26.12.13

Hôn nhân Tây Tạng (7)



Zhoigar:              

Lúc này, trong bụi cây truyền đến tiếng gọi: “Zhoigar la, Zhoigar la, chị có đây không? Zhoigar la…”

Tôi vỗ Qiuzhu sắp nhảy lên, cao giọng trả lời: “Chongtsong, chị ở đây!”

Chongtsong là hàng xóm mới của tôi, nhỏ hơn tôi một tuổi. Cô thích chơi với tôi, nói những chuyện riêng tư của con gái với tôi. Khuya thế này còn chạy lên núi tìm tôi, không biết có chuyện gì.

Chẳng mấy chốc, đã thấy cô xách túi nylon từ bụi cây chui ra, thở hổn hển, mặt mày không vui. “Em đi tìm chị, Namgyal nói chị đi tắm rồi, cũng chả gọi em một tiếng!”

“Cơm tối xong chị mới lên, không biết em muốn đi mà! Mau qua đây, nước dễ chịu lắm.” Tôi vỗ mặt nước, rất vui sướng có người chia sẻ buổi tối đẹp đẽ dường này.

Cô loáng cái đã cởi sạch, nhảy vào hồ. “Thật dễ chịu nha! Dễ chịu chết mất!” Cô vừa ậm ừ, vừa tìm một tảng đá ở đối diện ngồi xuống, nước sâu đến ngực, cô cầm một bình nhựa nhỏ, tưới từng chặp từng chặp lên đầu.
         
Tôi nhích qua giúp cô gội đầu, vốc một nắm bột giặt xoa lên đầu cô. Bọt trắng tinh từng đám rơi trên mặt nước, trôi theo sóng nước.

“Em đính hôn rồi!” Cô gội sạch tóc xong, hất sang một bên, bỗng thốt một câu như thế.

“A?” Dù đây là chuyện sớm muộn phải xảy ra, nhưng thình lình nghe được, vẫn cảm thấy kinh ngạc. “Sao em biết? Lúc nào đám cưới?”

“Tối hôm qua, lúc em đi nhà vệ sinh, lén nghe được cha mẹ đang nói chuyện, chính là nói chuyện này, đằng trai hình như còn là quê chị.” Cô cúi đầu, tay nét có nét không vẽ lung tung trong nước, giọng nói đượm buồn.
  
“Chongtsong...” Tôi không biết làm sao an ủi cô mới phải. Lúc này, nói gì cũng bằng thừa. Tâm tình của cô lúc này, tôi vừa mới trải qua, nỗi lo sợ và hoảng loạn lúc đó, lời lẽ không an ủi nổi.

“Em nói là… là quê chị à?” Tôi hơi do dự.

“Dạ.” Chongtsong gật đầu. “Chính là quê chị, anh em ba người!”

Đó là ai nhỉ ? Trong óc tôi lần lượt hiện lên những gia đình quen biết chưa đám cưới lại là ba anh em, thật tình không vẽ được dấu bằng giữa họ và Chongtsong xinh đẹp thanh tú.

“Em không muốn gả chồng, không muốn gả cho ba gã đàn ông hoàn toàn xa lạ.” Chongtsong ngẩng đầu, trên mặt có chút bất lực. “Zhoigar la, chẳng lẽ chúng mình cứ phải nghe theo sắp đặt của cha mẹ, không thể tự làm chủ chút nào sao?”

“Từ xưa chẳng phải đều như vậy ư? Em, chúng mình, cha mẹ anh em chúng mình, có hôn nhân người nào là tự làm chủ đâu?” Nhìn thấy dáng vẻ của cô, đột nhiên tôi thương cảm. 
  
“Là chúng mình trải qua, không phải cha mẹ trải qua kia mà? Ít nhất chúng mình nên biết chút đỉnh chứ, dù biết đằng trai là ai, làm quen một chút cũng tốt. Giống như thế này, nói cũng chẳng nói tiếng nào với chúng mình đã đính hôn, hơn nữa phải đám cưới ngay. Tất cả mọi thứ đều giấu giếm chúng mình, còn nói cái gì những kẹo bánh quần áo này đều là bà con tặng, lời quỷ gạt người.” Chongtsong càng nói càng tức, giọng nói cũng cao lên tám phần, trở nên the thé, ở chốn yên tịnh này, tỏ ra rất đỗi đường đột.

Chuyện tôi mới trải qua không lâu, nhanh như vậy đã diễn lại trên người một cô gái khác. Nhìn thấy cô, phảng phất nhìn thấy mình thuở nào. Tôi gượng cười, bắt đầu giống nhau, kết cuộc giống nhau, quá trình thì sao? Quá trình cũng sẽ y như tôi chăng?

“Ai biết đó là mấy gã thế nào, em không chịu nổi chuyện này!” Chongtsong cúi đầu, vỗ mạnh nước hồ, bắn lên đầy hồ bọt nước, cũng đánh thức suy nghĩ của tôi.

“Không chịu nổi vẫn phải chịu, đây chính là số mệnh của chúng mình.” Tôi tưới nước rửa mặt, cũng rửa đi nước mắt trào ra. Đêm thế này, luôn khiến người thương cảm! Tất cả chẳng phải đều đã qua rồi sao? Tôi còn nghĩ những chuyện đó làm gì chứ? Đau buồn suông mà thôi! “Họ bảo em lúc nào đám cưới?”

“Ăn xong lễ Ongkar sẽ cưới.” Chongtsong co chân, ôm hai đầu gối, lặng lẽ mà chán nản!

“Còn đỡ, ít nhất em vẫn có thời gian nửa tháng chuẩn bị sẵn tâm lý. Chongtsong, đây là chuyện hết cách, đừng nghĩ nhiều như thế, em nghĩ càng nhiều càng khó chịu.” Tôi cũng cúi đầu nhìn mặt nước, vầng trăng tròn nhẹ nhàng lung linh, sáng ngời mà thánh khiết! Chẳng phải đều nói con gái như mặt trăng sao? Lẽ nào mặt trăng này định sẵn suốt đời không thể có ánh sáng của mình, mãi mãi phải mượn ánh sáng của mặt trời?
    
“Em không muốn tiếp nhận sắp xếp của họ, em nghĩ thông rồi, em phải đi Lhasa! Tối nay tìm chị chính là muốn nói chuyện này với chị, em muốn nhân lúc ngày mai lên núi chăn cừu len lén bỏ trốn!” Cô ngẩng đầu lên, nói dứt khoát, trên mặt thoáng qua một vẻ quyết liệt!

“Em muốn đào hôn !?” Tôi kinh ngạc nhìn cô, rời xa quê nhà, một mình? “Không được đâu, Chongtsong, xa nhà, em sinh sống thế nào? Cha mẹ em lại làm sao?”

“Vì sao không được? Em chỉ cần tìm được công việc, tự mình có thể nuôi sống mình. Nghe nói hiện nay ở Lhasa rất dễ tìm việc. Còn về cha mẹ, em không lo xuể nhiều như vậy, qua ải này trước rồi nói!”
   
“Em quyết định rồi? Nhỡ họ bắt em về thì sao?”

“Không đâu, đợi đến tối mai họ phát hiện, em sớm đã đi xa rồi. Họ không bắt được em đâu. Đến Lhasa, em sẽ đổi tên, tạm thời không gặp người ở quê là được!”
  
“Chongtsong…” Tôi nắm tay cô, vừa nghe nói cô muốn đào hôn, bản thân cũng cảm thấy hơi sợ. “Không có cách khác ư? Chỉ có thể chạy trốn sao? Nghĩ thêm xem, có thể thoái hôn hay không?” Tôi cười gượng, vì kết quả căn bản không thể nào đó. “Không thể, đúng không? Hôn ước đã định họ làm sao có thể hủy bỏ chứ?” Tôi nói năng lộn xộn, chính mình cũng không biết nói gì. Nhưng vừa nghĩ tới Chongtsong cô đơn chạy đến Lhasa, tim đã thình thịch đập mạnh không ngừng. Nơi xa xôi như thế, một đứa con gái, sinh sống cách nào? Hơn nữa, ngộ nhỡ bị bắt về thì phải làm sao? Một cô gái từng đào hôn, nay mai còn ai dám cưới? Vả lại cứ cho là đào hôn thành công, cha mẹ của cô làm thế nào? Nhất là cha cô, một vị gia trưởng, nếu để con gái mình đào hôn, sắp tới sẽ bị người làng chê cười. Còn đằng trai đính hôn với cô, sẽ mất hết mặt mũi, bất kể con trai hay cha mẹ, sau này trong làng đều khó ngẩng đầu lên được!

“Em nghĩ hết rồi. Ở Lhasa, em có thể đi làm vú em cho người ta, hoặc đến công trường xây dựng làm việc vặt. Tóm lại, tốt hơn so với chờ bị sắp đặt thế này! Zhoigar la, chúng mình chính là quá mềm yếu, suốt đời đều chẳng ra khỏi núi lớn, bên ngoài rốt cuộc thế nào đối với chúng mình chính là một câu đố. Chị xem anh Gyatso nhà chị, chẳng phải sống rất tốt ở Lhasa hay sao?”
  
“Anh ấy…” Anh đương nhiên sống rất tốt, nếu không cũng không đến nỗi cả nhà cũng không về. “Nhưng em không giống anh ấy, em là con gái, phụ nữ thì phải ở nhà hầu hạ người già, chăm sóc trẻ con.” Tôi hơi mơ hồ, đối với cách nói của cô không biết là đúng hay sai.

“Ai nói phụ nữ thì phải hầu hạ người già, chăm sóc trẻ con?” Chongtsong phản bác. “Phụ nữ không phải là người sao? Phụ nữ chẳng phải là đứa con cha mẹ nuôi dưỡng sao? Hơn nữa, dù muốn chúng ta hầu hạ người già, chăm sóc trẻ con, thế thì cũng cần chúng ta bằng lòng mới được chứ? Ba gã ấy em đều không quen, đột nhiên sẽ trở thành chồng em, bắt em chăm sóc họ và người nhà, dựa vào đâu?”
...
Trong đêm ánh trăng như nước đó, hai chúng tôi tranh luận, thảo luận; thảo luận, tranh luận, cuối cùng Chongtsong vẫn thuyết phục tôi ủng hộ kế hoạch chạy trốn của cô, nhận lời sau khi cô đi, giúp cô chăm sóc cha mẹ. Thật ra cũng nói không hẳn là thuyết phục tôi, cách nghĩ của cô tôi cũng từng có, có lẽ rất nhiều chị em đều từng có? Chỉ chẳng qua, chúng tôi đều không dũng cảm thực hiện nó, chúng tôi lo nghĩ quá nhiều, không dám phá vỡ nề nếp sinh hoạt hiện có. Dù chúng tôi rất ư không tình nguyện, cuối cùng vẫn dẫm lên dấu chân của lớp lớn, lặp lại cuộc sống đời này sang đời khác. Giờ đây Chongtsong muốn thay đổi nó, dù tương lai thế nào, ít nhất cô có dũng khí thử. Lòng riêng, tôi vẫn thấy mừng cho cô.

Tờ mờ sáng hôm sau, khi sương mù còn bao trùm làng nhỏ, tôi đã lên núi. Ở một nơi đã hẹn trước, gặp Chongtsong đeo sẵn tay nải. Tôi lấy ra toàn bộ tiền riêng mấy năm nay mình lén dành dụm, nhét vào lòng Chongtsong. “Một mình ở ngoài, nhất định phải cẩn thận. Thật sự không ổn, đi tìm Gyatso, đều là bà con cùng quê, anh ấy không thể không lo cho em!”

“Em sẽ cẩn thận, chị cũng phải bảo trọng!” Chongtsong ôm chầm lấy tôi, hai chúng tôi ôm nhau khóc.
  
Khó khăn lắm tôi mới đẩy Chongtsong ra, lau nước mắt, nói: “Em đi đi, mau đi đi! Đợi một lát đông người, bị phát hiện sẽ phiền phức đấy!”

Cô ngẩng đầu, nước mắt ràn rụa. “Sau khi em đi, chị năng đến thăm mẹ em nhé, khuyên mẹ nghĩ thoáng một chút, đừng quá đau buồn, sức khỏe mẹ không tốt lắm…” Chân núi chính là quê nhà, nếu không phải vạn bất đắc dĩ, cô gái nào bằng lòng rời quê đi lưu lạc chứ?

“Em cứ yên tâm, chị sẽ đến. Em nhớ, ở bên ngoài đừng quá tỏ vẻ, nhất định phải chăm sóc tốt bản thân, lúc thuận tiện nhất định phải liên hệ với chị!” Tôi giúp cô lau nước mắt, chính mình cũng khóc đến nhòe nhoẹt.

Cô ôm chặt tôi lần nữa, nghẹn ngào: “A-jia a-jia…” Cuối cùng vẫn kiên quyết quay người, nhanh nhẹn men theo đường nhỏ bên núi đi xa dần. (A-jia: tiếng Tạng nghĩa là chị)
      
Tôi nhìn bóng lưng của cô, nước mắt nhạt nhòa. Lúc sắp vượt qua núi, Chongtsong quay người, nhìn tôi, lại nhìn làng núi nhỏ, cuối cùng vẫn biến mất nơi sâu thẳm mây trắng!

Từ nơi chúng tôi sống đến bên đường cái phải đi một tiếng đồng hồ, đi Lhasa phải ngồi xe ba ngày. Rất nhiều người lớp già, suốt đời ở trong vùng núi lớn này, ngoài núi ra sao, chỉ nghe qua, chưa thấy qua.
  
Người làng thường ngày chẳng có gì giải trí, nhà nào hộ nào hơi có chút chuyện trái lệ thường, chắc chắn là tin tức có tính bùng nổ nhất, sẽ khiến tất cả mọi người hưng phấn. Trong làng bất kể già trẻ chẳng trừ một ai đều quan tâm, bàn tán, mãi đến khi tìm được đề tài mới. Do đó chuyện Chongtsong chạy trốn, tối hôm ấy đã truyền khắp cả làng. Nam nữ già trẻ đều ùa đến nhà cô, mang đủ các kiểu tâm tư, hỏi thăm lẫn nhau xem sự việc xảy ra thế nào.

Cha Chongtsong giống như phát điên, lớn tiếng chửi bới, sai hai con trai đều ra ngoài tìm, lên núi tìm, lên thị trấn tìm. Còn sai con dâu ra đợi bên đường cái. Quay đầu nhìn thấy mẹ Chongtsong ở một bên chảy nước mắt, lại mắng nhiếc một trận phủ đầu, quăng đồ đạc loảng xoảng… Dày vò như thế đến trời sáng, con trai con dâu đều trở về. Đương nhiên, tất cả sắp xếp đều là uổng công. Sau đó, cha mẹ cô lần này lượt khác gọi tôi đến, gạn hỏi tối qua Chongtsong nói gì với tôi? Có tiết lộ mảy may tung tích gì không? Tôi nói với họ Chongtsong chả nói gì cả, chúng tôi chỉ cùng tắm, sau đó về nhà. Cuối cùng còn làm bộ không biết gì, hỏi Chongtsong vì sao chạy trốn? Cả nhà không phải đối với cô ấy rất tốt sao? Cuộc sống trong nhà cũng sung túc như thế. Mẹ cô muốn nói gì đó, nhưng cuối cùng dưới ánh mắt giận dữ của cha cô, vẫn không dám hé răng.

Đào hôn, ở trong núi lớn khép kín thế này của chúng tôi, chẳng phải chuyện vẻ vang gì!

Sáng hôm sau, Namgyal trở về nói, Jiumei đã dẫn một người đàn ông trung niên vào làng, đi thẳng đến nhà Chongtsong, người làng lại nghe tin hành động ngay, đồng loạt đổ xô đến nhà cô.

Tôi biết, chuyện phiền phức nhất của nhà Chongtsong đến rồi. Tôi không gặp người đàn ông đó, cũng không sang nhà Chongtsong xem náo nhiệt, mà yên tịnh ngồi trước khung dệt vải, theo số sợi ngang dọc tỉ mỉ mắc những sợi len đã xe xong lên khung dệt, bắt đầu dệt phổ-lỗ dùng cho sang năm.
  
Buổi tối Namgyal kể, nhà Chongtsong ầm ĩ long trời. Người đàn ông kia chính là gia trưởng nhà trai Chongtsong đính hôn, nghe Jiumei báo cô dâu đã chạy trốn, liền đi gấp sang, la hét ầm ĩ, còn đánh cha Chongtsong, bắt nhà Chongtsong bồi thường tổn thất, nếu không sẽ đưa các con trai đến nhà Chongtsong ăn ở.

“Sao chẳng nói đạo lý như vậy?” Tôi ngạc nhiên nhìn Namgyal, “Con gái không bằng lòng gả chồng, chạy trốn, thoái hôn là được rồi, còn đánh ai chứ?”

“Ôi, em nói nghe nhẹ nhàng quá. Nhưng lão gia trưởng đó bảo, Chongtsong bỏ con lão, khiến cả nhà lão đều chẳng còn mặt mũi. Chuyện này không cho một lời giải thích, tuyệt đối không bỏ qua!” Namgyal cởi sạch quần áo, mặt thèm thuồng kéo tay tôi.

“Anh thôi đi.” Tôi gạt tay anh ra. “Vậy làm thế nào? Chongtsong đã không có mặt, chẳng lẽ còn phải giết người ư?”
      
“Giết người thì không đến nỗi, bồi thường tổn thất là nhất định. Em nói Chongtsong cũng thật là, cô ấy chạy trốn không sao, lại hại người nhà cô ấy thê thảm. Em chưa biết, lúc chị dâu cô ấy đến khuyên, bị lão kia đá một cái trên bụng, đứa con cũng mất rồi!”

“Khốn nạn, gia đình loại này, may mà Chongtsong chưa gả, nếu không về sau cô ấy bị làm tình làm tội!” Tôi giận dữ nói. “Còn bồi thường nhà họ cái gì, nên tìm họ đòi bồi thường tổn thất mới phải, đứa con trong bụng chị dâu cô ấy đã sáu tháng rồi!”
  
“Đàn bà mất đứa con có gì kỳ lạ đâu? Lão ta nói, mất rồi còn có thể mang thai đứa khác. Mặt mũi nhà lão mất sạch, đó mới là không tìm lại được. Hiện giờ lão vẫn đang làm ầm ĩ bên nhà Chongtsong, nói ngày mai vẫn không cho câu trả lời, thì trở về gọi các con trai đến dọn đồ!”

“Sao lại có loại người này nhỉ?” Chongtsong từng nói người đính hôn là quê tôi, nhưng tôi thật tình không nghĩ ra gia trưởng nào ở quê lại không nói đạo lý như vậy. “Em đi xem xem!”            
  
“Đừng đi đừng đi, khuya thế này em đi làm gì? Hơn nữa cha Chongtsong hiện giờ vẫn nghi em có liên quan đến chuyện con gái ông ấy đào hôn đấy! Nếu em sang, nhỡ lão kia trút giận lên người em thì làm thế nào? Vả lại Jiumei ở đó, ông ấy là ông mai, chuyện này ông ấy sẽ xử lý ổn thỏa!”

Ngẫm lại lời Namgyal chẳng phải không có lý. Hai bên đều là người cùng làng, tôi giúp bên nào cũng không phải. Hơn nữa, Jiumei có tiếng khéo ăn nói, trong chu vi trăm dặm, nhà nào không có mối ông làm, áo ông may, bất kể chuyện lớn cỡ nào, chỉ cần ông ra mặt, dù sao cũng phải nể mặt chứ?
  
Quả nhiên, ngày hôm sau Namgyal trở về nói lão kia đã đi rồi. Bảo là thông qua dàn xếp của Jiumei, nhà Chongtsong trả lại tất cả đồ đính hôn, ngoài ra còn cho một con bò yak, năm mươi cân thanh khoa, chuyện này mới xem là qua đi.

Chị dâu Chongtsong lại vì thế sảy thai. Ở chỗ chúng tôi, phụ nữ sinh con bị xem là chuyện hết sức tự nhiên, không xem là chuyện to tát để xử lý. Rất nhiều phụ nữ hôm sau sinh, hôm trước còn xuống đồng làm việc.

Thế nhưng, tôi vẫn thương xót chị dâu cô, thấy chị cõng nước, nhấc đến mấy lần cũng nhấc không lên, bèn bước đến giúp chị cõng nước về. Buổi chiều nhổ cỏ, liền nhổ thêm một sọt đổ trong sân nhà cô, tôi đã hứa với Chongtsong sẽ giúp cô chăm sóc cha mẹ.
    
Xảy ra chuyện này, người làng đều ở sau lưng chỉ chỉ trỏ trỏ. Người nhà cô ra vào đều cúi gằm, nhất là cha cô, hình như đột nhiên già hơn mười tuổi, lưng cũng còng, tóc cũng bạc không ít! 

Mỗi lần nhìn thấy cha cô, tôi đều tránh trước. Tôi rất bứt rứt, vừa đồng tình Chongtsong, vừa tội nghiệp cha cô. Gia trưởng ở chỗ chúng tôi là người đàn ông kiêu ngạo dường nào, lại vì con gái đào hôn, biến thành quái vật trong mắt người làng, đi đến đâu đều có ánh mắt khác thường soi mói, đều có người ở sau lưng xầm xì bàn tán không ngớt! 

(Dorje Zhoigar)

25.12.13

Hôn nhân Tây Tạng (6)



Hảo Hảo:
  
Tôi đến Lhasa tìm vui, niềm vui lại cách tôi xa lắc xa lơ. Lòng này làm sao ở yên? Theo Trác Nhất Hàng, chẳng cam lòng, vô vọng khổ sở chờ đợi người đàn ông như gió không thể nắm bắt ấy, nơi nào có tận cùng? Nếu gió không muốn ngừng, mây cũng chẳng làm gì được gió! Hồi lâu, nghe thấy có người gõ cửa. Lau nước mắt, vừa ra mở hé cửa, người kia liền cuốn vào, một mùi mồ hôi kèm dầu bơ quen thuộc, thậm chí chưa kịp nhìn rõ, đã bị anh ôm vào lòng. Yến Tử Yến Tử, em đã đi đâu thế? Anh tìm em mỗi ngày, đã tìm năm ngày rồi!

Còn lời nào có thể an ủi trái tim phụ nữ hơn lời này, còn ánh mắt nào lay động tình cảm phụ nữ hơn ánh mắt này? Khoảnh khắc anh ôm tôi vào lòng, tất cả thương cảm tan thành mây khói. Gyatso Gyatso, anh xấu xa này, vì sao còn phải trở lại? Vì sao còn phải tìm em?
  
Yến Tử, anh nhớ em, nhớ em không kìm nén nổi. Yến Tử, em sẽ là của anh đúng không? Chỉ là người phụ nữ của một mình anh đúng không? Anh không muốn chia sẻ, anh muốn em hoàn hoàn toàn toàn thuộc về anh! Yến Tử à… Em có biết anh nhớ em rất nhiều không? Anh ném tôi lên giường, áo trên chưa cởi, đã gấp không đợi được chen vào thân thể tôi, cuồng loạn muốn tôi như gió cuốn mây tàn.

Gã tồi anh là gã tồi. Tôi vừa khóc vừa cười nghênh đón anh, cắn mạnh dái tai anh, cắn môi anh, sau đó lại vuốt ve. Thân thể mềm nhũn như mây trắng trên bầu trời Lhasa, chớp mắt ảo hóa thành sương mù, theo gió tản đi.

Tôi không nghĩ đến Trác Nhất Hàng nữa, không nghĩ chuyện gả chồng nữa. Cứ dính vào thế này chăng? Cứ sống thế này chăng? Ngày tháng sắp tới ai biết được? Ngày mai, có lẽ tôi đã chết, có lẽ đã xấu xí, đã tàn phế, hôm nay, cứ để tôi an hưởng niềm vui này vậy.

Gyatso vẫn u uất như thế, anh đột nhiên trở về, giống như một người sắp chết tóm được cọng rơm, dục vọng muốn sống che lấp tất cả. Tôi chính là cọng rơm của anh, có lẽ, anh đang lo lắng vì tôi? Lo tôi không thể theo anh trọn đời trọn kiếp. Do đó, muốn tôi bất kể ngày đêm, đòi yêu mọi lúc mọi nơi. Trên mỗi tấc nền xi măng của căn phòng nhỏ, trên mỗi món đồ dùng trong nhà, đều để lại vết tích hoan hảo của chúng tôi.
  
Đôi khi, quả thực có người cần trùng thảo hoặc thổ sản khác, Gyatso trì hoãn không được, vạn bất đắc dĩ mới rời tôi một lát, vừa làm xong việc lập tức trở về, kè kè bên tôi, tỉ mỉ đếm lông mày tôi, đếm lông mi tôi, đếm mãi đếm mãi rồi hỏi Yến Tử em sẽ không rời xa anh chứ Yến Tử em sẽ không tốt với người đàn ông khác chứ?

Tôi cứ cười anh là tuổi cọp, cọp hoang.

Anh hỏi vì sao?

Tôi nói cọp đực hoang dã đến một chỗ mới, thì tè một bãi, sau đó gầm một tiếng dài, biểu thị địa bàn này là của mình, cọp khác không vào nữa. Đàn ông các anh chẳng phải đều như thế sao?

Anh cười nói chính thế chính thế, đàn bà chính là địa bàn của tụi anh, địa bàn này chỉ có thể có anh. Khi nói như thế tay anh cũng bắt đầu chẳng chút quy củ, thò vào trong áo lót của tôi sờ nắn trên dưới. Mỗi lúc di động liền nói đây là của ta, sau đó bất kể tôi đồng ý hay không liền cởi cúc quần tôi, cưỡng chế đi vào thân thể tôi, tung hoành ngang dọc, cười đắc ý.

Anh chính là một gã đàn ông như thế, là giặc cướp. Chẳng nói logic, chẳng theo quy tắc, muốn thế nào thì thế nấy, trắng trợn không kiêng nể bá chiếm thân thể tôi, chinh phục tôi.
  
Trác Nhất Hàng vẫn cứ gọi điện thoại, tôi không dám nhận, sợ anh hỏi tôi đang ở đâu, sợ anh nói đến gặp tôi. Tôi là một cô nàng luôn không thể tự chủ làm cuộc sống của mình rối tung. Nhất Hàng thấy tôi không nhận điện thoại, bèn tin nhắn này tiếp tin nhắn kia oanh tạc tôi. Nói đến đi, anh chờ em ở nhà, chúng ta đi mua đồ ăn. Sữa tắm em mua rất thơm, tối nay đến dùng nhé. Anh đã mua áo ngủ cho em, màu hồng phấn, như da em, vân vân... Lời lẽ ám muội mà lại triền miên, tôi cứ chưa xem hết đã xóa.

Rồi một hôm, Gyatso gửi tin nhắn nói Yến Tử, anh phải đi mấy ngày, có việc. Chẳng có lấy một lý do liền bặt tăm, điện thoại di động gọi không thông nữa. Tôi không cam tâm anh lại mất tích như vậy, tìm anh khắp phố lớn, hỏi thăm khắp nơi có ai từng thấy Gyatso không. Đã gặp vô số anh chàng Gyatso, đều là những khuôn mặt xa lạ, không có người tôi tìm. Bất lực ngồi ở cửa chùa Jokhang, ôm mặt lặng lẽ rơi lệ. Anh đi rồi, anh không cần tôi nữa, tôi bị người ta bỏ rơi rồi, một lần nữa bị người ta bỏ rơi rồi.
  
Chẳng muốn nán lại trong căn phòng nhỏ, không có Gyatso, căn phòng lạnh lẽo thấu xương.
Xách hành lý, trả phòng, đến tìm Liên. Nói với Liên tớ chẳng có chỗ nào để đi nữa, cậu có thể giết tớ không?

Cô lườm tôi, nói nha đầu chết tiệt cậu lập sẵn di chúc trước, sau khi chết tất cả tài sản thuộc về tớ.

Liên, tớ tội nghiệp lắm, cậu không thu nhận tớ sao?

Liên đón lấy ba lô của tôi, lôi y phục lộn xộn bát nháo ra xếp gọn gàng, sau đó tìm một cái tủ trống bỏ vào từng món, lại đưa cho tôi một hộp sữa.

Liên, tớ yêu cậu lắm, dù tớ chẳng yêu ai, tớ cũng yêu cậu. Ôm lấy cô, thơm một cái trên mặt cô.

Nếu cậu còn quậy nữa, tớ sẽ đuổi cậu ra đó. Cô cười dí dỏm, nói ngủ thật ngon một lát đi, trông mắt gấu mèo của cậu kìa.
    
Liên, kiếp trước cậu nhất định đã nợ tớ, kiếp này ông trời phạt cậu đến thu nhận tớ. Thay áo ngủ bông của Liên đưa cho, chui vào trong chiếc chăn to sụ, chẳng mấy chốc đã ngủ thiếp đi.

Khi tỉnh lại đã là ngày hôm sau, nóng vội mở tin nhắn điện thoại. Ngoài Trác Nhất Hàng, không có ai khác.

Gyatso Gyatso, gặp gỡ anh là sai lầm của em, nhớ nhung anh khiến em đã sai càng sai.

Liên chẳng hỏi tôi gì cả, thời gian làm việc nghỉ ngơi của cô không hề vì tôi đến mà thay đổi mảy may. Đúng bảy giờ thức dậy, ngồi thiền một tiếng, yoga một tiếng. Sau đó ăn sáng. Nước lọc với bánh mì hoặc cháo yến mạch với bánh gatô hay sữa với bánh bao. Buổi sáng xem sách, buổi trưa ăn chút ít ở nhà trọ, người ta nấu gì cô ăn nấy, không bao giờ kén cá chọn canh; ngủ trưa một tiếng, buổi chiều ra ngoài đi dạo, đem theo máy ảnh chụp những người đi kora hoặc chụp mây. Buổi tối đúng mười giờ đi ngủ.  
  
Liên, cậu từng yêu chứ? Tôi đứng bên cửa, ngắm Liên yên tịnh lau máy ảnh trên ban công, hỏi.

Từng yêu. Cô chẳng ngẩng đầu lên.

Thế sao cậu yên tịnh như vậy?

Từng yêu thì không thể yên tịnh sao? Cô ngẩng đầu, mỉm cười. Dáng vẻ ấy, như một gốc lan thầm nở trong khe sâu.

Yêu chẳng phải oanh oanh liệt liệt hay sao?

Yêu có rất nhiều phương thức bày tỏ, oanh oanh liệt liệt chỉ là một kiểu. Cô nói.

Liên, cậu có từng nghĩ đi tu không? Hoặc là lánh đời?

Không. Thế giới hiện giờ rất tốt đẹp, tớ thích, vì sao phải lánh đời? Cô không nhìn tôi nữa, lắp ống kính vào máy ảnh, ngắm tới ngắm lui áng mây trên trời.

Trước giờ chưa xem hình Liên chụp, nhưng dường như cô rất thích máy ảnh, rảnh rỗi liền săm soi những món đồ ấy. Tôi không hiểu về máy ảnh, nhưng cũng biết ống kính lớn lớn nhỏ nhỏ trong tay Liên là loại chuyên nghiệp. Một người phụ nữ, cả ngày vác mấy cục sắt ấy đi loanh quanh, mệt chết được. Phụ nữ là để được chụp, không phải chụp người khác. Liên… là một dị nhân.

Bên ngoài trời mưa nhỏ, Liên đóng cửa sổ ban công, lẩm bẩm: Mùa mưa năm nay hình như đến sớm!
  
Lhasa là một nơi kỳ lạ, mùa đông không rơi một giọt mưa, mùa hè lại mưa không ngớt. Mỗi đêm bên ngoài đều rào rào mưa không ngừng, ngày hôm sau khi ra cửa lại muôn dặm trời quang. Liên nói như vậy rất tốt, khi chụp hình độ trong suốt của không khí rất cao, lớp lang sẽ rất rõ ràng. Tôi chả hiểu lớp lang gì, chỉ biết ban đêm trời mưa, nghe tiếng mưa tôi sẽ ngủ đặc biệt yên ổn.
     
Trong sự bảo hộ dịu dàng của Liên tôi tựa hồ đã lắng dịu xuống, ngực không âm ỉ đau nữa. Liên nói cô phải bắt đầu làm việc, đến trung tâm yoga lên lớp cho người ta. Cô còn bảo thị trường yoga của Lhasa mới bắt đầu, rất thiếu giáo viên, Hảo Hảo, hay cậu cũng luyện yoga nhé?

Xí, tớ luyện yoga? Động tác chậm rì rì sẽ làm tớ buồn chết. Tôi nói, trở người.

Cậu đó, rồi có một ngày cũng sẽ yên tịnh. Cô nhìn tôi, thay một bộ áo vải màu trắng của Nepal.
    
Bắt đầu khôi phục cuộc sống trước đây, lê la hết quán bar này đến quán bar khác. Chào hỏi với những “Tạng phiêu” quen biết không quen biết, cùng chơi trò giết người, cùng chơi trò nói thật. Anh Sói, đã có ba năm Tạng phiêu, kể với mọi người anh đã nhặt tôi ở cửa chùa Jokhang. Nói lúc đó tôi mất hồn đến mức giống như đứa bé xin cơm trên phố Barkhor, nhìn ai cũng đờ đẫn như khúc gỗ. Anh bảo anh vốn dĩ cho rằng sẽ có một cuộc gặp gỡ diễm tình, kết quả lại đụng phải quỷ, vẫy cũng vẫy không thoát. Nói xong còn gào lớn ai muốn người đẹp? Muốn người đẹp này tặng kèm mười đồng đại dương và hai chai bia Lhasa, sau đó cả đám “Tạng phiêu” không phân nam nữ đều hô to “Tôi muốn tôi muốn.”

Bất kể ban ngày ban đêm, chúng tôi cùng sống trà trộn. Ăn cơm AA (mạnh ai nấy trả), uống trà AA, ở hostel cũng AA, đi cả bọn, về cả bọn. Chúng tôi là một đám trẻ không có lý tưởng không có mục đích không nghĩ ngày mai không nghĩ tương lai nhưng vui vẻ, để mỗi ngày đều trải qua đặc sắc như ý. Tuổi tác khác nhau tính cách khác nhau, vì hai chữ “Tây Tạng” đến với nhau, hẹn nhau tìm kiếm đặc sắc, chia sẻ bí mật lẫn nhau. Quán trà Cách Mạng và quán trà Quang Minh là nơi chúng tôi thường lui tới, một ấm trà ngọt, năm sáu người có thể uống một buổi chiều. Thời gian ăn tối, chúng tôi có thể ngồi ở một quán bar nhỏ do “Tạng phiêu” nào đó mở, rẻ mà có tình điệu hoài cựu, nhâm nhi chút rượu luôn tiện giải quyết bữa tối, lúc đêm khuya người vắng ôm nhau, hát khúc ca không thành điệu, bước chân loạng choạng trở về nơi ở.

Tôi khoa trương cười, khoa trương nói chuyện, khoa trương cùng người cợt nhả chòng ghẹo. Tôi muốn quên Gyatso, quên những ngày ngày đêm đêm viển vông ấy, quên hình hài phóng đãng của những ngày ấy.
  
Liên từng cùng tôi đi chơi một lần, chưa ngồi đến hai mươi phút đã về. Cô nói cô không quen cuộc sống như vậy nữa.

Lẽ nào cô cũng từng sống cuộc sống như vậy sao? Ngắm bóng lưng của Liên thầm nghĩ. Vừa quay người, lại thấy những người khác cũng ngẩn ngơ, bèn huơ huơ tay ở giữa. Tỉnh lại nào, tiên nữ đi mất rồi.

Mẹ ơi, Hảo Hảo, cô ấy là ai thế? Anh Sói há hốc mồm, nói một cách khoa trương. Nếu cô ấy nán thêm một lát, nhất định bệnh tim của anh phát tác.

Cô ấy à, đến từ trên trời. Tôi cười.

Thảo nào không hưởng khói lửa nhân gian. Một em mũm mĩm cầm ly nước lọc Liên mới uống, cố ý ngửi một cái, hô lớn ly nước tiên đấy.

Những người khác bèn cười ồ lên.

(Dorje Zhoigar)

15.12.13

Từng là người ngắm hoa xuân này


Đài Bắc có một gốc cây, tên là ngư mộc, từ Nam Mỹ chuyển đến, to lớn hoành tráng, cao cỡ bốn tầng lầu, cuối xuân nở đầy hoa trắng. Cây này trồng thời Nhật chiếm cứ, tính ra cũng tám chín mươi tuổi rồi.

Tháng tư năm nay thời kỳ nở hoa lại đến, tôi theo lệ đi thăm nó. Hôm ấy trời mưa, tôi không mang ô, nghĩ bụng cũng tốt, trong mưa nhỏ mịt mùng ngắm hoa và cùng dầm mưa với hoa, hẳn có thú vị riêng. Cây hoa ở trong hẻm của phố Tân Sinh Nam, cả Đài Bắc chỉ có một cây này.

Có một cô gái từ đối diện đi đến, thấy tôi ngắm hoa trong mưa, đột nhiên đưa chiếc ô nhỏ trong tay cho tôi, nói: “Cô ơi, ô này cho cô. Em, sắp đến nhà rồi.”

Tuy cô gọi tôi là cô giáo, nhưng tôi xác định cô không phải là học sinh của tôi. Phản ứng đầu tiên của tôi là từ chối, vốn không quen biết, dựa vào đâu cầm ô của người ta?

“Không cần, không cần, mưa này nhỏ mà.” Tôi nói.

“Không sao, không sao, cô ạ, nhà em thật sự sắp đến rồi.” Cô nói lớn tiếng hơn thiết tha hơn, tỏ vẻ có lý do chính đáng nên nói chuyện cũng có khí thế.

Tôi bỗng cảm thấy, mình hình như nhất định phải nhận chiếc ô này, cô gái này hiền lành cố chấp như thế, từ chối cô quả là gần như có tội. Hơn nữa, cô tặng ô cho tôi, sau lưng có lẽ có một nỗi lòng kín đáo nhỏ bé:

Cây ngư mộc duy nhất của cả Đài Bắc này, nở hoa tưng bừng, thời kỳ nở hoa ước chừng ba tuần, bình quân mỗi ngày có hơn một ngàn người đến ngắm. Người ngắm hoặc ngẩng đầu, hoặc ra sức bấm nút chụp hình, hoặc quanh quẩn đi tới đi lui, còn những cặp tình nhân hoặc cha mẹ con cái thì chỉ chỉ trỏ trỏ, dịu dàng thì thầm, vừa ngắm hoa, vừa ngắm nhau. Nói chung, sau vài phút, những khách ngắm hoa vội vã khẽ thở dài, lần lượt rời khỏi trong vui vẻ và buồn rầu. Mà thành phố Đài Bắc có dân số bốn triệu, mỗi năm số người đến ngắm hoa tuy nhiều, cũng chỉ hai ba mươi nghìn, tính ra, người đến ngắm hoa ắt là số ít người si tâm.

Trong ngõ hẻm, dưới cây hoa, người si tâm gặp người si tâm, có lẽ đôi bên đều có một niềm trân trọng. Cô gái tặng ô có lẽ kính trọng tôi, có lẽ thương tiếc tôi, nhưng trong đó có một tình cảm, cô không nói ra miệng, thiết nghĩ chắc cô luôn rất yêu thích cây hoa này, do đó cũng nhân tiện yêu cả tôi si mê đứng ngắm hoa trong mưa.

Chúng tôi đều là khách qua đường dưới hoa, đều chấn động cúi đầu vì một cây hoa đẹp đẽ thơm ngát, “nơi gió mưa sánh vai, từng là người ngắm hoa xuân này.”

Hôm đó mưa càng rơi càng lớn, vì tôi có ô, cảm thấy nhất định phải đứng thêm một lúc, mới không có lỗi với người tặng ô. Cánh hoa rơi lả tả, hương thơm thoang thoảng, chúng tôi đều là người ngắm hoa kinh ngạc trước cái đẹp đứng dưới cùng một gốc cây lớn, trong cùng một ngày xuân. Tôi nghĩ, tôi còn có thể đứng thêm lúc nữa.


(Trương Hiểu Phong)

12.12.13

Hôn nhân Tây Tạng (5)



Zhoigar:

Tháng sáu, đối với người sống trong núi sâu như chúng tôi, là mùa vui vẻ. Trùng thảo trên núi đã đến lúc thu hoạch, nam nữ già trẻ đều ăn mặc gọn gàng lên núi, dăm ba ngày xuống núi, ai nấy mày giãn mắt cười. Tôi thích những ngày ở trên núi, đó là kỳ nghỉ hiếm có trong năm, thoát khỏi tầm mắt cha mẹ, không lo không buồn.

Đáng tiếc, mùa này năm nay, tôi chỉ có thể ru rú ở nhà, ở trong ngôi nhà xa lạ, xem người xa lạ đếm trùng thảo.
  
Gyatso chồng tôi buôn bán ở Lhasa, anh buôn trùng thảo và lông cừu ở quê lên Lhasa, bán cho các thương nhân ven biển. Cha chồng từng ít nhiều có chút tự hào nói với tôi, trong mấy ngọn núi lớn xung quanh, trùng thảo đều sinh trưởng vì Gyatso. Mỗi ngày chạng vạng tối, người xuống núi sẽ đến tìm Gyatso, sau đó hai người ngồi xổm ở giếng trời, người kia từ trong mình móc ra một túi nylon, cực kỳ đắc ý mở ra, đổ ra nền đất trùng thảo còn dính đất bùn, ướt nhèm nhẹp, nói tiếng: “Nhiêu đây thôi”. Sau đó lại từ tốn từ trong mình móc ra một lọ thuốc hít bằng sừng trâu, đổ một chút bột trên móng tay, đưa gần mũi, chầm chậm hít một hơi, hắt xì một cái rõ dài, dễ chịu nhắm mắt lại, trước mắt liền bay lượn những tờ giấy bạc màu sắc rực rỡ. Gyatso thì lật qua lật lại trùng thảo, chia ra lớn nhỏ, theo phẩm cấp chia giá cả trả tiền.

Giao dịch dạng này không cần ra giá trả giá, đều là bà con hàng xóm, giá trùng thảo mỗi người trong lòng sớm đều biết rõ, ai cũng không thể gạt ai.
    
Trùng thảo năm nay so với năm ngoái lại mắc đến mấy đồng, tôi không biết đây là chuyện tốt hay là chuyện xấu. Dawa chị cả của Gyatso cười tôi, nói sao lại không phải là chuyện tốt chứ, trùng thảo mắc lên, thu nhập chúng ta sẽ cao. Nhưng trước đây tôi nghe bà nội nói qua, việc khai thác trùng thảo hiện nay của chúng tôi đã quá mức, trùng thảo mỗi năm một ít, cứ tiếp tục đào thế này, cuối cùng có một ngày sẽ đào hết. Vừa nghĩ đến những ngọn núi lớn xung quanh một ngày nào đó không còn mọc ra trùng thảo nữa, lòng tôi liền có chút bứt rứt. Luôn cảm thấy trùng thảo là vật linh thiên nhiên ban cho chúng tôi, nếu vì chúng tôi không trân trọng mà khiến nó tuyệt chủng, Phật tổ phải chăng sẽ trừng phạt chúng tôi! Khi tôi và Dawa ngồi trên bãi cỏ trước cửa lúc mặt trời chiều lặn về tây, nhìn thấy mấy anh chàng trẻ tuổi tới tìm Gyatso, tôi không khỏi lo ngại nói ra ý nghĩ của mình. Dawa cười tôi lo việc không đâu, chuyện xa xôi như thế, chẳng phải là chuyện đàn bà con gái chúng tôi suy nghĩ.
  
Tiếp theo chúng tôi nói đến các em trai của chị, chị ngắm tôi, nói với vẻ trêu chọc: “Tashi nói, trên người em bị Gyatso cắn rất nhiều vết thương?”

“Anh ấy nói bậy!” Tôi xì chị một tiếng, mặt đỏ bừng. Tôi thích Dawa. Chị rất xinh đẹp, thân hình thon thả, da trắng nõn, ngũ quan thanh tú, rất giống mẹ Gyatso. Dawa không thích nói chuyện, lúc nào thấy chị cũng yên lặng, chỉ biết không ngừng làm việc, điểm này cũng rất giống mẹ Gyatso. Có lẽ kiếp trước có duyên, chúng tôi vừa gặp mặt, đôi bên đều cảm thấy quen thuộc, rất nhanh đã thân mật với nhau.

“Không có ư?” Chị cố ý kéo vạt áo tôi, thò đầu qua, dọa đến nỗi tôi lật đật gạt tay chị ra.

“Chị còn giống bộ dạng một người chị không?” Tôi khép chặt vạt áo, liếc chị. Thật kỳ lạ, người phụ nữ này thường ngày yên lặng, chỉ cần ở chung với tôi, liền hiếu kỳ như một cô gái nhỏ, ríu ra ríu rít không ngừng.

“Nói như vậy em nhận người chị này rồi?” Chị cười đắc ý, nụ cười ấy, khiến trong lòng tôi giống như có con sâu róm đang bò. “Em thích các em trai của chị rồi? Động lòng rồi? Là Gyatso hay là Tashi?”  

“Xùy xùy xùy, cái chị này, chẳng có câu nào đứng đắn. Trông chị thường ngày chỉ biết vùi đầu làm việc, nửa ngày chả nói một câu, sao lúc này không ngậm miệng lại được vậy?”

“Em thích Gyatso hẳn? Đúng không? Nhìn em đỏ mặt kìa, y chang mặt trời!” Chị khom lưng nhìn tôi, cười hì hì.

Tôi đẩy đầu chị ra. “Còn nói bậy nữa, em sẽ không ngó ngàng đến chị!”
    
“Được được được, chị không nói nữa.” Chị ngồi thẳng người, hai đầu gối khép lại, cằm đặt trên đầu gối, nhìn mặt trời sắp lặn xuống núi, như có điều suy nghĩ. Mãi một hồi, chị mới mở miệng, nhưng lần này lại không có ý cười cợt. “Zhoigar, chị biết trong lòng em nghĩ gì. Chẳng qua, Gyatso không giống với Tashi, trong mấy anh chị em tụi chị, nó cổ quái nhất, thường đưa ra những cách nghĩ lạ lùng kỳ khôi, người ở nơi này, lòng lại ở nơi khác. Không giống Tashi, Tashi thật thà nhất, giống như bò yak, chỉ biết làm việc, người ở đâu, lòng ở đó. Khi biết các em đính hôn, chị rất lo cho Gyatso, sợ nó không bằng lòng đám cưới, nó luôn nói phải đến chùa sống, nó nói nó không thích ứng cách sống này của chúng ta, nói cuộc sống một đời lặp lại một đời như vậy sớm nên thay đổi.”

“Là ý gì? Cách sống làm sao thay đổi?” Điều này lại là mới lạ, tôi vẫn lần đầu tiên nghe nói.

“Chị cũng không rõ. Gyatso đã nói, hôn nhân nên để con cái tự làm chủ, cha mẹ không nên can thiệp. Còn nói cha mẹ không thể đưa con nhỏ đến chùa, mà nên đợi sau khi khôn lớn, hỏi con đồng ý mới được. Nói chung cách nghĩ kỳ kỳ lạ lạ. Em bảo chuyện gì cũng để chúng ta làm chủ, cha mẹ chúng ta làm gì?”

“Anh ấy nghĩ như vậy ư? Thật có chút kỳ lạ!” Tôi cũng tựa cằm lên đầu gối. Nghĩ đến Gyatso, người đàn ông cao lớn ấy, ở đâu có nhiều cách nghĩ như thế? Còn hôn nhân tự mình làm chủ? Có thể sao? Đều là chúng tôi tự làm chủ, cha không tức chết mới lạ đó! Tuy nhiên, nếu tự mình làm chủ, tôi có chọn gả sang đây không? Nghĩ chắc là không thể. Lúc ấy chẳng quen biết họ, tôi làm sao chọn gả cho họ chứ. Gả cho Rinchen chăng? Đó cũng là một anh trai có văn hóa, thông minh. Quen thân, hơn nữa anh cũng thích tôi...

“Nghĩ gì thế? Say sưa như vậy?” Dawa huơ tay trước mắt tôi, kéo suy nghĩ của tôi về. “Trước khi các em đám cưới chị vẫn lo lắng, hiện giờ xem ra các em rất tốt. Gyatso và Tashi đều rất thích em, thật mừng cho em. Em thông minh lại xinh đẹp, nhớ kỹ nhé, nhất định cột thật chặt các em trai, để người chúng ở trên người em, lòng cũng phải ở trên người em.”

Gyatso thích tôi sao? Tôi nhớ đến dáng anh cắm cúi nghịch điện thoại di động. Đám cưới đã năm ngày, ngoại trừ đêm đó đến lượt anh, điên cuồng dày vò thân thể tôi, gần như chẳng có trao đổi. Nhớ được lúc cực độ phấn khích, anh không ngừng gọi một từ mới mẻ “Yến Tử”. Đó là gì? Là tên mới anh đặt cho tôi? Hay là tên đặt cho thân thể tôi? “Chị ơi, chị có biết Yến Tử là gì không?”

“Yến Tử?” Dawa nghi hoặc nhìn tôi, không rõ lắc đầu. “Chưa nghe qua!”
 
Buổi hoàng hôn đó, hai chúng tôi ngồi trên bãi cỏ, trò chuyện câu được câu chăng, ngắm ánh nắng sót lại nhuộm đỏ mặt đất, sau đó từng chút một sụp tối.

Ngày hôm sau Dawa phải về. Nói là lúc ra đi những người chồng đang ầm ĩ đòi chia nhà, chị không yên tâm. Nhà Dawa ở bên hồ Yamdrok, nhà chồng hai anh em, một chị gái. Vì cha mẹ mất sớm, chị gái gánh trách nhiệm nuôi dạy em trai. Sau khi các em trai khôn lớn, chị gái cũng đã lớn tuổi, không gả chồng nữa, sống chung với các em trai. Trong gia đình như vậy, chị cả như mẹ.

Ở chỗ chúng tôi, cô gái giống chị ấy suốt đời không gả như vậy cũng rất nhiều. Vì trốn tránh hôn nhân không thể biết trước, chọn lựa đi tu làm ni cô hoặc suốt đời không gả sống chung với các anh em trai.
  
Điều kiện sống của nhà chồng Dawa không tốt, lúc sắp đi, cha mẹ chồng đã chuẩn bị cho chị rất nhiều đồ, cần có người đưa tiễn.

Cha chồng bảo để Namgyal đi tiễn. Namgyal là em trai thứ ba của Gyatso, sau khi tốt nghiệp cấp 2 làm công ở Lhasa luôn, không biết làm việc đồng áng. Cha mẹ không thích chú ấy lắm, nói chú ấy lười, chẳng làm chuyện gì.        

Không ngờ Namgyal một mực từ chối, chú ấy nói phải dự xong lễ cưới của anh trai mới ra về.

Gyatso đang nghịch điện thoại di động ngẩng đầu, nói: “Tôi đi.”

Tất cả mọi người đều không tin tròn mắt nhìn anh.

Người càng khó xử là tôi.

Lễ cưới mười ngày, mới qua năm ngày, người chồng là “gia trưởng” đã muốn rời khỏi?

“Chuyện làm ăn ở Lhasa có chút vấn đề, tôi phải về xử lý!” Gyatso không nhìn tôi, cũng không nhìn những người khác, giống như giải thích, lại giống như không phải.
  
“Anh, hay là em đi cho.”
Tashi nhìn tôi, nói.

“Em ở nhà đi.” Gyatso quay người vào phòng, chẳng mấy chốc liền xách túi đi ra. Quẳng hành lý của Dawa lên lưng, đi xuống dưới lầu.

Cha mẹ chồng hình như lúc này mới kịp phản ứng, gọi “Gyatso” gấp gáp đuổi xuống.

Dawa kéo tôi đang đờ ra như khúc gỗ đi theo. Ở cổng, chị ngăn các cụ lại, nói để tôi tiễn chị.

Cứ như vậy, Gyatso xách túi lớn túi nhỏ đi đằng trước, tôi và Dawa theo đằng sau. Ai cũng chẳng nói chuyện. Chỉ có Dawa chốc chốc siết tay tôi một cái, chị đang an ủi tôi. Nhưng lúc này, lại có an ủi nào có thể khiến lòng dạ cuộn dâng như sóng của tôi lắng dịu xuống!

Hai bên đường nhỏ, là thanh khoa liên miên không dứt, đã bắt đầu ngả vàng, rất nhanh sẽ bắt đầu gặt hái, đó là những ngày sục sôi ngất trời, mỗi nhà mỗi hộ đều trông mong!
     
Là con dâu mới, lần đầu tiên tôi xuất hiện trước mặt người làng. Người làm việc dưới ruộng đều dừng lại chào hỏi Gyatso và Dawa, ánh mắt lại không một ngoại lệ rơi trên người tôi.

Tôi cười, cười với mỗi người nhìn tôi, gật đầu chào hỏi. Dù lòng tôi tràn đầy tâm tư ly biệt thế nào, tôi chỉ có cười, khóe miệng cố gắng nhếch lên, nước mắt mới không rơi xuống!

Đoạn đường ấy có bao xa? Đoạn đường ấy đi bao khó? Đường nhỏ quanh co, dường như một thế kỷ!

Ở cửa núi Kangri, kinh phướn rợp trời kín đất, tươi đẹp như hôm qua, theo gió tung bay.

Tôi đứng trong đám kinh phướn, dừng bước, kinh phướn phất phơ vừa khéo che khuất mặt tôi. “Em tiễn đến đây thôi, hai người đi nhé!”

Dawa một lần nữa siết mạnh tay tôi, nói mấy câu chúng tôi đi rồi, em chú ý sức khỏe, chị sẽ bảo Gyatso mau chóng trở về, sau đó bước qua xách một chiếc túi, đá Gyatso một cái, giảu môi về phía tôi, đi lên phía trước.

Gyatso nhìn tôi, hơi khó xử. “Em trở về đi!”
      
 “Ừm…” Đây là lần đầu tiên anh nhìn thẳng tôi nói chuyện, nói là “Em trở về đi.” Tôi trở về đi? Về đâu? Về mái nhà không có anh kia ư?

Vào khoảnh khắc anh quay người, đột nhiên nói câu: “Xin lỗi!” Sau đó như trốn chạy vội vã bỏ đi!

Tôi đứng ở đó, đứng trong trận kinh phướn liền trời liền đất, nước mắt đột nhiên chảy xuống. Vào tháng sáu trăm hoa hé nhụy này, gió thổi kinh phướn kêu phần phật! 

Hóa ra, tháng sáu cũng có thể lạnh lẽo thấu xương như thế!

Lễ Ongkar là ngày lễ chúng tôi chúc mừng được mùa, trừ Tết theo lịch Tạng, thì kể ra lễ Ongkar là tưng bừng nhất. “Ong” trong tiếng Tạng là “ruộng đất”, “kar” là ý “đi vòng quanh”. Lễ Ongkar chính là “đi vòng quanh đầu bờ ruộng”.

Đây là một ngày lễ truyền thống, có khi so với năm mới của chúng tôi còn náo nhiệt hơn. Nghe người già nói, lễ Ongkar ở Tây Tạng đã có lịch sử hơn 1600 năm, khi chính quyền Thổ Phồn thành lập ở thung lũng sông Yarlung đã có ngày lễ này. Sớm vào thế kỷ thứ 5 công nguyên, tức thời kỳ Pu-de gung-rgyal chấp chính, vùng đất Yarlung đã bắt đầu đào kênh mương, dùng cày gỗ cày ruộng, sản xuất nông nghiệp tương đối phát triển. Để đảm bảo chắc chắn lương thực bội thu, tán phổ Pu-de gung-rgyal bèn thỉnh cầu giáo chủ đạo Bon ban cho pháp bảo, giáo chủ căn cứ giáo lý đạo Bon, dạy nông dân đi vòng quanh ruộng, cầu trời bảo hộ được mùa, đây chính là “Ongkar”. “Ongkar” ban đầu, là một hoạt động cúng tế trước khi bắt đầu gặt hái, lưu truyền đến nay, “Ongkar” đã trở thành một ngày lễ long trọng. Ngày lễ này thuộc về mùa hè, thuộc về vui vẻ. Dịp lễ, dù người đi bao xa, đều phải trở về quê nhà, cùng người thân ăn mừng năm được mùa, cầu mong mưa thuận gió hòa, được mùa ngũ cốc.

Thời gian của lễ Ongkar không cố định, các làng tự sắp xếp dựa vào tình hình hoa màu sinh trưởng trong vùng, thông thường mười ngày đến nửa tháng. Ăn xong lễ Ongkar, là sắp bắt đầu vụ thu hoạch và gieo trồng mùa thu khẩn trương, do đó, “Ongkar” cũng là khoảng quá độ vui vẻ từ nông nhàn đến thu hoạch vụ thu.

Địa phương nhà chồng thuộc về khu nửa trồng trọt nửa chăn nuôi. Người làng khai khẩn chút ít đất đai, trồng một số cây nông nghiệp như thanh khoa, cải dầu, đậu Hòa Lan, tiểu mạch, những hoa màu này thiếu hụt không đáp ứng đủ nhu cầu của cả nhà, cuộc sống chủ yếu vẫn dựa vào chăn thả để duy trì. Lễ Ongkar tuy nói là ngày lễ của khu trồng trọt, nhưng chẳng biết bắt đầu từ năm nào, người khu chăn nuôi cũng bắt đầu ăn lễ. Đây là một ngày lễ vui vẻ, không phải sao? Ai lại có thể từ chối vui vẻ chứ? Nghe nói người thành phố hiện nay cũng ăn cả lễ của người nước ngoài kia mà!
        
Tôi đã từ từ quen nhà mới, quen với ngày tháng Zhoigar làm vợ nên trải qua, trở thành người mỗi ngày dậy sớm nhất, ngủ muộn nhất của gia đình này, hầu hạ cha mẹ chồng, hầu hạ người đàn ông của mình, chăm sóc em trai em gái, trông nom tất cả gia súc trong nhà, giống như một bà chủ thật sự, bắt đầu cuộc sống mới của tôi.

Gyatso không mau chóng trở về như Dawa nói. Từ sau khi đi, anh gần như chẳng có tin tức, không gọi điện thoại về làng, cũng không tìm người mang tin nhắn về, dường như đã quên cái nhà này, quên anh vừa đám cưới, cô vợ mới còn ở nhà ngày đêm chờ anh trở về. Trước lễ Ongkar, cha chồng đi Lhasa một chuyến, khi đi cố ý ở trước mặt tôi nói với mẹ chồng phải đưa Gyatso về. Ban đầu trong lòng tôi còn thầm vui mừng, tính toán ngày họ trở về. Đương nhiên, niềm vui này không thể để Tashi nhìn ra, anh cũng là chồng tôi, đối với tôi rất tốt, rất săn sóc, tôi không có bất cứ lý do gì làm anh buồn lòng. Hơn nữa, tôi đã gả cho người ta, thì phải để hai anh em chung sống hòa thuận, cùng sống cuộc sống thật tốt. Đối với gia đình dạng này của chúng tôi, cùng sống cuộc sống thật tốt mới là quan trọng nhất. Tôi bận rộn suốt, trong nhà ngoài nhà thu dọn sạch sẽ, không muốn để Gyatso trở về nhìn thấy nhà cửa bừa bộn. Trước khi lễ Ongkar bắt đầu, tôi còn phải chuẩn bị sẵn đủ cỏ cho bò bệnh và bò con không lên núi được.

Tôi cứ bận rộn như vậy, gánh hết công việc thường ngày mẹ chồng làm. Tôi nghĩ thế này: Mẹ chồng đã vất vả mấy chục năm, sau khi có con dâu, nên để bà cụ nghỉ ngơi thật tốt. Những việc như xe chỉ, pha trà, tôi không giành với mẹ, những việc này tương đối nhẹ, để mẹ từ từ làm, cũng xem là an ủi, không đến nỗi khiến mẹ trong lòng áy náy. Mẹ chồng thật lòng yêu thích tôi, từ trong ánh mắt mẹ nhìn ra được. Mỗi khi mẹ nhìn tôi, niềm yêu thương lộ ra trong mắt, luôn khiến tôi nhớ đến mẹ đẻ. Sau khi đám cưới tôi vẫn chưa về, cũng không biết mẹ thế nào, mỗi khi mẹ chồng dùng đôi tay đầy nếp nhăn giúp tôi vuốt tóc, tôi phảng phất cảm thấy như mẹ ở bên mình. Tashi từng nói đợi rỗi một chút sẽ đưa tôi về. Đối với chuyện này, tôi ngoài mặt không nói gì, trong lòng lại có cách nhìn riêng. Cô dâu mới lần đầu tiên về nhà mẹ, nên là Gyatso anh cả đưa tôi về, chứ không phải anh hai Tashi. Nếu tôi về với Tashi, sẽ đối mặt với những ánh mắt thắc mắc trong làng ra sao, đi qua cổng nhà những người hiếu kỳ ấy thế nào? Có thể tưởng tượng, sau một lần ấy, tôi và người nhà tôi sẽ trở thành đối tượng người làng bàn tán lúc trà dư tửu hậu ra sao. Người cha kiêu ngạo của tôi sẽ không lấy việc con gái gả cho một người đàn ông tốt làm vinh dự nữa, đàn ông tốt đến đâu, nếu không thích con gái cha, điều đó so với tát vào mặt cha còn khó chịu hơn, vì cha một mình làm chủ tác thành chuyện cưới gả xem như mỹ mãn này. Còn mẹ tôi, không cần nghĩ, sẽ rửa mặt bằng nước mắt, vì con gái duy nhất của mẹ đêm đêm rơi lệ không ngừng. Do đó, tôi không thể để Tashi theo tôi về, dù tôi rất nhớ cha mẹ, hiện giờ cũng không thể về!

Những ý nghĩ này trong lòng tôi, nghĩ chắc cha mẹ chồng biết tỏng. Nếu không, cha chồng sẽ không nôn nóng đi Lhasa như thế.

Sau khi cha chồng đi Lhasa, em ba Namgyal đã gia nhập gia đình nhỏ của chúng tôi. Đây chỉ chẳng qua là chuyện sớm muộn. Nhớ ngày thứ hai đám cưới, Namgyal chạm trán tôi ở hành lang, liền trợn tròn mắt, mãi đến khi tôi lấy xong đồ quay về, chú ấy vẫn ngẩn người ra ở đấy. Sau đó tôi nghe Tashi kể, cha chồng vốn dự định để ba người con trai đồng thời cưới tôi, đêm trước đám cưới, Namgyal đột nhiên nói chú ấy không bằng lòng, chú ấy phải đám cưới ở Lhasa, tự mình tổ chức gia đình, không muốn sống ở khu chăn nuôi. Ở chỗ chúng tôi, anh em chung vợ là hình thức gia đình rất bình thường, trách nhiệm tiếp tục giúp gia tộc phát triển là của anh cả, các con trai khác so ra trách nhiệm nhẹ hơn nhiều, cha mẹ sẽ không ép họ cùng tổ chức thành gia đình với anh cả. Do đó Namgyal nói phải một mình lập gia đình, cha chồng không hề miễn cưỡng. Khi đêm đó cửa phòng xuất hiện giày của Namgyal, tôi không ngạc nhiên chút nào, giống như tiếp nhận Tashi, đã tiếp nhận Namgyal trở thành người chồng thứ ba của tôi.

Tashi, Namgyal và tôi chung sống, họ cũng tuân thủ quy củ ước định mà thành, mỗi người một đêm, thay phiên ở với tôi.

Hôm cha chồng từ Lhasa trở về, tôi đang đuổi bò yak từ trên sườn núi về nhà. Xa xa nhìn thấy cha chồng một mình đi trên đường núi, bước chân vội vã, lòng đột nhiên lạnh ngắt. Gyatso cố ý, anh biết rõ lễ Ongkar tôi phải về nhà mẹ, biết rõ nên là anh đưa tôi về nhà mẹ. Thế nhưng, anh không về, cố ý để tôi khó xử. Vì sao phải đối với tôi như vậy? Tôi đã chọc giận anh chỗ nào, những đêm lúc đám cưới ấy, khi đến lượt anh, anh lần nào chẳng thỏa thích dày vò trên người tôi? Tôi không đủ dịu dàng ư? Đối với anh không đủ tốt ư? Không thỏa mãn anh ư? Tự hỏi những điều này đều không phải. Thế thì, tôi không đủ hiền thục ư? Không hiếu thảo cha mẹ ư? Để anh em anh không đoàn kết ư? Những điều này cũng chắc không phải, hơn nữa, nết hiền thục, hiếu thảo của tôi, anh còn chưa nhìn thấy đã đi rồi.

Tôi cười, một dòng lệ mặn chảy vào khóe miệng, tôi cuồng loạn vung roi truy đuổi bò cừu.

Mặt trời lặn xuống rồi.
Mặt trăng leo lên rồi.
Khung dệt vải của mẹ dừng rồi.
Rượu thanh khoa của cha thơm rồi.
Em gái và bò cừu của em,
Giẫm mây trắng về nhà rồi…

Lâu lắm không hát, giọng hơi khàn. Hát mãi hát mãi liền thả lỏng, tiếng hát lanh lảnh bay qua làng xóm, bay qua đồng nội, khiến tất cả mọi người đều dừng bước, quay đầu về hướng tiếng hát.
  
Tôi càng lớn tiếng hát, roi vụt vun vút, đuổi đàn cừu chẳng chút e dè xông xuống núi, sau lưng tung lên một đám bụi đất!

Bên làng, một đám thanh niên đứng đông đen.

“Zhoigar la, cô hát hay quá, thật không ngờ, tiếng hát của cô còn dễ nghe hơn chim sơn ca!”

“Zhoigar la, cô xinh quá, chúng tôi còn tưởng là nàng tiên trên trời xuống đấy!”

“Zhoigar la, cô phải chuẩn bị, lễ Ongkar nhất định biểu diễn cho chúng tôi xem!”

“Ha ha ha ha ha ha…” Tôi lại cười phá lên, cười càng chẳng chút e dè, cành hoa nghiêng ngả. Thuận tay ném cây roi cho Namgyal ra đón, đối với sùng bái và dục vọng trần trụi trong mắt anh nhìn mà không thấy, gạt phắt tay anh chìa qua. “Đêm nay là Tashi, anh ngày mai mới được!” Vừa dứt lời, cả đám cười ồ lên, có anh chàng còn huýt sáo với tôi.

Nơi xa, Tashi cõng một sọt cỏ, hơi lo lắng nhìn tôi. Sau lưng anh, thanh khoa vàng óng, trải mãi lên núi!
  
Gyatso tổng cộng sáu anh em trai hai chị em gái. Trong đó em trai thứ tư Yuqong cho cậu Ouzhu nhận nuôi, còn có năm anh em trai: Gyatso, Tashi, Namgyal, Bênma, Tenzin. Ba người đã trở thành chồng tôi, hai người khác, Bênma giúp người ta đào trùng thảo ở Nyingchi, tôi chưa gặp. Nghe cha chồng nói, lễ Ongkar chú ấy sẽ về; Tenzin còn đang đi học. Một chị gái tên Dawa, gả đến huyện Nagarzê, Lhoka, một em gái tên Dejie, còn đang học cấp 1.

Trước lễ Ongkar, Tashi dắt Dejie đi Lhasa, mua đồ ăn lễ. Dejie năm nay đã là lớp sáu cấp 1, sang năm sẽ lên cấp 2. Em cứ nói phải mua sách giáo khoa tiếng Anh sơ cấp, cha chồng lần trước đi lại quên, làm cho Dejie khóc cả đêm. Do đó lần này khi Tashi đi Lhasa mua đồ dùng cho lễ Ongkar, tôi bảo Tashi dắt em đi.  
  
Sau khi Tashi đi, tôi bắt đầu chuẩn bị quần áo mặc lễ. Lễ Ongkar không giống với năm mới, đây là ngày lễ phô bày tiền của gia đình. Một gia đình năm nay trải qua thế nào, thể hiện ra trên ăn mặc của người nhà dịp lễ Ongkar. Do đó dù là mùa hè, nhưng người người đều phải mặc phổ-lỗ tốt nhất, hơn nữa có bao nhiêu mặc bấy nhiêu, còn để lộ cổ áo mạ vàng thêu bạc ra bên ngoài, lớp lớp chồng lên nhau. Mũ da chồn trên đầu đàn ông, trang sức trên người đàn bà, một món không thiếu.

Phổ-lỗ sớm đã dệt xong, màu cũng đã nhuộm, dù thủ công xoàng, năm nay cũng chỉ có thể mặc tạm. Sang năm đi, sang năm tôi phải để cả nhà mặc phổ-lỗ mình dệt. Cha chồng mời thợ may Jiumei đến nhà may quần áo. Jiumei là người nổi tiếng một vùng này của chúng tôi, áo mới của nhà nhà hộ hộ hầu như đều ra từ tay ông, ông còn là người chứng hôn cho hôn nhân của tôi. Ở chỗ chúng tôi, công việc kim chỉ đều là đàn ông làm, bất kể quần áo giày vớ hay là lều túi, may may vá vá đều là việc của đàn ông. Trên truyền hình từng nhìn thấy phụ nữ nội địa thêu hoa, luồn kim xỏ chỉ, cảm thấy không thể tưởng tượng. Bản thân từng lén thử, châm vết máu đầy tay, nên không dám làm việc này nữa.

Ở giếng trời trải tấm nệm thật lớn, trải phổ-lỗ màu đỏ thẫm lên trên. Phổ-lỗ hơi thô sơ, màu nhuộm cũng không đều, có thể do khi nấu thuốc nhuộm bỏ vỏ hạch đào sức lửa không đều, lại thêm sau đó khi ngâm có những chỗ không thấm ướt hoàn toàn, khiến phổ-lỗ vốn dĩ nên một màu biến thành loang lổ. Phổ-lỗ xoàng thế này, nếu là lúc trước, mẹ tôi không dùng để may quần áo, làm túi thanh khoa còn tàm tạm.

Tôi bảo Jiumei chúng tôi mỗi người may một chiếc. Ông gật đầu, bắt đầu cắt. Không cần đo kích cỡ, phổ-lỗ không phải là quần áo mặc sát người, lớn một chút nhỏ một chút đều không sao. Hơn nữa, người nhà tôi ông quen thuộc cả, chiếc nào may lớn bao nhiêu, may dài bao nhiêu ông đều biết rõ trong lòng. Jiumei có một cái hộp nhỏ, bên trong đựng bột màu đỏ và một sợi len thật dài, đó chính là thước may quần áo của ông. Khi dùng từ một đầu kéo sợi len ra, căng trên vải, phấn đỏ liền dính trên mặt, ông bèn men theo vị trí của phấn đỏ để cắt.

Phổ-lỗ may rất nhanh. Nó vốn không phải là một sản phẩm tỉ mỉ, không cần mũi chỉ sít sao, kim chỉ thô to may lên là được. Chỉ có viền cổ áo và viền vạt áo cần tinh tế một chút. Ren viền đều mua hàng có sẵn, tiệm tạp hóa trên xã đều có bán, tăng thêm màu sắc cho quần áo mà thôi. May cái này khá chậm, cũng không thể dùng kim quá lớn, chỉ phải giấu ở bên trong. Tuy nhiên, cứ như vậy, quần áo cả nhà chúng tôi, chưa tới thời gian hai ngày, Jiumei đã may xong hết.

Những quần áo này mỗi người một chiếc, bao gồm Gyatso. Dù anh về hay không về, anh vẫn là một phần tử của nhà này, là “gia trưởng” gia đình nhỏ của tôi. Trong rương quần áo của anh, áo quần giày vớ không thiếu món nào, tất cả đều vì anh chuẩn bị sẵn sàng, kể cả con người tôi, đều chuẩn bị cho anh. Dù tôi tỏ vẻ không để tâm, nhưng trong lòng lại không phải không trông mong một ngày nào đó anh đột nhiên trở về!

Tôi có thể điều khiển được người mình, nhưng không điều khiển được tim mình. Tôi có thể khiến người mình không ngừng bận rộn, nhưng không thể khiến tim mình biến thành nước lặng!

Tashi đi Lhasa, Namgyal rất vui mừng, anh gần như theo tôi hình bóng không rời. Anh trước đây không bao giờ làm việc, hiện nay cũng theo tôi bận trong bận ngoài. Còn học cắt cỏ, vắt sữa, xe len cừu. Cha mẹ chồng nói anh giống như thay đổi con người, trở nên chăm chỉ, cũng không say rượu mắng người nữa.

Cơm sáng và cơm trưa của chúng tôi đều đơn giản, tsampa và trà bơ trộn lên, ăn một bát, núi trên núi dưới đi về mấy lượt, cũng không cảm thấy đói. Buổi tối phức tạp một chút, vì có đủ thời gian nổi lửa nấu cơm. Tôi thích xắt thịt cừu thành hình hạt lựu, nấu chung với tsampa, bỏ chút hành dại, rau hẹ dại trên núi, mùi thơm ấy, rất xa đã có thể ngửi được. Cha chồng thích bê một bát tsampa thịt cừu như thế ra bãi cỏ trước cửa ngồi ăn. Nhá nhem tối ở đó luôn có rất nhiều người, “gia trưởng” và phụ nữ các nhà người người bê một bát cơm ngồi đó, vừa nói chuyện con dâu nhà ai lại sinh em bé, con trai nhà ai lại mang về bao nhiêu tiền, vừa khoe thức ăn trong bát mình.

Namgyal luôn bên tôi, anh đốt lửa, tôi trông nồi. Nhân lúc không có ai, anh sẽ trêu đùa với tôi vài câu, chế giễu biểu hiện tối qua của tôi không đủ tốt. Tôi liếc anh, nhếch miệng, như cười mà không phải cười nhìn anh. Biểu cảm như vậy trong mắt Namgyal, hẳn cũng muôn vẻ phong tình? Nếu không, mắt anh làm sao cứ rơi trọn trên người tôi, một bộ dạng không nghiêm chỉnh như thế.

Buổi chiều cha chồng từ Lhasa về là lần đầu tiên Namgyal nghe tôi hát, anh liền mê tít điệu này. Khi không có người cứ đòi tôi hát cho anh nghe, hát một lần hai lần. Trong lòng tôi, Namgyal không giống người chồng, giống đứa em trai hơn. Anh không thiết thực như Tashi, cũng không tài giỏi như Gyatso, hơi miệng lưỡi lém lỉnh, sẽ giở trò vô lại, sẽ cáu gắt lung tung, chọc giận lên thiên vương lão tử đều không sợ. Ban đầu tiếp nhận anh trở thành chồng mình, tôi bị động, trong lòng có mấy phần bất lực. Qua chung sống những ngày này, tôi đã bắt đầu chấp nhận anh, từ trong lòng bắt đầu chấp nhận anh. Cảm giác ở chung với anh hoàn toàn không giống với hai người đàn ông kia. Tashi đối với tôi rất tốt, tốt đến nỗi tôi không moi ra khuyết điểm, nhưng anh hiếm khi nở nụ cười, ở chung với anh bất giác sẽ ủ ê. Còn Gyatso, tôi đối với anh rất tốt, tốt đến nỗi tôi căm giận bản thân, nhưng người ta không để tâm. Ở chung với Namgyal khác hẳn, thể xác tinh thần cả con người tôi đều cảm thấy đặc biệt nhẹ nhàng. Tôi không cần biểu hiện thật hiền thục giỏi giang, không cần biểu hiện thật dịu dàng nhu mì. Tôi chính là tôi, cô gái chăn cừu Zhoigar muốn cười thì cười, muốn hát thì hát.  

Trong nhiều vai trò của tôi, nói thật, tôi vẫn thích cô gái chăn cừu Zhoigar, chứ không phải là người vợ dịu dàng, con dâu hiền thục!
  
Trên núi lớn sau làng có chỗ suối nước nóng, nước suối một năm bốn mùa không ngừng chảy. Người làng đào hai cái hố ở hạ du miệng suối phun, một lớn một nhỏ, dùng đá giản đơn quây lại. Hố lớn phía trên đàn ông chuyên dụng, bên trong còn đặt một số tảng đá làm ghế. Hố nhỏ phía dưới dành cho phụ nữ. Đứng ở hồ nam, có thể nhìn thấy hết hồ nữ. Mọi người ngâm tắm theo quy củ ước định, chẳng ai cảm thấy sắp xếp như vậy không ổn.

Từ sau lần tắm đầu tiên, tôi đã mê nơi đó. Mỗi ngày nếu có thể, tôi đều cố gắng đi tắm. Nhưng tôi không đi quá sớm. Tôi không thích cởi áo dưới ánh mắt hiếu sắc của cánh đàn ông, thậm chí anh chàng không có ý tốt nào đó còn ném đá vào hồ nữ, cố ý ném trên ngực chị em.    

Như tối nay, sau khi ăn cơm tối, lần đầu tiên Namgyal nói anh rửa bát, bảo tôi nhanh chóng đi tắm. Nói hôm nay đã làm việc suốt ngày, ra rất nhiều mồ hôi. Buổi chiều từ sớm anh đã cùng mấy anh chàng khác đi tắm rồi.

“Anh chê em hôi?” Tôi cố ý ngắm anh, khóe miệng treo lên.

“Em không đi tắm đương nhiên tốt rồi, tối nay mùi thơm nhức mũi!” Anh dầy mặt sán lại, cố ý ngửi ngửi cổ tôi, sau đó nhắm mắt, làm ra bộ dạng say sưa vô hạn.

“Anh cút đi.” Tôi đánh anh một cái, vứt khăn lau vào lòng anh, ra khỏi nhà bếp. Mang theo quần áo để thay và xà phòng thơm, ra cổng đi lên núi, chó giữ nhà Qiuzhu theo sau tôi.
  
Đêm nay trăng rất tròn, sáng trong như xử nữ. Ánh trăng rắc trên mặt đất, mông lung có chút thần bí. Sao đặc biệt sáng, thỉnh thoảng có một hai ngôi kéo cái đuôi lê thê chạy về chân trời. Trước đây bà nội từng nói, sao trên trời là linh hồn của người chết, chúng chạy nhanh như vậy, là phải gấp về thăm người thân trong nhà. Một mặt trăng, vốn dĩ quá cô đơn, nhờ sự bầu bạn của những ngôi sao này, nó cũng không còn buồn tẻ nữa.

Mặt đất dày đặc sương mù, hỗn độn mà có chút mơ màng. Gió đêm nhẹ nhàng mềm mại, lướt trên mặt, hơi giống lòng bàn tay bà nội trong ký ức, lòng bấc giác dâng lên một luồng ấm áp, bước chân cũng nhanh nhẹn hơn.

Tôi thích buổi tối thế này, bình yên, tĩnh mịch. Một người, một chó đi trên đường núi, chỉ có tiếng bước chân sột soạt…

Trên bờ ruộng, cỏ cao đến đầu gối, có thể cảm giác bắp chân ướt đẫm, hẳn sương đọng rồi? Tôi rời bờ ruộng, bắt đầu lên núi, xuôi theo đường núi đi lên. Hai bên là rừng cây thanh cương mọc thành lùm bụi rậm rạp, thỉnh thoảng có thể nghe được nơi sâu trong rừng một hai tiếng chim kêu.
    
Ánh trăng xuyên qua cành cây rắc lên mặt đất, lốm đốm rực rỡ. Đi chẳng bao lâu, trước mặt truyền đến tiếng nước chảy róc rách, Qiuzhu cực kỳ hưng phấn, gâu gâu sủa hai tiếng, nhanh như bay xông ra.

Ra khỏi rừng, trước mắt đột nhiên trống trải, một vùng sườn dốc rộng rãi, bãi cỏ núi cao điển hình, cỏ dán sát đất mà mọc, như một tấm thảm màu lục thật lớn trải trong rừng rậm, chân trần dẫm lên, dày dặn mà mềm mại. Tôi cởi giày, xách trên tay, chầm chậm đi về phía trước, dùng tâm cảm nhận sự ấm áp từ dưới lòng bàn chân truyền đến. Suối ở chính giữa bãi cỏ, hai hồ nước lớn trong xanh, bốc lên sương mù mờ mịt, trăng tròn in bóng trong nước, rung rinh theo gợn sóng, phảng phất như cảnh tiên.

Nhìn thấy suối, đuôi Qiuzhu lập tức vểnh lên, bốn chân vừa nhún, đã hùng hục xông tới, loáng cái nhào vào hồ nữ, bọt sóng bắn tung tóe!

Tôi trút bỏ phổ-lỗ dày cộm, ném sang một bên. Sau đó ngồi xổm bên hồ, hai tay vẩy nước lên, để nó lại rơi xuống lòng bàn tay, tan thành từng giọt nước lóng lánh trong suốt, bắn đầy cả mặt! Thế là, tôi bèn hứng lên, cười khanh khách, nhặt đá nhỏ ném Qiuzhu, bọt nước bắn lên người nó, Qiuzhu kêu ăng ẳng, lắc đầu né tránh. Tôi liền ném càng hăng, đá nhỏ liên tiếp không ngừng ném xung quanh nó.

Lúc này, đêm này, thuộc về tôi!

Qiuzhu không bằng lòng, nhân tôi không phòng bị, bỗng nhảy ra khỏi hồ, kêu gâu gâu, vây quanh tôi giũ rung cả mình mẩy, giọt nước bắn đầy người tôi. Để né tránh Qiuzhu, tôi nhảy lên xuống không ngừng, nó bèn rung ác hơn, còn phát ra tiếng kêu ăng ẳng, khiến tôi cười lớn, tiếng cười trong trẻo sảng khoái hòa cùng tiếng thông reo, vang vọng chốn sơn dã.

“Không chơi nữa, không chơi nữa!” Tôi dùng tay che mặt, chạy về hồ nam. Vừa chạy vừa cởi váy bông, quần, liệng bừa trên đất. Đêm nay nơi này thuộc về tôi, không phân biệt hồ nam hồ nữ. “Mày ở phía dưới.” Tôi cười đến thở không nổi, cong lưng, cố ý nghiêm mặt nói với Qiuzhu. “Tao ở phía trên. Không cho phép đến đây!”

Qiuzhu chẳng biết nghe không hiểu hay là cố ý chống đối với tôi. Dù sao thì nó cũng lắc lư thân mình nhào lên, dồn ép đến nỗi tôi không thể không né sang một bên. Qiuzhu lúc này càng hứng tợn, vèo một tiếng lại nhào xuống hồ, bắn lên bọt nước càng lớn, khiến tôi ướt sũng.

“Đồ xấu xa!” Tôi nhặt đá ném qua, nó chẳng đếm xỉa đến tôi, đầu gác bên hồ, bắt đầu nghỉ ngơi.
  
Cởi nốt lớp váy lụa cuối cùng, lõa thể dưới trời sao, ánh trăng rắc trên làn da căng mịn của tôi, phát ra ánh bạc nhàn nhạt. Tôi chậm rãi cởi bím tóc, để nó buông xõa như dòng thác.

Ngoài trận trận thông reo rì rào, bốn bề yên tĩnh vô cùng!

Tôi từ từ xuống hồ, ở đáy hồ tìm một phiến đá phẳng lì sạch sẽ ngồi xuống, nước suối tràn đến vai, ấm áp bao dung tôi, khớp xương tay chân tức thời sinh ra một cảm giác hạnh phúc đê mê. Tôi tựa trên đá, duỗi thẳng chân, mặc cho mái tóc theo sóng dập dờn! Qiuzhu cũng bơi đến bên mình tôi nằm bò xuống, gác đầu lên phiến đá. Mặt trăng ở ngay trước mặt, sáng ngời ngời có chút nhức mắt. Thật lâu, chúng tôi đều lười biếng nhắm mắt, mặc sóng nước tùy ý vỗ đập. Dần dần, chúng tôi đều đi vào trạng thái hư vô!

Chẳng biết qua bao lâu, cũng chẳng biết lúc này là lúc nào, Qiuzhu đã có động tĩnh, nó nghiêng đầu về bên rừng núi, tai từ từ dỏng lên. Trong rừng cây truyền đến tiếng loạt xoạt khe khẽ, giống như có người dẫm trên lá rụng.

Tôi theo phản ứng bản năng vùi mình xuống nước. Muộn thế này, ai còn lên núi nhỉ?

(Dorje Zhoigar)