đàn ông, ba kiểu tính tình, muốn nhất nhất chăm lo, quả thật hơi khó xử. Nhưng tôi vẫn phải cố gắng, bất cứ người nào cũng không thể lơ là, một người có chuyện, sẽ nguy hiểm cho sự hoàn chỉnh của gia đình. Đó mới là chuyện cười lớn nhất!
Tôi xưa nay kiêu hãnh, làm sao để mình trở thành trò cười? Trở thành đề tài đàm tiếu lúc trà dư tửu hậu của người làng?
“Tashi, anh biết tình cảnh của em. Dù sao anh không cũng mong lần đầu em về nhà mẹ đã bị người khác chế nhạo chứ?”
“Anh mong em vui vẻ!” Anh nói lúng búng, lời nói đơn giản, nhưng tôi biết đây là cách nghĩ chân thực nhất của anh. Anh không vui, chỉ là phản ứng tự nhiên tận đáy lòng, không liên quan với lý trí. Anh biết nên làm thế nào, từ nhỏ đã biết. Buồn bực trong lòng, chỉ là muốn tìm một người giãi bày mà thôi. Còn tôi, là vợ anh, là người phụ nữ duy nhất của anh.
“Thế là đúng rồi. Cha mẹ đều đang trông em về, gả chồng mấy tháng rồi, em cũng nhớ họ lắm. Trên lễ phép, cũng đã đến lúc em về nhà mẹ. Tashi, em không có lơ là anh, anh trong lòng em là khác biệt, là người đàn ông cùng em thiết thực yên ổn sống qua ngày tháng, anh hiểu không?”
“Anh hiểu. Anh đợi em về đi xay tsampa năm nay!”
Tôi nhìn anh, người đàn ông này luôn ghi nhớ mỗi một câu tôi từng nói. Chẳng qua tôi vô ý nhắc đến “muốn ăn tsampa mới năm nay”, anh liền ghi nhớ, cứ mãi để trong lòng. Tôi chìa tay ra, đặt vào bàn tay anh, một cảm giác ấm áp truyền vào lòng, ấm áp mà yên tâm. Nói thực, tôi có thể cười cười nói nói đè nén ý ghen của Namgyal xuống, không để anh phát tác. Đối với Tashi, tôi lại rất khó làm được. Nỗi bực bội của Namgyal, là nói toạc móng heo, viết rõ ràng trên mặt, như một đứa bé, biến hóa cảm xúc rất dễ nắm bắt, dỗ một lát đã có thể trời quang mây tạnh; còn Tashi không thể, tính nín nhịn của anh luôn khiến tôi không yên, tự đáy lòng sẽ sinh ra cảm giác áy náy không nên có. Đúng vậy, áy náy ấy là không nên có, tôi vốn dĩ không chỉ gả cho một người đàn ông, thân thể và trái tim định sẵn phải chia đều cho mấy người chồng. Nếu vì ở chung với người chồng này, mà tôi nảy sinh áy náy đối với người chồng kia, thế thì những người khác sẽ làm sao đối mặt?
Công bằng, là quả cân để gia đình anh em cùng vợ có thể gắn bó lâu dài. Một khi quả cân này mất đi chuẩn mực, đó sẽ là sự khởi đầu tai nạn của gia đình!
“Sau khi em về, cùng anh đi bãi chăn thả được không? Em nói với cha theo anh đến bãi chăn thả xem bê con năm nay.”
Tashi siết chặt tay tôi, gật đầu thật mạnh. Tôi biết anh hiểu tôi, dù trong lòng anh có buồn tủi thế nào, con người luôn đứng chung với tôi.
Bò mẹ ăn uống no say xong, nằm trong đống cỏ, phát ra tiếng ngáy nặng nề. Bê con chen dưới bụng mẹ, đôi mắt vừa lớn vừa tròn ngó nghiêng bốn phía, mùi phân bò nồng nặc ngập ngụa trong chuồng.
Tôi đứng dậy, vận động lưng eo một chút. Những ngày này luôn dễ mệt mỏi, chỉ cần ngồi xuống, liền không muốn đứng lên. “Lên lầu đi!”
“Ừ!”
Mượn ánh sáng lờ mờ đi ra ngoài, khi đến bên cửa, phát hiện sau lưng không hề truyền tới tiếng bước chân, quay người lại, thấy Tashi vẫn đang ở bên chuồng bò, người tựa vào tường, lặng lẽ nhìn tôi. Sắc chiều trầm trầm bao phủ thân hình cao lớn của anh, trong mắt là nỗi trống vắng nói không nên lời.
Nhìn thấy vẻ bi thương trong mắt anh, lòng lại không sao chịu nổi. Khẽ gọi một tiếng: “Tashi…” Bước đến, gieo vào lòng anh. “Anh đừng như thế, em rất nhanh sẽ trở lại, anh thế này sẽ khiến em không yên!”
Anh đột nhiên ôm chặt tôi, áp mạnh môi trên môi tôi, trăn trở hôn tôi, nghiến ngấu môi tôi, đầu lưỡi tôi. Anh không ngừng lẩm bẩm: “Zhoigar… Zhoigar… Em là ma nữ của anh, em là ma nữ của anh…”
Vừa hở ra cơ hội thở lấy hơi, tôi ghé đầu sát bên tai anh, khẽ nói: “Em có thai rồi!” Tôi không nói “Anh sắp làm cha rồi”, vì tôi cảm thấy câu ấy đối với anh không chân thực; tôi cũng không nói “Anh sắp làm chú rồi”, vì câu ấy đối với anh là sỉ nhục. Tôi chỉ nói “Em có thai rồi”, đây mới là kết quả, mà kết quả này là điều anh luôn mong mỏi, là điều anh vui lòng nhìn thấy.
Quả nhiên, mắt anh trong thoáng chốc sáng lên, bàn tay vốn đang xoa nắn trên bụng dưới của tôi cũng giảm nhẹ sức lực, trở nên càng ấm áp, càng dịu dàng, ngọn lửa vốn rực cháy trong mắt cũng biến thành một dòng suối mát tình ý miên man.
Sau đó anh lại hôn tôi, rất đỗi tinh tế mà thắm thiết. Mãi đến khi trên lầu mẹ chồng gọi “Zhoigar, lên ăn cơm” mới thôi.
Lúc ăn cơm tối, cha chồng tỏ vẻ như qua loa sơ sài bảo: “Zhoigar, con gả đến nhà chúng ta cũng mấy tháng rồi, nên về thăm nhà, ngày mai để Gyatso đưa con về thăm cha mẹ nhé!” Khi ông nói chuyện, mắt lại nhìn Gyatso, trên mặt là niềm hân hoan và vui mừng không che giấu nổi.
Mẹ chồng cũng ở một bên gật đầu phụ họa, nói: “Ở thêm vài ngày, bầu bạn mẹ con, giúp họ thu hoạch xong thanh khoa hẵng về!”
Tôi gật đầu, không dám nhìn ai, tôi biết Namgyal và Tashi đều đang chú ý tôi, bộ dạng như chẳng có chuyện gì mới có thể khiến họ yên tâm.
Còn Gyatso, ánh mắt của anh mãi vẫn không dừng lại trên người tôi. Nói chính xác, hẳn là không dám táo tợn dừng lại trên người tôi? Vì đến mấy lần, đều cảm giác anh đang len lén quan sát tôi, đợi tôi vừa quay người, anh lại nhanh chóng nhìn sang nơi khác.
Cha chồng lớn tiếng bảo Namgyal đi rửa bát, lại bảo mẹ chồng rót ra một bình rượu mới, nói để Tashi cùng ông thoải mái uống một ly. Gyatso vẫn cứ bất động, cha chồng đoạt ly rượu của anh, nói anh đã ngồi xe cả ngày, đi nghỉ sớm thôi.
Tashi nghe cha chồng nói thế, liếc tôi một cái thật nhanh, vẻ đau khổ vừa thoáng hiện đã biến mất.
Gyatso không nói không rằng, đi về phía gian phòng nhỏ của tôi. Khi đến cửa, tôi thấy anh ngần ngừ một chút, vẫn cởi thắt lưng treo trên cái đinh bên cửa.
Quy củ ước định mà thành, ai cũng phải tuân thủ. Bất kể người này thân ở đâu, tâm lại ở đâu, về đến nhà, về đến quê nhà nơi mọi chuyện đều phải làm theo quy củ này, thì phải tuân theo nghi thức đã lưu truyền mấy ngàn năm và vẫn đang tiếp tục lưu truyền.
Thắt lưng hoặc giày để ở cửa, nói cho các anh em khác biết, đêm nay người phụ nữ trong phòng này thuộc về mình.
Theo truyền thống, thân tâm của tôi thuộc về mấy người đàn ông này. Vậy họ thì sao? Thân tâm của họ cũng thuộc về tôi ư? Tôi không dám xác định. Ngoài Tashi, hai người chồng kia, hoặc nay mai còn có các em trai bên dưới gia nhập, nhưng họ thì tôi không thể nắm bắt.
Tôi nhìn Gyatso nhanh chóng vắt dây lưng bên cửa, như trốn chạy lủi vào phòng, rồi dùng chân đóng cửa. Tôi có chút vui mừng, rốt cuộc anh đã trở về, chẳng phải sao? Dù có ngàn oán giận, muôn tủi thân, từ lúc nhìn thấy anh trở về, đều hóa thành không có.
Tôi không muốn kể về cái đêm êm ái đẹp đẽ ấy. Đến khi trời sáng, anh vẫn còn hoạt động trên người tôi, đầu úp bên tai tôi bất lực mà cuồng nhiệt gào: “Ma nữ, em bảo anh phải làm sao? Em khiến anh phải làm sao đây?”
Tashi nói tôi là ma nữ của anh, Gyatso hiện giờ cũng gọi tôi là ma nữ, còn nhớ đêm đầu tiên anh gọi tôi là “Yến Tử”. Tuy nhiên, tôi vẫn thích anh gọi tôi “ma nữ”, đây là từ mà tôi quen thuộc, cũng là từ mà tôi có thể nắm bắt, tôi biết khi anh liên tục trùng lặp gọi “ma nữ”, nhất định trái tim sẽ không còn lạc lối nữa. Còn về “Yến Tử”, từ ấy đối với tôi quá đỗi xa lạ, xa lạ đến nỗi không có bất cứ đồ vật cụ thể nào có thể liên kết chung với từ này.
Lúc phải thức dậy, phát hiện cả người đau nhức, trên mỗi tấc da thịt lọt vào tầm mắt đều là dấu vết sau khi hoan hảo. Dù rất tham luyến vòng tay ấm áp của anh, nhưng vẫn dịch cánh tay đè trên ngực ra rón rén bò dậy. Là một người vợ, tôi hy vọng mình có thể cùng chồng sánh vai đứng bên nhau, cùng nghênh đón gió mưa, chứ không phải giống như một dây mây bám trên người họ để leo lên, sinh tồn nhờ chất dinh dưỡng của họ. Do đó, cố gắng làm tốt mọi việc trong phận sự của mình, bao gồm dậy sớm chuẩn bị bắt đầu một ngày.
Sắp về nhà mẹ rồi. Tôi mở rương quần áo, tìm ra áo váy vừa vặn nhất đẹp đẽ nhất mặc vào, lại chuẩn bị sẵn sàng quần áo của Gyatso, nhẹ nhàng đặt bên gối. Lần đầu về nhà mẹ, y phục tốt xấu đại điện cho ngày tháng tôi trải qua ở nhà chồng. Không muốn để người nhà lo lắng, không muốn để người làng chê cười, gắng sức trang điểm bản thân thật đẹp.
Tôi chải mái tóc dài thành bím quấn trên đầu, trên đỉnh đầu chặn một viên tùng thạch lớn. Lúc này trong gương hiện ra một gương mặt phụ nữ Khampa điển hình: đường nét rõ rệt, trong xinh đẹp có mạnh mẽ.
Hài lòng mỉm cười với mình, mở cửa bước ra. Trong bếp, những người khác còn đang ngủ yên. Tôi nhìn thoáng qua, Tashi đâu? Tashi sao lại vắng mặt? Chỉ chừa lại một chiếc ống mền trống rỗng.
Có lẽ anh dậy sớm chăng? Tôi không dám xác định. Vặn mở thùng rượu, hứng một bình rượu nước đầu, ở trên bàn chỗ giếng trời tìm thấy ly của Gyatso, rót một ly lớn. Ngẫm nghĩ, Tashi có lẽ lát nữa trở về, bèn cũng rót đầy ly của anh. Lúc tôi bưng rượu chuẩn bị về phòng, thấy ở góc nhà có một bóng người thoáng động đậy.
Tashi, anh ngồi ở đó, trong mắt mờ ảo có ánh lệ lấp loáng, một thứ gọi là “vắng vẻ” bao trùm lấy anh, tỏ ra rất đỗi đìu hiu và thương cảm.
Nhìn anh, lòng quặn đau. Đêm qua, phải chăng anh đều ngồi ở đây? Đêm qua, phải chăng anh đều chờ ở đây?
Tôi đặt ly rượu của Gyatso xuống, lại bưng ly rượu của Tashi lên, bước đến, đưa cho anh.
Anh đón lấy, chẳng nói chẳng rằng, ngẩng đầu một hơi uống cạn, sau đó vứt cái ly sang một bên, kéo tôi xuống, hôn thật mạnh.
Trong miệng có vị mặn rõ rệt, đó là nước mắt của Tashi, từng giọt lớn rơi xuống.
Tôi để anh ôm, không dám nhúc nhích, cũng không dám nói chuyện, chỉ nhẹ nhàng áp đầu anh trước ngực mình, để nước mắt của anh thấm ướt vạt áo. Tôi biết, lúc này nói gì đối với anh cũng là thừa, con người tôi, trái tim tôi mới là an ủi tốt nhất của anh.
Mãi đến khi trong bếp có tiếng động, Tashi mới buông tôi ra. Lau khô nước mắt cho anh, ngắm anh, dùng ngón trỏ vẽ trên mặt anh một cái, anh ngượng nghịu cười, tự mình nhặt ly rượu lên đặt trên bàn, lại đưa ly rượu của Gyatso cho tôi.
Tashi chính là con người như thế, dù trong lòng buồn tủi đến đâu, bản thân nên làm gì, luôn vẫn rõ ràng.
Tôi làm mặt hề với anh, bưng ly rượu đi về phòng. Không biết vì sao, cứ cảm thấy bên cửa kia có một bóng người thấp thoáng, nhìn kỹ, lại chẳng có gì.
Bước vào, thấy Gyatso ngủ rất ngon.
Cúi xuống bên tai anh, “Này, dậy đi!”
Anh đột nhiên mở mắt ra, làm tôi giật thót. Ánh sáng trong mắt kia, nhìn sao cũng không giống bộ dạng mới ngủ dậy.
“Anh dậy rồi?” Tôi hơi thẹn thùng.
Anh ngồi dậy, nửa người trên ở trần, tôi đưa ly rượu cho anh. Ly rượu đầu tiên lúc sáng sớm của đàn ông, luôn là người vợ bưng đến trên giường. Đây là quy củ tôi đã biết từ nhỏ, do đó bất kể trong phòng tôi là ai, tôi đều làm theo quy củ này. Uống xong ly rượu đầu tiên này, một ngày của họ mới thật sự bắt đầu.
Con gái lần đầu về nhà mẹ, con rể phải mặc trang phục kiểu Tạng truyền thống. Những thứ này tôi sớm đã chuẩn bị sẵn sàng. Tôi thuận tay cầm y phục bên gối lên, giúp anh mặc vào. Trang phục kiểu Tạng của đàn ông mặc vào khá phiền phức, đặc biệt là thắt lưng, phải kéo vạt áo lên trên một chút buộc gọn, trước sau mới hình thành một vòng rất đẹp, một người rất khó làm xong.
Tôi giúp anh, mặc áo lót trước, khi mặc áo khoác, anh tròng cổ áo trên đầu, tôi chỉnh xong vạt áo, buộc thắt lưng, anh mới bỏ áo xuống, như vậy dài ngắn vừa đẹp. Quần cũng may bằng phổ-lỗ, bên trong cần mặc một chiếc quần dài bó sát, nếu không sẽ đâm vào da. Lúc này mới phát hiện, bên dưới anh vẫn chưa mặc gì, … , bất giác thẹn đỏ mặt. Anh nheo mắt ngắm tôi, sắc mặt mờ mịt, bàn tay to lớn sờ mặt tôi, muốn cúi người xuống.
“Đừng, mọi người đều thức dậy rồi. Chúng ta còn phải sớm xuất phát đấy!” Tôi gạt đi bàn tay anh muốn thò vào trong áo tôi. Gyatso khác với Tashi và Namgyal, Gyatso to gan, khống chế mọi thứ theo thói quen, bao gồm phụ nữ. Tashi trung hậu nín nhịn, việc gì cũng nghĩ trước ba phần, ở chung với anh, thường thường là tôi chủ động một chút. Namgyal còn chưa thoát hẳn tâm tính con nít, mừng giận buồn vui đều treo trên mặt, trong phòng ngủ anh cũng không ngoại lệ, đùa giỡn nhiều hơn.
Ba người đàn ông này, tôi đều phải thích ứng. Thế nhưng, không thể phủ nhận, tôi thích ở chung với Gyatso, thích sự điên cuồng của anh, thích tác phong bá vương chủ đạo mọi thứ của anh, dưới người anh, tôi cảm giác mình càng giống một người đàn bà.
Tôi xoay người lật tìm trong rương, anh từ phía sau ôm lấy tôi, dùng tay trên dưới vuốt ve tôi, trong chốc lát đã khiến tôi đỏ mặt tía tai, hơi thở dồn dập, vội vàng rút ra chiếc quần cộc đưa anh, mượn đó thoát khỏi bàn tay ma quỷ của anh.
Mắt anh đong đầy sắc khói, khóe miệng nhếch lên, từ tốn nhấc chân lên mặc vào. Ủng Tạng là Tashi tự tay may, bên trên thêu hình vẽ đẹp mắt, tôi bình tĩnh lại, ngồi xuống giúp anh đi vào, buộc dây. Ngắm nghía cả người tề chỉnh rồi, để anh xuống giường, đi đến trước cửa sổ, ở đó có tấm gương hình tròn, ngày thường tôi dùng để chải tóc trang điểm.
Anh ngồi xuống, cầm lược lên đưa cho tôi. Tóc Gyatso quăn tự nhiên, rất đen rất bóng, tôi chải tóc xong, thêm vào dây tơ đỏ tết thành một cái bím dài, quấn trên đầu anh. Lại lấy ra hoa tai vàng anh đeo khi đám cưới, đeo trên tai trái của anh.
Một chàng trai Khampa hào phóng đã ra lò.
Tôi nhìn vào gương, phát hiện Gyatso tướng mạo quả thật không tệ, gương mặt ngăm đen vuông vức, sống mũi rất thẳng, môi mỏng mím chặt. Lại ngắm mình trong gương, bím tóc đen mượt quấn bên búi tóc, trán rộng mắt to, trên cổ đeo hai chuỗi lục tùng thạch. Hình tượng thế này, hẳn nên là một đôi người ngọc?
“So với Tashi thế nào?” Anh nhìn tôi, đột nhiên hỏi.
Tôi nhìn anh, đuôi mắt khóe miệng tủm tỉm. Người đàn ông này, không phải đang ghen chứ?
“Không nói chuyện là ý gì?” Anh đứng dậy, ôm tôi, bá đạo hôn một cái.
Tôi đỏ bừng mặt, chỉ nói: “Đi thôi!”
Người nhà đã đợi ở giếng trời, thấy chúng tôi ra, cha mẹ chồng trong mắt lộ vẻ ngạc nhiên vui mừng. Namgyal thì kêu: “Anh cả, a-jia, muốn tsampa hay sữa?”
Tashi không cho tôi trả lời, đã đưa tôi một bát sữa. Gyatso tự mình lấy một bát tsampa ăn.
Mẹ chồng không cùng ăn với chúng tôi. Bà ra vào nhà kho mấy lượt, chẳng mấy chốc, bên cột giếng trời đã chất đầy túi lớn túi nhỏ, không ngoài mấy thứ thổ sản, hạch đào, lựu, đào dại khô, đều mọc trên núi; còn có năm mươi cân thanh khoa, tặng cha tôi ủ rượu, vì đem rượu thanh khoa không tiện; hai chiếc bang-điển do Gyatso từ Lhasa mua về, một chiếc tặng mẹ tôi, một chiếc tặng chị dâu; hai chiếc áo len, tặng các anh trai; còn có một món đồ chơi tặng cháu trai. Ngoài ra đã chuẩn bị hai miếng trà bánh, tặng bà con hàng xóm.
Quà tặng thế này, không xem là đặc biệt phong phú, nhưng cũng không mất mặt.
Tashi sớm đã ăn xong, liền chuyển đồ xuống dưới, ngựa đã chuẩn bị sẵn sàng.
Tôi ôm chiếc mền Tạng xuống lầu.
Mang theo mền đi thăm người thân là một trong những tập quán của chúng tôi. Mền Tạng đều là tự mình dệt bằng tay, rất phí công, nhưng dày dặn mà ấm áp, một gia đình thông thường rất khó có mền dư. Do đó ra cửa, nếu không về nhà, đều sẽ tự mang mền.
Khi Gyatso xuống, lại mang một chiếc mền bông tơ. Đây là mền anh từ Lhasa mua về, rất mềm mại, tính giữ ấm lại không bằng mền Tạng, ban đêm anh thích đặt dưới mền Tạng, sát người dễ chịu.
Tashi ẵm tôi lên lưng ngựa, đặt lên trên mền, khe khẽ siết tay tôi một cái, tôi hiểu ý anh, muốn tôi chăm sóc tốt bản thân.
Người nhà đưa chúng tôi đến đầu làng, cha chồng đằng hắng lớn tiếng căn dặn Gyatso dọc đường cẩn thận, phải chăm sóc tôi thật tốt…, vừa không ngừng chào hỏi với những người làng dậy sớm, rất nhiệt tình mời thuốc, giải thích con trai cả quá bận, lễ Ongkar cũng không về được, hôm qua mới đi gấp về, hôm nay phải đưa con dâu về nhà mẹ.
Người trẻ tuổi trong làng làm công ở Lhasa càng ngày càng nhiều, đều là một nơi, thường ngày cũng có tiếp xúc. Chuyện thế này thế nọ về Gyatso đều sẽ truyền về quê. Gần đây trong làng lưu truyền một chuyện, bảo Gyatso không muốn làm gia trưởng, không muốn ở quê cùng anh em sống chung, anh phải tự mình kiếm vợ. Bất kể điều này có phải là thật hay không, ở trong núi lớn này, lời đồn như vậy đối với người đương sự, đều là tổn thương rất lớn, khiến tôi và cha mẹ chồng khó xử. Lần này Gyatso đột nhiên trở về, khiến lời đồn đại không tấn công tự phá giải. Thế nên cha chồng mới muốn cả nhà giương cờ gióng trống đưa tiễn chúng tôi, còn khoa trương chào hỏi với người làng, tin rằng không đến nửa canh giờ, trong làng sẽ truyền khắp tin tức Gyatso đã trở về, lại còn đưa tôi về nhà mẹ.
Tâm trạng vui vẻ, nhìn gì cũng thuận mắt. Ở trong núi lớn mười mấy năm, xưa nay không biết núi đẹp dường này, nước trong dường này.
Chúng tôi đi trên con đường nhỏ giữa núi, bên đường là các loại hoa dại nở rộ hằng năm. Gyatso không cưỡi ngựa, dắt dây cương đi đằng trước. Tôi nhìn bóng lưng của anh, nói: “Gyatso, em hát một bài cho anh nghe nhé?”
“Ừ.” Anh khom lưng hái hoa cách tang ven đường.
Thời tiết đặc biệt quang đãng, trời xanh như tơ lụa, đám mây phảng phất với tay chạm được.
Mặt trời lặn xuống rồi,
Mặt trăng leo lên rồi.
Khung dệt vải của mẹ dừng rồi.
Rượu thanh khoa của cha thơm rồi.
Em gái và bò cừu của em,
Giẫm mây trắng về nhà rồi…
Tôi hát đi hát lại, tiếng hát vang vọng trong khe núi. “Hay không?”
“Hay, em đến Langmating hát được đấy.” Anh cười, bước đến, đưa hoa cách tang cho tôi. “Em giống như hoa này vậy, đẹp hoang dại.”
“Thật sao? Namgyal nói em giống hoa cúc!” Tôi cười khanh khách, nhận hoa ôm trên tay.
“Namgyal, nó đã… gia nhập rồi sao?”
“Tashi chưa nói với anh à?” Tôi nhảy xuống ngựa, theo sau anh.
“Tashi… nó bận quá, vẫn chưa kịp nói!”
“Ồ.” Trên nguyên tắc, chuyện này Tashi nên nói với anh cả của anh, hoặc cha chồng cũng nên cho anh biết. Tuy nhiên, cũng chẳng sao, chuyện dạng này trong gia đình dạng này của chúng tôi, là hết sức bình thường. Sau khi anh em trưởng thành, nếu muốn, có thể gia nhập gia đình này mọi lúc. “Namgyal là một thành viên trong chúng ta rồi, là chuyện tháng trước.”
Anh không nói gì nữa.
“Anh không vui sao?”
“Không có. Thế này cũng rất tốt, mọi người ở chung, cuộc sống sẽ càng ngày càng tốt!”
Tôi ngắm bóng lưng của anh, cứ cảm thấy lời anh có chút miễn cưỡng. Là vì Namgyal ư? Namgyal trưởng thành rồi, sớm muộn sẽ sống chung với chúng tôi, anh là gia trưởng, nên trong lòng hiểu rõ chứ. Anh có năm người em trai, trừ Yuqong cho cậu Ouzhu nhận nuôi, bốn anh em còn lại nếu họ bằng lòng, đều có khả năng trở thành người đàn ông của tôi, đây chẳng phải là ngoại lệ gì, đáng để vì thế không vui sao?
Nói ra chẳng ai tin, đám cưới mấy tháng rồi, đây vẫn là lần thứ hai tôi và chồng mình gặp mặt. Anh quá bận, bận đến nỗi quên mất bản thân ở quê còn có một người vợ. Tuy không thể nói đêm đêm chờ đợi, thân thể hàng đêm của tôi đều chẳng ở không, nhưng cõi lòng sẽ vắng vẻ, nỗi đau khổ của con tim trống trải so với nỗi đau khổ của thân thể trống trải càng trực tiếp hơn. Song tôi không thể oán trách, thậm chí cả không vui cũng chỉ có thể để trong lòng, bất kể đối với Gyatso hay các em trai anh, hòa thuận mới là bầu không khí cần thiết của gia đình này. Mà sự hòa thuận đó cần tôi tạo ra, hòa thuận sản sinh xung quanh người vợ là tôi.
Đường núi dài dằng dặc, ngoằn ngoèo khúc khuỷu, như tâm sự quanh co. Mấy lần nhìn bóng lưng của anh, đều muốn hỏi anh “Yến Tử” nghĩa là gì, lại mấy lần nuốt trở vào. Cứ cảm thấy cái từ anh buột miệng thốt ra khi hoan hảo này không tầm thường, nhưng lại sợ sự không tầm thường đó. Có lẽ, đó là một phương diện khi anh một mình ở bên ngoài, chịu ảnh hưởng của thế giới bên ngoài. Tin rằng đó là một thế giới đặc sắc, thay đổi không chỉ thói quen sinh hoạt của anh, mà có lẽ ngay cả tiềm thức cũng có thứ khác đi vào, chẳng hạn như từ “Yến Tử” này.
Trên đường đi, anh nói rất nhiều, kể chuyện anh em bọn họ. Anh nói anh luôn có lỗi với Tashi, là con cả trong nhà, năm xưa vốn nên là anh nghỉ học về nhà, kết quả cha lại để Tashi về nhà phụ giúp. Anh bảo mỗi lần anh đi học, nhìn thấy Tashi cõng sọt phân bò đau đáu nhìn mình, mùi vị ấy thật chẳng dễ chịu chút nào. “Anh tự nhủ rằng, sau này không thể để Tashi tủi thân nữa, không thể giành bất cứ thứ gì với Tashi.”
Khi anh nói câu này, chúng tôi đang nghỉ chân ở cửa núi. Tôi đang treo kinh phướn, anh ngồi trên tảng đá uống rượu thanh khoa, tôi từ trong kinh phướn thò đầu ra. “Anh sẽ giành đồ với Tashi sao?”
“Luôn cho rằng sẽ không giành. Hiện giờ, anh nói không chắc!” Anh bưng ly rượu, thâm thúy nhìn tôi, cứ cảm thấy trong ánh mắt ấy có gì đó, đợi nhìn kỹ, lại chẳng có gì cả.
“Lớn ngần này rồi, còn giành đồ như trẻ con, các anh điên rồi!” Tôi cười.
“Có những thứ có thể nhường, nhưng có những thứ muốn nhường cũng không nhường được!”
“Nói bậy, chẳng phải trẻ con, thứ gì không thể nhường nhau cơ chứ?”
“Em không hiểu đâu.” Anh một hơi uống cạn rượu trong ly, bước đến cởi dây cương, nói: “Cô nàng, em có thể nhanh chút không, chúng ta nên xuất phát rồi!”
“Xong ngay đây.” Tôi buộc đầu dây kia của kinh phướn trên tảng đá, bước qua.
Anh ẵm tôi lên, muốn đặt trên lưng ngựa.
“Em vẫn không hiểu, anh sẽ giành thứ gì với Tashi? Giành làm gia trưởng ư?”
“Nếu cha bằng lòng, anh chỉ mong nhường Tashi làm gia trưởng, có gì để giành chứ!”
“Vậy thì giành thứ gì?” Tôi ôm cổ anh, không buông ra ngay.
“Giành báu vật là em đây!” Anh nheo mắt nhìn tôi, thuận tay chộp một phát trên ngực tôi. Khóe miệng nhếch lên, bộ dạng đùa giỡn.
“Dẹp anh đi, ăn nói quàng xiên!” Tôi ngồi trên lưng ngựa, điều chỉnh xong tư thế, vung roi quất một cái, con ngựa liền lóc cóc chạy về phía trước.
Sau khi trời tối chúng tôi mới đến ngôi chùa nhỏ ở đầu phía đông của làng. Làng nhỏ miền núi đã sinh dưỡng tôi vẫn yên tĩnh như xưa. Tôi nhảy xuống ngựa, ngắm đèn lửa chập chờn dưới núi, bỗng nhiên muốn khóc. Gyatso cũng nhảy xuống ngựa, đi đến bên tôi, cùng tôi ngắm dưới núi, hỏi: “Đây chính là nhà của em à?”
“Ừ!”
Nhìn ngôi nhà đá ấy, tôi rưng rưng nước mắt. Tưởng tượng tình cảnh trong nhà, mẹ và chị dâu nhất định đang bận rộn trong bếp? Cha và các anh hẳn đang uống rượu? Còn bà nội? Bà nội đang làm gì? Chắc đang niệm kinh trong Phật đường. Tôi hít sâu một hơi, không khí đượm mùi phân bò tràn đầy lồng ngực, lòng lại hơi hoảng loạn.
Quê nhà của tôi, mẹ tôi, con gái của người đã về!
Tôi cất giọng hát bài sơn ca lúc trước về nhà thường hát.
Như mong muốn của tôi, nhìn thấy đèn dưới lầu nhà tôi vụt sáng lên, một bóng người xông ra ngoài.
Đèn của cả làng đều theo tiếng hát của tôi từng ngọn từng ngọn thắp sáng.
“Mẹ…”
Tôi gọi lớn, nhanh như bay xông xuống núi.
“Zhoigar…”
Tiếng gọi của mẹ nghẹn ngào, mẹ cũng chạy lên núi. Cuối cùng, trên con đường nhỏ, tôi và mẹ ôm chầm lấy nhau, vừa khóc vừa cười.
Cha, các anh, chị dâu đều đứng ở cửa, mắt ươn ướt.
Giây phút bước vào nhà, tôi vô ý ngẩng đầu, thấy nơi cửa sổ nhỏ, mái tóc bạc của bà nội thấp thoáng.
Tôi đã trở về, về đến trên mảnh đất mình quen thuộc, cảm giác mọi thứ đều tốt đẹp vô cùng, dường như căn bản chưa từng rời xa, nỗi oán trách hối hận quanh quẩn mấy tháng nay đã tiêu tan không hình không bóng.
Về đến nhà thật là tốt! Mẹ chẳng cho tôi làm gì cả, bảo tôi đưa Gyatso đi khắp nơi. Chúng tôi đi tới đi lui trên những con đường nhỏ, tôi kể cho anh nghe từng li từng tí đã trải qua ở đây, khi cao hứng, còn múa một điệu múa, hát một bài sơn ca cho anh nghe. Có thể nhìn ra, Gyatso cũng rất vui, biểu cảm như có suy tư trên mặt giảm bớt rất nhiều, cũng không còn chăm chăm nhìn điện thoại ngẩn ngơ nữa, ánh mắt của anh bắt đầu theo đuổi hình bóng của tôi.
Bạn chơi hồi nhỏ đều đến thăm tôi, trưa trưa tối tối giếng trời nhà tôi đều tấp nập kẻ ra người vào. Gyatso lấy trà bánh ra, mỗi người một túi, nói khách sáo: “Ngại quá, là chút tấm lòng”. Họ bảo người đàn ông tôi tìm được thật bảnh trai, rất biết lễ phép, không giống một tên chăn bò. Buổi tối, khi tôi nằm trong mền nói lại câu này với Gyatso, anh cười ha hả, sau đó trở người đè lên tôi, không cho phân bua bắt đầu cởi áo tôi, nói: “Hiện giờ anh là tên chăn bò đây!”
Không thấy Rinchen và Sazhen. Hai người bạn thân nhất của tôi lại chẳng đến thăm tôi. Nhà Rinchen có lẽ rất bận, sắp cử hành lễ cưới rồi, công chuyện nhất định rất nhiều. Còn Sazhen, cô bạn thân nhất từ nhỏ đến lớn, thế mà chẳng đến thăm tôi một lát, chả ra làm sao. Trong lòng vừa mắng ni cô đó, vừa tán gẫu với chị dâu.
“Vợ Rinchen bỏ trốn rồi, nghe nói cô ấy còn là người bên làng các em đấy.” Chị dâu đang se sợi, bỗng nói.
“Người nào bỏ trốn?” Nhất thời tôi vẫn chưa kịp phản ứng.
“Cô nàng đã đính hôn đó. Lẽ ra cha Rinchen chuẩn bị vừa ăn xong lễ Ongkar sẽ cho con trai đám cưới, kết quả đằng gái coi thường nhà họ, bỏ trốn rồi!” Chị dâu cười nói.
“A? Cô ấy… tên gì?” Trước mắt tôi hiện lên lời Chongtsong nói bên suối nước nóng trước khi đào hôn: “Em không muốn tiếp nhận sự sắp xếp của họ, em nghĩ xong rồi, em phải đi Lhasa! Tối nay tìm chị chính là muốn nói chuyện này với chị, em muốn nhân ngày mai lên núi chăn bò lén bỏ trốn!”
Trời ơi, không phải là cô ấy chứ? Chuyện này quả thật quá trùng hợp.
“Nghe nói tên là... Chongtsong gì đó, tóm lại là người bên làng các em!” Chị dâu không ngẩng đầu, tiếp tục se sợi len.
“Chongtsong... quả thật là cô ấy?” Tôi lẩm bẩm.
“Em quen à?” Chị dâu ngạc nhiên ngẩng đầu.
“Quen, Chongtsong là hàng xóm của tụi em.”
“Cô nàng ấy cũng quá đáng lắm, cô ấy có biết hay không, cô ấy bỏ trốn, làm cả nhà Rinchen mất mặt quá chừng. Nhà họ đã chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ, khách mời cũng đã thông báo, cha cậu ấy còn mời cán bộ trên xã, rất nhiều người đều gửi quà đến rồi. Mất mặt ghê, cô dâu đột nhiên bỏ trốn.” Chị dâu bực bội ngẩng đầu, nói: “Mẹ Rinchen tức giận ngã bệnh, hiện giờ còn nằm trên giường đấy!”
“Nhưng chuyện này cũng không thể hoàn toàn trách Chongtsong.” Tôi yếu ớt bào chữa. Có thể tưởng tượng đả kích của chuyện này đối với cả nhà Rinchen lớn chừng nào.
“Không trách cô ấy biết trách ai? Đã đính hôn rồi, thì phải tuân thủ ước định. Quy củ tối thiểu vẫn phải có chứ? Cô ấy bỏ trốn thì nhẹ nhõm rồi, nhưng gia đình Rinchen nay mai thế nào? Cô dâu bỏ trốn, chuyện cười này sẽ đeo đẳng cả đời đấy.”
“Em… thôi đi, chị dâu, chuyện này cũng không liên quan với chúng ta, đừng bận tâm nhiều như thế nữa.” Tôi không muốn tiếp tục đề tài này. Chuyện Chongtsong đào hôn, từ đầu đến cuối tôi đều biết. Chẳng ai xét đến nỗi khổ sở của Chongtsong, nhưng nỗi khổ ấy tồn tại một cách chân thực, nỗi khổ mà mỗi người con gái chúng tôi sau khi trưởng thành đều sẽ trải qua. Song trước mặt gia tộc, nỗi đau khổ này quả thật chẳng tính là gì cả. Trong núi lớn của chúng tôi, hạnh phúc của cá nhân xây dựng trên lợi ích của gia tộc, thể diện của trưởng bối so với hạnh phúc của con cái quan trọng hơn nhiều.
Nếu nói chuyện đào hôn mà Rinchen gặp phải còn lý giải được, thế thì chuyện bỏ trốn của Sazhen là đặc biệt bất ngờ.
Sáng sớm thức dậy, Gyatso vẫn đang ngủ say. Tôi bèn cõng thùng nước ra vòi nước công cộng trong làng lấy nước. Gặp mấy chị quen đang hứng nước, thấy tôi, một chị trong bọn nói với thâm ý riêng: “Zhoigar, Sazhen trốn rồi biết không?”
“Sazhen trốn rồi? Trốn đi đâu? Hèn gì cứ không gặp Sazhen hoài, đến nhà cô ấy tìm, mẹ cô ấy nói Sazhen đi vắng, cũng không nói đi đâu, em vẫn buồn mãi đấy.”
“Người ta không làm ni cô, muốn gả chồng, gia đình không đồng ý, lén trốn theo trát-ba rồi!” Một chị khác bĩu môi nói.
“Muốn đàn ông muốn đến phát điên, đồ không biết xấu hổ, làm mất sạch thể diện của người cả làng chúng ta!”
“Hết cách rồi, cha mẹ thế nào dạy ra con cái thế nấy!”
“Trát-ba ôm ni cô, chuyện xấu lớn nhất năm nay của làng ta!”
…
Nghe họ không hề kiêng nể mắng Sazhen, nước mắt tôi suýt chút nữa nhỏ xuống. Nếu là bình thường, tôi sớm đã mắng họ té tát một trận. Nhưng rơi vào chuyện này, tôi không dám. Nếu tôi mở miệng bênh vực cho Sazhen, người ta không những mắng Sazhen, mà còn mắng luôn cả tôi nữa. Đúng vậy, Sazhen là bạn thân của tôi, từ nhỏ hai chúng tôi đã hợp duyên. Năm cô mười hai tuổi mắc một trận bệnh nặng, sốt cao mãi không hết, uống rất nhiều thuốc đều không có tác dụng, cha mẹ cô cầu nguyện trước Phật, nói nếu Sazhen khỏi bệnh, sẽ cho cô vào chùa miếu hầu hạ Phật tổ. Kết quả Sazhen quả thật khỏe dần. Một tuần sau, cha mẹ liền gửi cô vào ngôi chùa nhỏ đầu đông làng, cởi bỏ trang phục bình thường, thay bộ cà sa đỏ thẫm mới may. Tôi còn nhớ ngày đó cô cạo đầu, mẹ, chị dâu, họ hàng của cô đều ở chùa xem lễ, vô cùng náo nhiệt, mọi người đều khen Sazhen hiểu chuyện, là đứa con ngoan. Chỉ có tôi chú ý thấy, khi dao cạo gọt qua da đầu của Sazhen, nước mắt theo tóc xanh cùng rơi xuống.
Người nhà sửa gian phòng đá bên chùa cho cô. Ở chỗ chúng tôi, chùa miếu nhỏ như thế chẳng có bao nhiêu thu nhập, toàn nhờ người làng ngày Tết ngày lễ quyên tặng ít dầu bơ và khi có chuyện nhờ niệm kinh gửi ít tiền mặt, vẫn không đủ duy trì chi tiêu thường ngày trong chùa, căn bản không thể có tiền sửa sang phòng ốc dư thừa làm chỗ ở. Người xuất gia trong chùa đều là con cháu của gia đình trong làng, cuộc sống đều nhờ gia đình cúng dường.
Sazhen giống như các vị ni cô khác sống trong gian phòng đá của mình, từ đó không còn là người trong trần thế. Nếu ở nhà quá bận, cô cũng sẽ xuống núi phụ giúp, nhưng không ngủ qua đêm ở nhà.
Trước khi Sazhen đi tu, hai chúng tôi thường chui vào cùng một chiếc mền, thích trao đổi quần áo để mặc. Sau khi cô đi tu, trừ nửa tháng đào trùng thảo hai chúng tôi có thể ở chung trong một căn lều, thời gian còn lại đều một mình sống trên núi. Bà nội nói, đó là quy củ, thị nữ của Phật không thể sống chung một nhà với người phàm tục, hỏi bà vì sao, bà nói người phàm tục quá bẩn.
“Bẩn ư?” Tôi ngắm nghía mình trên dưới trái phải, còn nhấc tay áo lên ngửi, “Rất sạch mà.”
Bà nội cười tôi ngốc, nói: “Không phải trên người bẩn, là trong lòng bẩn.”
Trong lòng bẩn? Tôi càng không hiểu. Hỏi bà nội: “Người phàm tục trong lòng vì sao lại bẩn?”
Bà nội nói: “Người phàm tục chỉ tính toán cho bản thân, xem danh lợi còn quan trọng hơn tính mệnh.”
“Nhưng mà nội ơi, nếu người phàm tục không chú trọng danh lợi được mất, thế thì làm sao có tiền quyên cho Bồ Tát, xây sửa chùa miếu đẹp đẽ kia?”
“Con cho rằng Phật Bồ Tát chính là vì ở chùa miếu đẹp đẽ mới cứu người hay sao?”
“Nếu không, vì sao miếu này cao to đẹp đẽ hơn miếu nọ?”
Bà nội bảo tôi càn quấy cãi bừa, đã đắc tội Phật Bồ Tát, một thời gian dài bà đều chẳng ngó ngàng đến tôi.
Thời niên thiếu, tuy tôi không hiểu rõ về quan niệm kính thờ Phật Bồ Tát, nhưng vẫn rất hâm mộ Sazhen, cảm thấy màu đỏ thẫm ấy là màu sắc đẹp đẽ nhất trên đời, sao mà phiêu dật xuất trần. Còn có một điểm khiến tôi hâm mộ chính là sau khi mặc vào chiếc áo đỏ thẫm ấy, chẳng cần làm những công việc liên miên không hết nữa, cả ngày chỉ niệm kinh, quét dọn kinh đường là được, tốt biết bao. Từ khi tôi hiểu chuyện cứ làm việc hoài, mỗi ngày đều là trời chưa sáng đã thức dậy, đêm khuya mới có thể đi ngủ, trước giờ chưa hề cảm thấy được ngủ đã giấc. Trong lòng có một nguyện vọng, chính là có thể ngủ đến tự động tỉnh lại thì tốt biết chừng nào!
Thế là tôi về nhà làm ầm lên cũng phải làm ni cô, cha nói tôi có duyên với Phật tổ, nhưng mẹ không chịu, vừa khóc vừa mắng cắt đứt ý nghĩ của tôi.
Trước khi gả chồng tôi đã biết Sazhen có tâm sự. Cô thường nói, mặc bộ cà sa này vào, từ đó mọi thứ nên hưởng thụ bản thân đều không thể hưởng thụ, đến thế gian này một chuyến, xem như uổng công. Lúc đó tôi thường tranh cãi với cô, nói: “Cậu không phải là người phàm tục, cậu là thị nữ của Phật tổ, đương nhiên không thể giống như người thường uống rượu hát múa, nhưng cậu không cần làm việc, không cần gả chồng, người nhà không dám đánh cậu mắng cậu nữa, tốt biết bao.”
“Tớ thà rằng chịu đánh chịu mắng, cũng không muốn ở trong gian phòng này, ngày ngày chỉ nghe được tiếng tim đập của mình, cả một người nói chuyện cũng chả có. Zhoigar cậu không biết đâu, vừa đến tối tớ liền sợ hãi, gió bên ngoài thổi ù ù, tớ cứ cảm thấy bên ngoài có quỷ đang kêu gào. Trong phòng này trơ trọi một mình tớ, trùm mền lên đầu, vẫn nghe thấy những âm thanh quái dị đó.” Khi nói câu này, Sazhen mười lăm tuổi, đã là một tiểu ni cô xinh đẹp nhất trong mười vị ni cô.
Năm quen Tenzin, cô mười bảy tuổi. Tenzin là sư thầy của chùa làng bên, từ nhỏ đi tu, ở trong chùa học được tay nghề vẽ tranh, rất nhiều nhà mới xây xong, sẽ mời anh đến vẽ trang trí trên tường.
Có lẽ là vì cùng ở cửa Phật, tuổi tác xấp xỉ, cảnh ngộ giống nhau, sau khi Sazhen và Tenzin quen nhau, có nhiều lời nói không hết. Khi trong làng không có ai mời vẽ tranh, Tenzin cũng sẽ lén đến thăm Sazhen. Một qua hai lại, trong làng bèn truyền ra một số tin đồn, bèn có người làng nhìn thấy Sazhen không còn cúi đầu nhường đường nữa, mà nhổ nước bọt.
Nghĩ lại một vị ni cô một vị trát-ba, thân phận xa rời cõi tục, định sẵn họ không thể quang minh chính đại ở bên nhau. Sazhen đã nói với tôi, cô từng nghĩ đến chuyện hoàn tục, có lần cô nói với mẹ không muốn làm ni cô nữa, muốn về nhà làm việc. Mẹ cô không làm chủ được, nói với cha cô. Kết quả là bị mắng một trận tơi bời, bị nhốt cả tháng trời không cho ra cửa.
Ở chỗ chúng tôi, chỉ cần mặc chiếc áo đỏ thẫm ấy vào, bất kể là ni cô hay là trát-ba, hoàn tục sẽ bị người đời phỉ nhổ, người nhà cũng sẽ bị người bản xứ xem thường, càng chớ nói đến hôn tang cưới gả, chẳng ai muốn cưới một ni cô hoàn tục, càng không ai muốn gả con gái cho một trát-ba hoàn tục. Cũng có người chẳng sợ gì, quyết tâm muốn sống cuộc sống thế tục, nhưng chỉ có thể đi xa đến đất khách quê người.
Tôi ngồi trên bục xi măng bên vòi nước, vịn thùng nước ngẩn ngơ. Gyatso đạp nắng sớm bước đến, “Nghĩ gì thế?”
“Không có gì. Nghe mấy chị cõng nước vừa rồi mắng Sazhen bạn em, cô ấy hình như không làm ni cô nữa.”
“Cô ấy từ rất nhỏ đã đi tu đúng không?” Anh hỏi.
“Đúng ạ, sao cơ?”
“Hiện nay chuyện này nhiều rồi, chẳng có gì kỳ lạ. Em nghĩ xem, khi họ còn chưa biết chọn lựa, cha mẹ đã theo nguyện vọng của mình gửi họ vào chùa miếu. Họ lớn rồi, không bằng lòng nữa, biết chọn lựa cuộc sống mình muốn sống, nhưng cõi tục đã không cho họ chọn lựa lại, thế là chỉ có thể bỏ trốn!”
“Anh nói gì thế, cả tràng dài, nghe không hiểu!” Tôi mơ màng nhìn Gyatso, cảm thấy người đàn ông trước mắt hơi xa lạ, rất nhiều cách nghĩ của anh đều xung đột với tư tưởng mang tính thói quen của tôi.
“Nói thế này vậy. Anh cảm thấy người bạn đó của em bất kể làm ni cô hay làm người thường, nên do cô ấy tự chọn lựa, những người khác không nên can thiệp.” Anh ngồi xổm xuống, tỏ ý tôi đặt thùng nước lên lưng anh.
“Để em, làm gì có chuyện để con rể mới lần đầu về cõng nước, người khác nhìn thấy sẽ cười.” Tôi kéo anh.
“Người em…” Anh ngắm tôi, như cười mà không phải cười. “Chẳng phải không tiện sao?”
“Xùy, nói bậy!” Tôi đẩy anh ra, tự mình ngồi xuống. Anh ôm thùng nước đặt trên lưng tôi, lại choàng dây choàng phía trên trán tôi, sau đó cùng nhau đi về.
“Anh mới nói cha mẹ Sazhen không nên can thiệp chuyện cô ấy đi tu, thế nhưng, Sazhen đã xuất gia rồi, cô ấy không nên hoàn tục, không làm ni cô, người ta còn chả cười chết nhà họ sao!”
“Làm ni cô hay không là chuyện của cá nhân Sazhen, liên quan gì đến người khác?”
“A?” Tôi không ngờ Gyatso sẽ nói như vậy. Trên tập quán, một gia đình có người hoàn tục, đó là chuyện rất mất mặt, người khác nhắc đến đều sẽ mắng nhiếc vài câu. “Nhưng mà… người ta sẽ mắng cha mẹ cô ấy.”
“Đó là tư tưởng cũ, nên cải cách!”
“Cải cách… Gyatso, cách nghĩ của anh…” Tôi vắt óc, nhất thời không nghĩ ra một từ thích hợp để hình dung.
“Ngỗ ngược!” Anh lại không hàm hồ, tự mình tìm ra một từ xác đáng tiếp lời.
Những ngày về nhà mẹ này, chẳng biết vì sao, tôi và Gyatso chung sống rất vui vẻ. Chúng tôi có rất nhiều thời gian cùng tán gẫu, nói về Lhasa của anh, bạn bè ở bên ngoài của anh, chuyện làm ăn của anh… Từ miệng anh, tôi biết Lhasa không chỉ có người Tạng, còn có những dân tộc khác, như người Hán, người Hồi… Trung tâm thương mại của Lhasa so với trấn nhỏ của chúng tôi còn lớn gấp nhiều lần, thứ gì cũng có thể mua được; còn có loại cửa hàng gọi là siêu thị, có thể tự mình đi vào lựa đồ.
Khi đến cửa, Gyatso ở sau lưng đỡ thùng nước, lấy dây choàng trên đầu tôi xuống quấn trên cổ tay, liền cứ thế xách thùng nước, nói: “Giờ thì người khác không nhìn thấy đâu!”
Trước sự chăm sóc của anh, tôi vui sướng lạ kỳ. Rất nhiều hành vi, cách nghĩ của anh đều khác với đàn ông chỗ chúng tôi, mượn lời của chính anh là “ngỗ ngược”. Tuy tôi vẫn không hiểu anh, rất nhiều cách nghĩ của anh tôi cũng không thể lý giải, nhưng kiểu “ngỗ ngược” này lại khiến tôi thích thú.
(Dorje Zhoigar)
Subscribe to:
Posts (Atom)



