Showing posts with label Tuyết Tiểu Thiền. Show all posts
Showing posts with label Tuyết Tiểu Thiền. Show all posts

19.1.14

Trà, Tình yêu

Hoa đào và ngọc lan ngoài cửa sổ nở thật đẹp, tôi tự mình lấy một chén sứ trắng, nhón chút lá trà, sau đó pha một tách.

Buổi chiều thế này là dùng để lãng phí.

Chúng ta cứ thế này thờ thẫn trong ngày xuân.

Tôi hỏi giá tiền lá trà họ uống, họ bảo mười đồng. Tôi cười. Mùi vị của trà có liên quan với tâm trạng, đúng khẩu vị của tôi, uống thoải mái thanh thản, miệng có mùi thơm đọng lại, chính là trà ngon. Nếu tính khí cục cằn, uống trà ngàn vàng, cũng là lá cây. Thật giống như tình yêu, thoạt nhìn đã yêu thích, lên núi đao xuống biển lửa cũng xứng đáng. Không yêu thích, anh trao cho tôi tính mạng tôi cũng cảm thấy anh hèn kém.


(Tuyết Tiểu Thiền)

2.12.13

Tây Tạng của một người

Từ bấy đến nay muốn đi Tây Tạng đã lâu, có lẽ là quá muốn đi, do đó, khi thật sự lên đường, cảm thấy đã từng đi rất nhiều lần. Không thể không thừa nhận, đây là cảm giác rất kỳ diệu.

Vé nhờ người mua, vì quá khó mua, đều muốn ngồi tàu đi Tây Tạng, đó nhất định là cảm nhận khác với ngồi máy bay. Mãi đến khi ngồi trên tàu, vẫn mơ hồ, mình thật sự sắp đi Tây Tạng ư ?

Thật sự sắp đi Tây Tạng rồi.

Khi tàu lắc lư rời khỏi Bắc Kinh, trên tàu có rất nhiều người hoan hô. Tây Tạng, đối với mỗi người đều là một giấc mơ kỳ ảo của đất lạ chăng? Với tôi, đó là thiên đường. Vào rất nhiều năm trước, từng nghe một bài hát về Tây Tạng, “Tôi vừa nhẹ nhàng nghĩ, đã chạm đến thiên đường.” Vào rất nhiều năm trước, từng đọc một quyển sách viết về Tây Tạng, “Đi vào Tây Tạng” của Mã Lệ Hoa, tôi biết, Tây Tạng đối với tôi, chính là kiếp trước và đời này!

Ngồi một mình bên cửa sổ, trong tay cầm “Hoa sen” của An Ni Bảo Bối, bên trong đó có hơi thở của Tây Tạng, mà tuyến đường Thanh Tạng kéo dài, cho người một cảm giác rợp trời kín đất.

Tuyến đường Thanh Tạng, một tuyến đường có biết bao hơi hướm thần bí và gian nan hiểm trở. Sau khi đi vào cao nguyên, phản ứng cao nguyên bắt đầu, tuy đã chuẩn bị trước, vẫn cảm thấy ngộp thở. Trong tàu, có cung cấp oxy kiểu phun sương, có đồng bào người Tạng vừa hát vừa múa, có nam nữ thanh niên hưng phấn chỉ từng con ngựa hoang nói: xem kìa, ngựa hoang!

Có người gào một câu: “Trương Lâm Giang, Trương Lâm Giang.” Thật ra là gọi tên một ai đó, người cả toa tàu đều ồn ào: Ở đâu, ở đâu? Mọi người nghe “Trương Lâm Giang” thành “Linh dương Tạng”.

Thật sự nhìn thấy linh dương Tạng rồi, mọi người nín thở, sợ nói một câu linh dương Tạng liền chạy mất.

Cảnh sắc trên cao nguyên thật sự có một vẻ buồn vắng, thảo nào anh bạn của tôi từng là bộ đội ở cao nguyên Thanh Tạng nói: em chưa từng đến Tây Tạng thì không biết khí thế hùng vĩ và thê lương đó.

Tàu đi đến một ngã đường hẻo lánh của quốc lộ Thanh Tạng, tôi nhìn thấy một quán cơm chị em. Người mở quán cơm này là hai chị em, chồng họ đều là lính lái xe trên tuyến đường Thanh Tạng, sau đó một lần khi chấp hành nhiệm vụ vận tải đã bất hạnh hy sinh. Hai chị em lau khô nước mắt nén nhịn thương đau, quyết định mở quán cơm ở ngã đường này, vì họ biết, một phần vật tư của bộ đội đóng giữ ở Tây Tạng phải nhờ vào những lính lái xe vận chuyển lên, dọc đường ăn gió nằm sương, cát bay đá chạy, mạng treo sợi tóc, gian khổ bậc nhất. Họ mở quán cơm chị em này, cho những lính lái xe trên đường gió tuyết ấy một chút ấm áp, một chút sức lực, cũng là tưởng nhớ người chồng đã mất của họ. Có lẽ họ cũng giống như đám lính lái xe ấy hòa vào tuyến đường Thanh Tạng này. Nhìn từng hàng xe quân đội ngoài quán cơm, tôi nghĩ, những người lính lái xe cũng đã xem nơi đây là nhà mình. Nghe nói, mỗi lần trước khi đi, họ đều răm rắp chào hai chị em. Tôi đột nhiên muốn rơi nước mắt, Tây Tạng, vì có những người này, những chuyện này, càng tỏ ra sinh động mà bi tráng. Khi tàu đến Lhasa, trong lòng có một chút run rẩy, tôi nói: Tây Tạng, tôi đến rồi.

Quảng trường cung Potala rất đông người, có lúc tôi nghĩ, sự khai thông đường sắt Thanh Tạng đối với Tây Tạng là tốt hay xấu? Du khách với số lượng lớn chen nhau mà vào, gần như đến mức chen vai nối gót. Nhìn ra xa xa, cung Potala ở lưng chừng núi, hùng vĩ mà hoành tráng. Trước tu viện Jokhang khắp nơi đều là tín đồ hành hương về đất thánh, làm lễ quỳ bái, thành kính vô cùng, một bước một quỳ một nằm một bái, găng vải trên tay đều sắp rách, có lẽ linh hồn họ sớm đã trở về Tây Tạng. Trong khoảnh khắc cho tôi cảm giác như đã cách mấy đời.

Tôi nhìn trời xanh trong vắt tựa một giọt nước mắt, bỗng thấy lòng trong sáng.

Tính khí nông nổi trước khi đến mất sạch sành sanh, tất cả phiền não lúc này tỏ ra thật là nhỏ bé, nhỏ đến như bụi trần.

Buổi tối tìm được nhà trọ gần phố Barkhor, một đêm 120 đồng, cũng xem là sạch sẽ. Trên người giống như đeo món đồ nặng mấy chục kg, tôi thở dốc, từ trên tàu đã bắt đầu thở oxy, đến giờ càng không rời được túi oxy nữa.

Tôi liếm cặn thuốc sót lại, rồi mê mệt ngủ đi.

Sau khi trời sáng, gặp được mấy người cũng một mình đến Tây Tạng. Ngay cửa có “hướng dẫn viên chui”, dẫn chúng tôi đi Namtso, mỗi người 400 đồng. Chúng tôi trả giá, cuối cùng ngã giá 380 đồng, 8 người, bao gồm một người Nhật.

Tôi mang 6 túi oxy, không ngừng hít.

Vẫn cảm thấy tức ngực.

Nhưng suốt dọc đường mọi người đặc biệt hưng phấn. Anh người Nhật không mang túi oxy, anh ta móc ra 200 đồng, muốn mua một túi của tôi, tôi lắc đầu, anh ta lại thêm 100 đồng, tôi vẫn lắc đầu.

Anh ta buồn bã cúi đầu, tôi đưa cho anh ta một túi, sau đó xua tay, không cần tiền. Ở nơi thế này, quả là đã có cảm giác dựa vào nhau mới sống được. Anh ta suýt rơi lệ, nhìn tôi đầy cảm kích.

Hơn bốn tiếng đồng hồ, đến Namtso.

Tôi ngẩn người.

Nước hồ thật là tinh khiết, màu xanh lam thật là trong trẻo, tôi quên mất chứng đau đầu, quên mất thân thể dường như sắp rời rã, chạy xuống, gần như là nhào vào lòng nó.

Vừa rồi còn là trời nắng, thoắt cái mây kéo đến, mưa rất nhanh xối ướt chúng tôi, thế nhưng, chẳng ai nhúc nhích.

Khi mưa từng giọt rơi xuống hồ, hơi thở nặng nhọc của chúng tôi đều có thể nghe thấy, có người nói một câu: Thiên đường, thật là thiên đường.

Mới một lúc, mưa đã tạnh, cầu vồng hiện ra. Tôi nhặt đá bên hồ, đựng vào túi xách, hòn đá này tròn trịa đẹp đẽ như thế, có mấy ngàn năm rồi?

Về đến Lhasa, tôi bắt đầu sốt nhẹ, trạm y tế dưới nhà có bác sĩ, ông nói: phản ứng cao nguyên của cô quá ghê gớm, đề nghị về nhà, cầm giấy chứng nhận của bác sĩ có thể mua được vé tàu gần nhất.

Tôi từ chối. Tôi còn phải đi Shigatse.

Vẫn là tìm người kết bạn cùng đi.

Vẫn là “hướng dẫn viên chui”, một anh chàng người Tạng, mày rậm mắt to, mặt vừa đen vừa đỏ, tiếng Hán nói không lưu loát, thế nhưng, anh ta rất đẹp trai, thật sự rất đẹp trai.

Lên xe, thở oxy, sau đó gửi tin nhắn cho bạn bè, nói với họ, nơi này, sau khi đến, linh hồn dễ thoát khỏi cơ thể, nếu sợ linh hồn xuất khiếu, muôn ngàn lần không nên đến. Trước đây, hai người bạn họa sĩ của tôi từng đến Tây Tạng, một người sau khi đến không trở về nữa, cưới một cô gái Ngari, hiện nay ở tại Ngari, sống cuộc sống giản đơn nhất —— lúc trước, anh sống cuộc sống xa xỉ ở thành Bắc Kinh phồn hoa. Còn một người khác, xuất gia làm sư, mặc giản dị ăn cơm chay, từ đó, chỉ vẽ Tây Tạng.

Bạn bè nói đúng, Tây Tạng tràn đầy khí chất thần linh.

Loại khí chất thần linh này, sẽ khiến nội tâm tất cả mọi người được gột rửa một lần.

Bốn tiếng đồng hồ đã đến Shigatse, nghe anh chàng hát bài ca âm điệu rất cao, không hiểu, nhưng thật sự rất hay. Ba tiếng đồng hồ, đến thị trấn Tingri, Everest Base Camp. Nhìn thấy núi tuyết, giật cả mình, cơ thể đã sắp không ổn, nhưng tim đang đập mạnh, nhảy đến tận cổ họng. Tín hiệu không tốt, tôi gọi điện thoại cho bạn, anh bạn hỏi: em thế nào rồi? Tôi nghẹn ngào nói: trong lòng em khó chịu quá, khó chịu không nói nên lời.

Những nơi muốn đi còn rất nhiều, như Ngari, như Nyingchi, như Mêdog. Thế nhưng, tôi biết nên trở về, bởi vì, phải lưu lại cho mình một nỗi nhớ.

Ở Tây Tạng chẳng qua bốn năm ngày, lại cảm thấy đã trải một đời.

Có những nơi chính là như vậy, sau khi đến, dường như đã tìm được kiếp trước và đời này, dù chỉ là gặp gỡ ngắn ngủi, cũng khó quên được.

Cũng giống như gặp được tình yêu, gặp được người có duyên.

Do đó, khi rời Tây Tạng, xin cho mắt tôi có hơi ướt lệ.

Do đó, khi ngồi lên tàu trở về, tôi hứa với mình, tôi, vẫn sẽ ngồi tàu đến Tây Tạng, mang theo hành trang giản đơn nhất, mang theo trái tim giản đơn nhất.

Tạm biệt, Tây Tạng của riêng tôi.


(Tuyết Tiểu Thiền)

11.11.13

Trà đắng trà thơm

Khi anh yêu cô đã phát hiện cô rất thích uống trà, còn anh trước giờ không thích uống trà, nhấp vào cứ đắng chát, do đó trong tủ lạnh luôn chứa đủ loại nước ngọt, cô vẫn hay cười nói, sớm muộn có một ngày anh sẽ thích uống trà.

Anh nghĩ, con gái Giang Nam có lẽ đều thích uống trà, một ly Long Tỉnh hoặc Bích Loa Xuân thượng hảo luôn là một bài thơ, điều này là cô nói. Vì thế, sau này anh đi Giang Nam công tác, luôn mua loại trà Minh Tiền tốt nhất tặng cô, tình yêu chính là như vậy, nếu đã yêu, thì nguyện ý dành cho người yêu những thứ tốt đẹp nhất.

Song anh vẫn uống nước ngọt như cũ, lấy từ tủ lạnh ra, mở nắp uống ngay, không giống cô phải có bộ uống trà đẹp đẽ, còn phải từng bước từ từ tiến hành, anh tựa như đang xem biểu diễn trà nghệ, thật là mệt mỏi. Anh thường cười cô, nói cô chú trọng quá trình hơn kết quả, cô lại nói, không có quá trình đặc sắc tinh tế làm sao có kết quả tốt được?

Nhưng anh thích ngắm cô uống trà, cô ôm cuốn sách cũ, mở khúc đàn tranh, tóc dài mềm mại buông xuống, sau đó cầm tách trà tinh xảo, uống từng ngụm nhỏ từng ngụm nhỏ, thật là một bức tranh đẹp, phảng phất tiên nữ hạ phàm ngâm thơ, thời khắc đó, anh yêu thích.

Cô từng nói với anh, một cân trà phải hái bảy vạn búp non, lúc đó anh sững sờ, không tin phải hái bảy vạn búp mới được một cân trà. Cô cười nói, chính là giống như một tình yêu đẹp, có lẽ phải trải qua rất nhiều mưa gió mới đạt được, song anh không tin. Đương nhiên, anh vẫn kiên trì uống nước ngọt, vừa tiện lợi vừa kích thích, giống trên quảng cáo nói, sáng lóng lánh mát thấu tim, mùa hè uống ly nước ngọt ướp lạnh, thật là sảng khoái, so với uống trà nóng kia dễ chịu biết bao nhiêu?

Sau đó kết hôn, cô vẫn thói cũ khó sửa, chỉ là cuộc sống bận rộn khiến anh có chút nhìn không quen kiểu cách của cô, vĩnh viễn là dáng vẻ uể oải không tranh với đời, giống như trà ấm ngâm trong tách kia. Thực ra, tính cách của cô cũng giống trà, ôn nhuận, tản mạn, tự nhiên, chỉ là anh càng ngày càng không quen được. Thế là anh nói, đừng lãng phí thời gian vào những thứ trà ấy nữa, em cũng có thể thử uống nước ngọt xem.

Song cô cười nói, em không quen. Lần đầu tiên, anh ghét bộ dạng chậm rì rì của cô, vĩnh viễn có một khoảng cách với hiện thực, không giống các cô gái cùng anh đi quán bar, thật lóa mắt, thứ gì cũng dám uống. Còn cô, đơn bạc đến nỗi chỉ uống trà, hơn nữa cả năm trời một mình ở nhà uống trà, cùng một tư thế, dường như vĩnh viễn không chán.

Nhưng anh chán rồi, sự chán ngán đối với hôn nhân cũng giống như chán ghét hương trà có vị đắng tỏa ra trong nhà. Rất nhanh, họ chia tay. Sau khi cô đi, trong nhà không còn hương trà nhàn nhạt nữa, lúc đầu anh cảm thấy rất tốt, còn tìm một đám bạn cùng sở thích về nhà uống rượu tán dóc, kết quả nhà cửa ngột ngạt mù mịt, mùi khói thuốc trộn lẫn mùi rượu, trong nhà chẳng còn hương thơm thanh khiết ấy nữa.

Anh sống một mình rất lâu.

Anh vẫn uống nước ngọt, nhưng lâu ngày mới phát hiện, thứ này uống nhiều sẽ chướng bụng, hơn nữa sắc tố quá nhiều, mới uống vào rất kích thích, thời gian càng dài dạ dày càng khó chịu. Một hôm, anh một mình buồn bực, sắp xếp những đồ vật cũ, bỗng nhìn thấy trong ngăn kéo còn có một lọ Bích Loa Xuân được niêm phong rất kỹ, thế là anh tìm bộ uống trà cô để lại, sau đó tự mình giản đơn pha một ấm trà, trà đã để hơn một năm, thế mà vẫn thơm thoang thoảng. Rất nhanh, hương trà thanh tao tràn ngập khắp nhà, anh bỗng cảm giác được mắt cay cay, đã lâu lắm rồi, anh mới biết, mùi hương ấy đối với anh quen thuộc đến thế, thậm chí có sự thân thiết lâu lắm không gặp.

Anh uống ngụm trà thứ nhất, đắng chát, trước là đầu lưỡi, sau đó nhanh chóng lan đến cuống lưỡi. Anh chau mày, uống tiếp, lại cảm nhận được sự ôn nhuận, xuống đến dạ dày, cực kỳ ấm áp, như có chiếc bàn là đang là. Anh nhớ cô từng nói, uống trà là thưởng thức mùi vị cuộc sống. Uống đến tách thứ hai, như ở thiền tự trong mưa vắng vẻ linh thiêng, thế là lại nhớ dáng vẻ uống trà của cô khi yêu nhau, thanh lệ và tao nhã. Uống đến tách thứ ba, đã có một vị ngọt nhàn nhạt, anh mới biết, trà đến tách thứ ba thì ra thơm thoang thoảng và ngọt nhàn nhạt, chỉ là anh chẳng bao giờ kiên trì uống đến tách thứ ba, cũng như tình yêu của họ, chưa đợi đến khi cảm nhận được nó tốt đẹp nhường nào, đã giữa đường gãy gánh, rơi vào kết cuộc không lời.

Về sau, anh cũng thích uống trà. Đương nhiên, lại kết hôn. Cô vợ mới cưới hỏi anh, sao lại thích uống trà như thế? Anh cười, nhẹ nhàng nói, trà đắng trà thơm, không phải một sớm một chiều có thể thưởng thức được, vì rất nhiều người không nhẫn nại nếm đến vị ngọt của trà đã từ bỏ.

Do đó, anh vẫn nhớ đến cô, những lúc xế trưa thi thoảng uống trà, vì chính cô đã dạy anh: Vốn dĩ tình yêu là một quá trình từ từ chờ đợi, giống như trà đắng đến trà thơm.

  
(Tuyết Tiểu Thiền)

Nhà số 17 Đường Ánh Nắng

Sau khi cô và anh mới cưới chưa đầy một tháng anh đã ra ngoài làm công. Đều là con nhà nghèo, lúc đám cưới chỉ mua một chiếc giường, đàn ông trong thôn của họ hầu như đều ra ngoài làm công, trong núi không sống nổi. Cô ở nhà, làm ruộng, nuôi heo, phụng dưỡng người già, chờ thư và tiền anh từ phương xa gửi về. Mỗi tháng, anh đều gửi tiền về nhà, khi nhận được tiền, cô giống như một đứa trẻ, chạy đến sở tiết kiệm gửi hết toàn bộ, không nỡ tiêu một xu nào.  

Khi nhận được thư anh, cô đọc từng chữ từng chữ, trình độ văn hóa của họ đều không cao, chỉ có thể viết một lá thư. Chữ anh nguệch ngoạc, nhưng cô thích, giữa những hàng chữ đó, tràn đầy bận tâm và mong nhớ đối với cô. Cô cũng viết thư trả lời, thẹn thùng bày tỏ tưởng niệm và nhớ nhung, đang là tân hôn, cô còn như người vợ bé nhỏ rượu nhạt nếm chút áo xuân thấm, mỗi cánh hoa trong lòng toàn là người đàn ông đen đen gầy gầy ấy.

Địa chỉ của anh cô sớm đã thuộc lòng, nhà số 17 đường Ánh Nắng. Đường Ánh Nắng, cái tên thật dễ nghe. Ở thành phố lớn phồn hoa đó, con đường Ánh Nắng này nhất định trải đầy nắng vàng rực rỡ. Nào giống thôn xóm miền núi nhỏ bé này, cứ gọi là trại gì đó trại gì đó mà thôi.  
 
Thế nên cô chan chứa ngưỡng mộ đối với nhà số 17 đường Ánh Nắng. Huống chi, trong thư anh nói, đường Ánh Nắng là một con đường hết sức đẹp đẽ, rợp bóng cây xanh, có đường nhỏ lát đầy đá vụn, điều kiện tương đối tốt, ở nhà có ban công, tuy là làm công, cũng không khổ.  
 
Thế nên tưởng tượng của cô càng thêm hoàn mỹ: Trên ban công kia có hoa đỗ quyên không? Có hoa thủy tiên không? Trên tường rào kia có dây leo bò đầy không? Cô tràn trề thiện cảm đối với thế giới bên ngoài, chờ thư của nhà số 17 đường Ánh Nắng đã trở thành niềm vui lớn nhất của cô.

Cô thích nghe anh miêu tả thế giới bên ngoài, những ngôi nhà đỏ trắng xen kẽ, những cô gái mặc quần áo đẹp, tiếng dương cầm du dương. Đương nhiên, cô còn nghe anh nói đến McDonald’s. Trong thư anh bảo, khi nào đến, anh đưa em đi ăn.

Nhưng Tết năm ấy, anh lại không về, anh nói, công ty tổ chức đi Hải Nam du lịch, cơ hội hiếm có, hay là sang năm lại về vậy. Cô gặp ai cũng kể, anh nhà tôi đi Hải Nam du lịch, do công ty tổ chức. Cứ như công ty là một từ rất khí phái, cứ như Hải Nam là nước ngoài vậy. Số tiền trên sổ tiết kiệm của cô ngày càng nhiều, cô nói với anh, sang năm anh về, chúng ta cùng xây một căn nhà mới. Kế hoạch trong thư của họ thật là tốt đẹp, xây căn nhà mới, mua ít heo con, trồng thêm ít bắp, sinh một đứa con, cứ nghĩ đến đó, cô liền cười ngọt ngào.

Anh xa nhà sắp hai năm rồi, cô nhớ anh đến sắp phát điên. Nói cho cùng vẫn là mới cưới đã xa nhau, thế nên cô chuẩn bị lên đường đi tìm anh, muốn cho anh sự ngạc nhiên vui mừng. Ngồi tàu lửa hết ba ngày ba đêm, cô đến được thành phố ấy, đó quả thật là một thành phố lớn đẹp đẽ, cô thoắt chốc đã chóng mặt, nếu không nhờ công an giúp, cô thực sự không phân rõ đông nam tây bắc.

Cô đưa mẩu giấy ghi nhà số 17 đường Ánh Nắng cho anh công an. Anh công an nói, chỗ đó rất xa, ở tận ngoại ô, cách thành phố đến hai tiếng đi xe. Cô ngẩn người một lúc, ngỡ rằng nghe nhầm, anh rõ ràng nói là ở trung tâm thành phố kia mà.    

     
Ngồi xe hết hai tiếng đồng hồ, cô lại hỏi thăm chỗ đó, có người chỉ cô, đi về phía trước, chiếc lều giản dị dựng bên kia chính là nó! Cô cuối cùng đã nhìn thấy một tấm biển tồi tàn trên có ghi: Nhà số 17 đường Ánh Nắng.
  
Đó là một tấm biển gỗ thô sơ, trên có xi măng và vôi trắng. Cô cũng nhìn thấy những căn nhà sơ sài kia, quả thật là đỏ trắng xen kẽ, gạch đỏ, trên vẽ vạch trắng, mà vừa rồi lúc đi qua những khu phố đẹp đẽ kia, cô đích xác cũng nhìn thấy ngôi nhà có ban công, nghe thấy tiếng dương cầm, nhưng đó đều là vui sướng của người khác.

Một dãy nhà ấy, đều là dựng tạm bợ, người bên cạnh nói, nhà lầu khu này sắp xây xong rồi, dãy nhà sơ sài kia cũng sắp dỡ bỏ, nếu cô còn chưa đến thì sẽ chẳng nhìn thấy. Đám nông dân làm công cũng phải về nhà rồi, họ làm ở đây sắp tròn hai năm, vì kiếm tiền đều không rời được về nhà. Ngày Tết lão chủ trốn biệt, cả tiền đi đường cũng không có, lão chủ độc địa làm họ chẳng có cách nào về nhà.

Cô khóc. Đứng trước căn nhà sơ sài ấy, nhớ đến anh từng nói đi Hải Nam du lịch, nhớ đến công ty và tiếng dương cầm anh từng kể, nhớ đến anh nói đưa cô tới McDonald’s. Cô dám đoán chắc, anh trước giờ chưa từng rời khỏi chỗ này, anh trước giờ chưa từng ăn McDonald’s, anh cũng chỉ là tưởng tượng ra hình dáng McDonald’s mà thôi.

Không đi tìm anh, cô lại ngồi tàu lửa ba ngày ba đêm về nhà.


Sau khi về nhà cô viết thư cho anh: Em rất nhớ anh, nhất định phải về nhà một chuyến.

Một tháng sau, anh xách túi lớn túi nhỏ về nhà, đương nhiên, mang cả một phần McDonald’s không còn nóng sốt.

Cô nhường anh ăn. Anh nói, em ăn đi, anh ở bên ngoài ăn hoài. Cô rưng rưng nước mắt ăn hết cái món gọi là hamburger ấy, một chiếc hamburger nho nhỏ, phải bán cỡ 10 đồng, ăn xong cô nói, chả ngon, không dễ húp như cháo khoai lang, thảo nào anh bảo ăn ngán rồi.   

Suốt đêm, anh kể cô nghe về thế giới bên ngoài, kể về nhà số 17 đường Ánh Nắng của mình. Anh kể mãi, cô lắng nghe, rơi lệ trong bóng tối, cuối cùng, cô nắm tay anh: Bởi vì có anh, con đường ấy nên gọi là đường Ánh Nắng.

Cô chẳng bao giờ nói cô từng đến nhà số 17 đường Ánh Nắng. Đó là bí mật hạnh phúc mà xót xa của cô.


(Tuyết Tiểu Thiền)

Chuyện xưa

Ai tỉnh táo hơn, hoặc ai dụng tình nhiều hơn, đối với chuyện xưa, sẽ nhớ được nhiều một chút.

Trong “Tỳ Bà Hành” của Bạch Cư Dị, câu thơ cảm động nhất là: Đêm khuya sực nhớ vòng tuổi trẻ, Chợt mơ màng dòng lệ đỏ hoen. Có lẽ chỉ có vào đêm khuya, khi vô ý, mới sẽ mơ chuyện thời niên thiếu chăng?

Chuyện xưa thường thường là: bạn dặn dò bản thân, không được, không được quên… Bạn cũng cho rằng không quên được. Thế nhưng, đột nhiên có một ngày, lại phát hiện: gần như đã hoàn toàn quên mất rồi – thậm chí tướng mạo của anh ấy, thậm chí tên của anh ấy, thậm chí nốt ruồi ấy.

Đã nhớ những chuyện xưa ấy với nhiệt độ thấp nhất, trong nháy mắt rủ mày quay lại.

Đã nhớ những chuyện xưa ấy một cách điên cuồng nhất – lúc ban đầu khi chuyện xưa trở thành chuyện xưa. Cười một mình, đứng ở đầu phố kẻ qua người lại, bỗng nhiên lệ rơi đầm đìa.

Tịnh không phải chỉ quan tâm đến những tuổi xuân, tình yêu, đau, chua xót ấy.

Có lúc cũng là một số chi tiết nho nhỏ: hoa dại nở rộ trong ruộng hoang, gió mưa gào thét xóm núi; đột ngột nắm tay cô ấy nói: “Tốt với anh nhé, tốt với anh nhé”; thờ ơ thổn thức; lá rụng trong gió; hương thầm trong sách; danh thiếp cũ.

Chuyện xưa là gió chăng?

Trầm trầm thổi qua, như sáo dài, thổi thật xa.

Cho rằng đã rời khỏi, vừa quay người, thanh âm ấy lại bay đến, rất thê thảm, rất cảm động.

Đủ thứ chuyện xưa trên đời, cho rằng quên hay không quên, đều để gió thổi đi rất xa.

Đuổi nào đuổi, đuổi kịp rồi. Tóm lấy một nắm, mở ra xem thử, rỗng tuếch chẳng có gì.

Tất cả, tất cả chuyện xưa, chẳng qua như thế.

Cái gọi là ghi lòng tạc dạ và trọn đời trọn kiếp, có lúc, chỉ là một nét dùng để viết trong chuyện xưa.

Mà thôi.


(Tuyết Tiểu Thiền)

Làm một hạt đậu đỏ trên cổ tay em


 
Chàng là một thiếu niên phong lưu tiêu sái, mày thanh mắt sáng tài hoa xuất chúng, rất nhiều thiếu nữ thầm yêu chàng, chàng lại chẳng yêu một ai.
Thiếu niên cao ngạo đều tịch mịch, sự cô độc trong tịch mịch lại càng kiên định quyết tâm tìm người trong mộng của chàng. Tuổi xuân lần lữa trôi qua, chàng không còn là thiếu niên, đã trở thành một nam tử kiêu kỳ, lại vẫn tìm không được nữ tử mình ngưỡng mộ.

Cuối cùng có một ngày, chàng đi qua một gốc cây, cây nở đầy những đóa lớn bạch ngọc lan. Chàng nhìn thấy một thiếu nữ áo trắng đang thổi tiêu dưới cây, nước mắt chàng liền nhỏ xuống, dong hết ngàn cánh buồm, cuối cùng đã tìm được người mình yêu. Không sớm một bước, cũng không muộn một bước, chàng nói: Xin chào, nàng cũng ở đây sao?

Thiếu nữ đáp lại một câu, liền nhanh chóng bỏ đi. Còn lại một mình chàng, ngày đêm nhớ nhung, gần như một đêm bạc tóc, kiếp này, người chàng mong nhớ chỉ có duyên gặp mặt một lần, chàng không tin.

Quỳ cầu Phật. Phật nói: Người gửi gắm hai kiếp, muốn gặp lại, phải có điều kiện.

Chàng gật đầu: Con đồng ý hết. Chỉ cần gặp lại nàng ấy. Dù chỉ một lần.

Phật nói: Kiếp sau con là một thiếu niên ăn mày đầu đường xó chợ, gặp được hay không là tạo hóa của con.

Quả nhiên, chàng biến thành một kẻ ăn mày, hành tẩu giang hồ, chỉ vì tìm nàng. Rốt cuộc có một ngày, chàng nhìn thấy nàng trong đám đông. Đó là Thượng Hải những năm 1930 phong nguyệt vô biên, nàng đã thành minh tinh được mọi người chú ý, khoác áo da chồn, chậm rãi từ trên xe bước xuống.

Chàng bước tới: Tiểu thư. Chỉ gọi một tiếng, rồi cũng không nói tiếp được nữa, luân hồi hai kiếp, nàng tuyệt đối sẽ không nhận ra chàng là người dưới cây ngọc lan.

Nàng vẫn ngoảnh lại, bảo người hầu cho tiền chàng, chàng dùng tiền nàng cho, mua ngay một cành hoa hồng từ tay em bé bán hoa tặng nàng, nàng lại cười, sau đó xe chạy mất, hoa bị ném ra ngoài, cánh hoa vương vãi đầy mặt đất, giống như trái tim tan nát của chàng.

Chàng đứng sững trong gió, mặc cho nước mắt tuôn rơi.

Phật hỏi: Hối hận không?

Chàng lắc đầu. Khẩn cầu Phật cho chàng gặp lại. Phật chấp thuận, chỉ là điều kiện càng khắc nghiệt hơn, không được là hình người nữa, thực vật trong giới tự nhiên, tùy chàng lựa chọn.

Chàng chọn đậu đỏ. “Vật này nặng tương tư” mà.

Từ từ mọc thành đậu đỏ, chậm rãi đợi nàng đến. Cuối cùng nàng đến, lại là cùng bạn trai đến Vân Nam du lịch, bạn trai nàng nhặt đậu đỏ trên mặt đất, còn chàng vẫn chưa rơi xuống, chỉ vì nàng đến, chàng mới rơi xuống.

Bạn trai nàng cắm cúi nhặt đậu, nhặt một hạt đặt vào tay nàng, nàng liền cười dịu dàng, sau đó bạn trai nhẹ nhàng hôn má nàng, chàng nhìn thấy, nhưng không đau lòng, mà lại hạnh phúc vì nàng. Sau cùng nàng bước tới, nàng nói: Em cũng phải nhặt một hạt, rồi khắc lên tên của anh. Chính vào lúc đó, chàng đã rơi xuống, vì đợi nàng đến, chàng đã chờ đợi bao nhiêu xuân thu. Chàng khe khẽ rơi trên tóc nàng, nàng cười: Em nhất định có duyên với hạt đậu này, chính là nó! Chàng run rẩy, hạnh phúc, vì câu nói của nàng. Nàng đem chàng về nhà, nhờ người khắc lên tên bạn trai, sau đó đem tất cả đậu đỏ xâu thành một chuỗi hạt, mỗi ngày đeo trên cổ tay, mang chàng đi khắp phố lớn hẻm nhỏ trong thành phố, mãi đến cuối cùng kết hôn với bạn trai, nàng vẫn luôn đeo chuỗi vòng tay này.

Phật hỏi: Thế này tốt không? Có hối hận không? Chàng cười hạnh phúc, có thể làm một hạt đậu đỏ trên cổ tay nàng, đã mãn nguyện, tình yêu, có lúc, không nhất định phải sở hữu, bởi vì, duyên phận giữa người và người, có lúc chỉ là làm một hạt đậu đỏ trên cổ tay nhau mà thôi. Phật hỏi: Chàng trai trẻ, có biết vì sao con trải qua trắc trở và khổ nạn của tình yêu hay không? Chàng lắc đầu.

Phật nói: Bởi vì kiếp trước, con từng khiến một cô gái yêu con, nhưng con không cưới nàng lại phụ rẫy nàng, kiếp này, con phải hoàn trả, tình cảm luôn luôn là như thế, con nợ người ta bao nhiêu, thì phải trả người ta bấy nhiêu, rất đỗi công bằng.

Chàng chợt tỉnh ngộ, hiểu rõ tình yêu là thiền, lúc có được nhất định phải hết lòng trân trọng, trăm ngàn lần không nên lãng phí những năm tháng yêu nhau.


(Tuyết Tiểu Thiền)

Mẫu đơn




Tôi đương nhiên không thích mẫu đơn. Những thứ quá tráng lệ luôn có cảm giác ngăn cách sâu xa với tôi.

Huống chi nó thật sự mang dáng vẻ phú quý. Một bộ dạng ung dung và độ lượng của vợ cả. Một bộ dạng không kiều diễm lạnh lùng mà lại sắc màu rực rỡ. Thái độ của mẫu đơn thật ung dung, không chút khẩn trương, không chút e lệ, một dáng vẻ rộng rãi từng trải sự đời.

Thái độ của tôi đối với nó hiển nhiên là lạnh nhạt, lặng lẽ. Không lạnh không nóng. Cũng giống như có một số người, tôi trời sinh không thích họ, họ nhiệt tình hơn nữa, cũng không gợi nổi sự xao xuyến của tôi. Tôi vẫn chọn xa cách.

Mùa xuân, đi Lạc Dương ngắm mẫu đơn.

Từng mảng từng mảng, rất tráng lệ. Quá là hoành tráng, nhưng tôi lại chẳng chút hứng thú. Xem qua liền bỏ đi. Không chụp ảnh, dường như chẳng liên quan gì với tôi. Những thứ thành mảng luôn khiến tôi nảy sinh ý chán ghét.

Dương Ngọc Hoàn là mẫu đơn, đời Đường cũng là mẫu đơn. Tráng lệ nền nã mà chói mắt, vẻ cao ráo và đẹp đẽ của nó đều không phải là kiểu tôi thích. Tôi thích những bông hoa hơi mang khí chất thương cảm, ví như tường vi, ví như anh đào, hoặc là ba tiêu. Thái độ của tôi đối với chúng khoan dung và thả lỏng hơn.

Nhưng tôi mê luyến đời Đường. Đời Đường là hoa mẫu đơn của Trung Quốc. Trước đây có một ban nhạc tên là Đường Triều, điên cuồng hết sức, đều cao gần một mét chín, tóc dài, sau đó, một thành viên qua đời, có người viết về anh: “Mẫu đơn tàn rồi”. Mẫu đơn quá nặng khí chất quý phái. Không uể oải, luôn đoan trang, giống một người không có bí mật, biểu diễn hoa lệ cho người ta xem, mà bạn thoáng nhìn đã có thể xuyên thấu nó, thật ra nó chẳng có ý vị gì cả.

Suy cho cùng những thứ có ý vị mới có thích thú.

Nó nở quá hết mình, quá nhiệt tình, khiến người ta không thể ngăn trở. Giống như tình yêu của một cô gái, quá nhiệt tình, sẽ khiến đàn ông sợ chạy mất… Trạng thái tốt nhất của tình yêu là gì? Tên ở trên dây, sắp bắn mà chưa bắn. Giữa nam và nữ, biết đôi bên thích nhau, không điểm thấu, huyền diệu nhất. Nói ra rồi, chân chạm đất rồi, xem hết thảy rồi, lập tức không còn ý vị. Mà mẫu đơn, cả một chút mập mờ cũng không có, ung dung làm vợ người ta, cưới hỏi đàng hoàng, nở rộ đến già.

Có lẽ trong lòng tôi cứ u ám, cứ có ý chống đối trước mẫu đơn nở hoa quá long trọng. Càng hoặc là, tôi căn bản không phải kiểu người như mẫu đơn. Tự đáy lòng tôi cự tuyệt những thứ to lớn, long trọng, quá đỗi đẹp đẽ, giống như cự tuyệt Thái Sơn. Uông Tăng Kỳ nói: “ Tôi sợ những thứ đao to búa lớn.” Tôi đồng ý câu nói này. Mẫu đơn quá mạnh mẽ, có cảm giác khinh người quá đáng, khí thế hăm hở ý chí hăng hái, thật ra tôi thích cảm giác uể oải, riêng tư, nhàn nhã vô sự hơn, mẫu đơn không phù hợp khẩu vị của tôi.

Nhưng mẫu đơn đột nhiên đã đến trước mặt tôi.

Có một chị bạn, chị bảo: Tớ tặng cậu thứ gì nhỉ? Cậu xem, đón Tết rồi.

Tôi đang do dự, chị liền bảo: Tớ đã mua hai chậu mẫu đơn, tặng cậu nhé.

Lúc ấy, chị ở Sơn Đông, ở một thành phố cách Hà Trạch rất gần, đang là mùa đông, chị đưa hai chậu lớn mẫu đơn đến bến xe khách đường dài, sau đó năn nỉ mãi mới chất được lên xe gửi tôi – đương nhiên là ở cốp sau.

Trùm bao nylon lên, ngàn dặm xa xôi tặng mẫu đơn. Bạn khiến tôi làm sao cự tuyệt mẫu đơn được nữa?

Hôm ấy chị đợi xe mãi, chuyến xe đầu tiên đi Lang Phường đã chạy qua. Hôm ấy Tam Cửu, cực rét. Chị đứng trong sương mù đợi xe đi Lang Phường chạy ngang, đợi suốt hai tiếng đồng hồ, còn mẫu đơn, kiên trì chờ đợi như vậy.
  
Mẫu đơn đến Lang Phường, tôi đi đón mẫu đơn.

Hai chậu lớn quá hoành tráng, cao hơn một mét, chậu cũng vẽ hình hoa mẫu đơn nở, sự dung tục mà tôi chán ghét tan thành mây khói trước mẫu đơn đến từ ngàn dặm xa xôi, đây không phải là lông ngỗng ngàn dặm gửi tặng, mà là mẫu đơn, mẫu đơn đấy.

Gốc của mẫu đơn vốn đen đen tím tím, có ý vị cổ kính. Chạc cây khoa trương, không vững vàng. Cành cây già cỗi, uốn lượn trong chậu, hoa lại yêu kiều đến nóng bỏng, mẫu đơn, từng đóa rồi từng đóa bừng nở.

Mỗi khi nở một đóa, tôi liền chụp lại đưa lên blog. Tôi đang khoe mẫu đơn của tôi – mẫu đơn ngoài ngàn dặm gửi đến.

Hóa ra, mẫu đơn có hơi ấm khiến người yêu thích đến thế.

Tôi thay đổi thái độ trước đây, đã có thái độ rõ ràng của mình đối với những sự vật nhiệt liệt.

Hoa khai phú quý có gì không tốt? Dung tục có gì không tốt? Kiên trì ít lời và lạnh lùng thanh cao là tốt sao? Tôi vẽ mẫu đơn lên một chiếc áo đen vải gai, áo đen phối với mẫu đơn đỏ, tôi cảm thấy rất đẹp, rất dễ nhìn. Sau đó, tôi ra phố, ngắm đèn lồng đỏ treo ở Quảng trường Thời đại ngày Tết, đi xuyên qua những đèn lồng ấy, ngửi mùi pháo, thật thơm.

Trên đèn lồng đỏ có một số vẽ mẫu đơn, tôi gửi tin nhắn cho chị bạn: Mẫu đơn vẽ trên đèn lồng đỏ này thật là đẹp mắt.

Chị nhắn tin trả lời: Gió xuân mẫu đơn, đều đẹp, cậu đẹp hết mình nhé, nhân lúc còn trẻ.

Tôi biết, trẻ tuổi thứ gì cũng tốt, giống như mẫu đơn, bởi vì phóng túng, bởi vì hết mình, bởi vì, không chấp nhất.


(Tuyết Tiểu Thiền)

Hoa trên gấm


Cô nói: “Nếu tôi có tình yêu, tôi chính là thêm hoa trên gấm. Nếu không có, tôi cũng là một khúc gấm.”

Cô có tiền, sống cuộc sống tao nhã. Váy chỉ mặc nhãn hiệu của Pháp. Lái Land Rover. Tự nhiên toát ra một khí chất hoa mỹ hiếm có.

Nhưng thân đơn bóng chiếc.

Phụ nữ không có tình yêu, là một khúc gấm thế nào, hoa lệ ra sao, sờ lên, cũng lạnh băng.

Tất cả hình ảnh hoa mỹ, chẳng qua là một kiểu thể tất đối với bản thân. Có thể như thế nào đây? Trong thời gian mênh mang, làm sao sưởi ấm là chuyện rất đỗi quan trọng. Gấm, là thứ dễ vụn nát biết bao.

Năm tháng dệt gấm, từng khúc đoạn. Có thể dệt mấy đoạn tình? Đoạn tình nào là ghi lòng tạc dạ sống chết có nhau?

Cỏ mảnh hoa dày, đều sẽ nhớ được đường kim, mũi chỉ, cảnh quan, hơi thở trên những khúc gấm này chứ? Nếu chỉ là một khúc gấm của mình, có hoa lệ đến đâu, e cũng là trong lòng băng mỏng ba tấc.

Làm sao thêu lên đóa hoa thuộc về mình ấy?

Đóa hoa riêng tư nho nhỏ ấy… Thêu trong lòng của mình. Có lẽ chẳng cần quá lâu, có lẽ chẳng cần quá đẹp. Chỉ cần huy hoàng một phút, là đủ rồi.

Tình yêu, lúc nào cũng là hoa trên gấm.

Đừng đợi, đừng đợi – muộn rồi, thật sự không kịp nữa rồi. Hãy để chúng ta gặp nhau yêu nhau trong năm tháng đẹp nhất. Thẩm Tùng Văn nói: Vào năm tháng đẹp nhất gặp được em đang độ đẹp nhất. – Đã gặp quân tử, rằng sao chẳng vui?

Có nhà thơ già nói, đời này, nuối tiếc lớn nhất là chưa trải qua một lần tình yêu ghi lòng tạc dạ. Tất cả phỏng vấn, câu này khiến người cảm thán nhất.

Ngày tháng tươi đẹp, tìm một người tốt để yêu đi.

Lúc nghĩ như thế, ngày xuân như lan trong khe vắng, phát ra một tiếng than thở đẹp nhất.


(Tuyết Tiểu Thiền)