13.4.14

Không nói yêu anh

Trừ phi linh lan
Không nguyện hé nở bên đường anh đi qua
Nếu không
Em không nói

Trừ phi ánh trăng
Không còn quanh quẩn trong rượu anh hâm nóng
Nếu không
Em không nói

Trừ phi ngón tay
Không thể lòng vòng trên sách anh từng đọc
Nếu không
Em không nói

Trừ phi
Anh thoáng trông đã nhìn thấu em
Nếu không
Em không nói


(Trác-tây-lạp-mẫu Đa-đa)

12.4.14

Tháng tư

Tôi thích nhất ánh nắng của tháng tư, ánh nắng của tháng tư không giận không nóng, trong suốt ấm nhuần có cảm giác của lưu ly.

Ánh nắng tháng tư khiến mỗi một đóa hoa đều là thủy tinh tạc thành, hát bài hát của hy vọng trong gió, tiếng hát năm màu phảng phất cầu vồng.

Ánh nắng tháng tư khiến mỗi một ngọn cỏ đều là phỉ thúy mơn mởn, viết vần thơ của ngày mai trên đất, câu thơ xanh thẳm tựa hồ biển cả.

Trong ánh nắng tháng tư, ta trút bỏ lớp áo xám xịt của mùa đông rét mướt, tiếp xúc với cái nóng ấm từ chân trời xa xăm truyền đến, làm cho tôi nhớ đến thời thơ ấu, mình trần chạy qua cánh đồng tháng tư, ánh nắng giống như vòng tay ấm áp của mẹ, sau đó bọn tôi nhảy xuống dòng suối còn lưu lại đông hàn năm ngoái bơi lội. Cuối cùng, bọn tôi mang những giọt nước như lưu ly đọng khắp người nằm trên tảng đá lớn, nước từng chút một tan vào không trung, bọn tôi liền ngủ thiếp bên suối.

Trong ánh nắng tháng tư, thảo nguyên, rừng cây, dòng suối, tảng đá đều là tịnh thổ, ít ra đối với trẻ con vô lo vô nghĩ là như vậy. Do đó, bất kể tôn giáo nào, đều nói chúng ta nên giữ tấm lòng thuần khiết như trẻ sơ sinh, mới có thể tiến vào miền đất thanh tịnh.

Tháng tư vẫn là tháng tư, ánh nắng ấm áp vẫn thế, đáng tiếc rằng chúng ta đều chẳng còn là trẻ thơ nữa.


(Lâm Thanh Huyền)

11.4.14

Vị trà

Tôi thường một mình ngồi uống trà, cùng một lượt pha, nước thứ nhất đắng chát, nước thứ hai ngọt thơm, nước thứ ba đậm đà, nước thứ tư lành lạnh, nước thứ năm thanh đạm, trà ngon đến đâu, qua nước thứ năm sẽ mất đi mùi vị.

Quá trình pha trà này khiến tôi nghĩ đến đời người, niên thiếu non nớt rụt rè, thanh xuân thuần khiết chất phác, trung niên trầm tĩnh vững vàng, và tuổi già càng đi càng nhạt, dần dần mất đi ý vị của đời người.

Tôi cũng hay cùng người đối ẩm, đối ẩm tốt nhất là chẳng nói lời nào, chỉ nhẹ nhàng thưởng trà; kế đến là đôi ba câu, rồi dăm bảy câu, kể chuyện cuộc sống gần đây; không tốt là mồm năm miệng mười, nói chơi không đúng; tệ nhất là nói năng bừa bãi, bình luận phải trái của người khác.

Lúc cùng người đối ẩm thường khiến tôi nghĩ rằng cảnh giới của sinh mệnh quả thực vượt qua lời nói, trong tâm linh hữu tình không cần trò chuyện, cũng có thể ấn chứng lẫn nhau. Trong uống trà có đủ các cảnh giới nước sâu sóng lặng, nước chảy róc rách, hoa đỏ liễu xanh, chim muông líu lo, ngựa xe tấp nập.

Tôi thích nhất là uống trà vào mùa đông gió rét lạnh lẽo, đêm khuya đến mức mọi âm thanh đều im ắng, một mình thưởng trà trong thanh tịnh, vừa uống đã hết, hai tay ôm chiếc tách không, còn cảm giác được độ nóng của trà trong tách, ấm áp, nhanh chóng truyền đến tận đáy lòng.

Ví như đời người sau khi trải hết thê lương, nửa đêm quán chiếu tâm ý, nhìn thấy, và cảm thấy, lồng ngực vẫn còn sục sôi nhiệt huyết thời trai trẻ.


(Lâm Thanh Huyền)

10.4.14

Hai mươi lý do sợ vợ

1. Vợ cho tôi cảm giác gia đình, tôi yêu nhà tôi, nên tôi sợ vợ.

2. Sợ vợ khiến đàn ông nhẫn nhục phụ trọng, mà đàn ông nhẫn nhục phụ trọng đa số là hảo hán có thể làm chuyện lớn.

3. Sợ vợ khiến đàn ông tỏ ra lòng dạ rộng rãi, rất có tu dưỡng văn hóa. Sợ vợ tỉ lệ thuận với có văn hóa, đàn ông văn hóa càng cao thường thường càng sợ vợ.

4. Có câu ca dao: “Ăn nhiều rau, uống ít rượu, nghe lời vợ, đi theo Đảng.” Từ đó có thể thấy, vợ không sợ không được.

5. Nhà tâm lý học nói: “Phụ nữ do tự tin mới tỏ ra xinh đẹp.” Mà sợ vợ thì có ích đối với việc tạo dựng lòng tự tin của vợ, điều này nói từ một góc độ khác là đang thay vợ làm đẹp.

6. Sợ vợ là một kỹ xảo yêu đương, càng là một dạng trao đổi tình cảm. Vì bạn thỏa mãn lòng chuộng hư vinh của vợ, vợ đương nhiên sẽ dùng tình yêu báo đáp bạn gấp bội. Nói như thế, bạn há chẳng phải chịu thiệt nhỏ chiếm hời lớn ư!

7. Sợ là một kiểu kính sợ, là một kiểu trân trọng, là một kiểu quyến luyến, là một tư thái yêu, sợ vợ có nghĩa rất lưu tâm đến vợ.

8. Sợ vợ là vì không đấu đá trong nhà, giảm bớt hao tổn bên trong, tránh tranh cãi không ngớt giữa vợ chồng, mục đích là dưỡng đủ tinh thần hòng đi chinh phục thế giới bên ngoài.

9. Sợ vợ là vì yên ổn đoàn kết, vì dứt chuyện cho khỏe người, tránh nàng lải nhải không ngừng nhiều lần dày vò bạn.

10. Giả Bảo Ngọc nói: “Con gái làm bằng nước, con trai làm bằng bùn.” Suy ngẫm kết quả nước và bùn đấu nhau sẽ hiểu: Sợ vợ là cử chỉ sáng suốt bảo toàn hình tượng bản thân của đàn ông.

11. Khổng Tử sớm đã cho chúng ta biết: “Duy chỉ có phụ nữ và tiểu nhân là khó nuôi.” Do đó ở nhà đừng đắc tội vợ, ở ngoài đừng đắc tội tiểu nhân, nếu không sẽ chẳng có một ngày sống tốt.

12. Vợ đem đóa hoa tươi là bản thân cắm trên bãi phân trâu là bạn, bạn có lý nào không sợ?

13. Phụ nữ đa số dễ mềm lòng, bạn sợ vợ, vợ mới tha thứ tật xấu bẻ hoa ghẹo cỏ bên ngoài của bạn.

14. Hồ Thích nói: “Chuyện sợ vợ nhiều, thì dễ dân chủ.” Do đó, sợ vợ là hành động vĩ đại đẩy nhanh tiến trình dân chủ.

15. Nam tử hán đại trượng phu xem trọng nhất là lấy đức phục người, nếu nằng nặc phải cùng vợ tranh cao thấp, người chồng nhất định sống rất mệt mỏi.

16. Quan hệ vợ chồng của kẻ không sợ vợ là đáng sợ, vì vợ chính là dạng này: bạn càng không sợ nàng, nàng càng phải tạo ra một số chuyện để bạn sợ.

17. Quan hệ vợ chồng có lúc rất kỳ quái, khi bạn để nàng nhìn ra bạn rất sợ nàng, nàng liền bắt đầu thần phục bạn. Do đó, sợ vợ thực tế là diệu kế lấy lùi làm tiến của nam tử hán đại trượng phu.

18. Sợ vợ là tiêu chí nổi bật của nam tử hán đại trượng phu, một người đàn ông trong nhà cả vợ cũng không sợ, thế thì anh ta ở ngoài khẳng định là kẻ đụng ai cũng sợ.

19. Nam khôn không đấu với nữ, đàn ông không sợ vợ đương nhiên không phải là đàn ông khôn ngoan.

20. Đã chưa kiếm được tiền để vợ xài không hết, thế thì chẳng có lý do gì không sợ vợ.


(Ngô Thư Thuần)

Việt Nam, Việt Nam

Nếu có thể ra nước ngoài du lịch, trạm đầu tiên khẳng định là Việt Nam. Đây là chuyện sớm đã nghĩ xong.

Trước đó xem phim điện ảnh “Trời và Đất” của Oliver Stone, cô gái kiên cường có đôi mắt sáng, mặc áo dài màu trắng, tay cầm nón lá, đi giữa cánh đồng xanh ngát. Còn có phim “Đông Dương” do Deneuve đóng vai chính, nàng công chúa gặp nạn và chàng trung úy người Pháp nương tựa lẫn nhau trong màn sương mù dày đặc của Vịnh Hạ Long. Những cảnh quay này đóng băng khung hình thành ảo giác trong lòng.

So với Việt Nam mà đạo diễn bản địa Trần Anh Hùng tỉ mỉ trau chuốt, tôi càng mê luyến với Việt Nam trong hồi ức của người Mỹ từng tham gia cuộc chiến Việt Nam, và Việt Nam trong vinh quang và thất lạc còn vương hơi hướm của người Pháp.

Nó là đau khổ, ngây thơ, trầm tĩnh như thế. Không sao hiểu nổi.

Còn trong tiểu thuyết và phim điện ảnh của Duras, Việt Nam là quê hương bà xem là hổ thẹn. Là tiếng kêu ré và trầm mặc trong máu của bà. Là cảnh ngộ vắng vẻ của bà. Tôi thủy chung chưa từng được biết sau khi bà về Pháp, có từng quay lại Việt Nam hay không. Theo tản văn của bà viết, chắc là không có. Hồi ức của bà đối với nơi này đã biến thành vết thương, do đó thà rằng xưng mình là “một người không có quê hương.”

Hoa nhài. Cá sấu và khỉ. Đầm lầy nóng bức. Sông Mekong. Phà ngang. Phố xá ồn ào. Đồng lúa. Mùi của nước mưa.

Hết thảy tất cả những thứ này, theo tiến triển của hành trình, từng thứ một phơi bày ra.

Trước đây nghĩ đến du lịch, tôi từng nghĩ phải đi Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, Ấn Độ, Lào, Nepal, Miến Điện, Thái Lan… Tất cả các nước trong cảm giác mang một mỹ cảm kỳ dị, nhưng rất ít nghĩ đến Châu Âu hoặc một số nước phát triển.

Việt Nam là trạm đầu tiên của tôi, nên thuộc về phạm vi các nước liệt kê ở trước. Nó đã làm cho kế hoạch của tôi kiên định. Tôi cực kỳ thích quan hệ gắn bó không thể chia cắt của họ với thiên nhiên: bầu trời, thảm thực vật, đồng bằng, ruộng vườn, dòng sông, vĩnh viễn là cuộc sống tiếp cận nhất. Tính tôn giáo của họ. Lòng nhẫn nại của họ. Âm nhạc của họ.

Tôi mua ba đĩa CD ở Sài Gòn đem về nhà. Là âm nhạc Việt Nam điển hình. Trong âm nhạc của họ không có bất cứ phẫn nộ nào, chỉ có bi thương hoặc vui vẻ. Tất cả tình cảm đơn giản thuần túy nhất.

Đồ ăn rất ngon. Xào chung các loại rau, thanh đạm, gia vị chua ngọt, lúc nào cũng kèm theo một đĩa rau sống tươi rói. Ẩm thực dạng này hẳn rất lành mạnh.

Còn khi một người muốn ẩn cư, Huế là chọn lựa tốt nhất. Sẽ chẳng tìm được trấn nhỏ nào tĩnh mịch bình yên hơn nó. Ở đây, có thể cùng người mình yêu mai danh ẩn tính, sinh rất nhiều con. Có lẽ sẽ có hạnh phúc.

Hồi ức sẽ dần dần ngắt quãng. Việt Nam, dần dần không thể kể hết bằng lời. Dù là Hà Nội hay là Sài Gòn, chúng sao mà quen thuộc, khiến con người khi dừng chân ở lại, âm thầm mà trầm tĩnh.

Khi tôi gần gũi nó, ngỡ rằng đã chạm đến, và đã xoa dịu linh hồn của tôi.


(An Ni Bảo Bối)

8.4.14

Trung Quốc trong mười từ vựng (trích)

Nhân dân
Trong đời mình mỗi người đều gặp rất nhiều từ vựng, có những từ ngay lần đầu nhìn thấy đã hiểu được, có những từ tuy tiếp xúc cả đời mà vẫn không hiểu nổi. “Nhân dân” chính là vấn đề hóc búa như thế.

Lãnh tụ
Nhìn nay nhớ xưa, tôi cảm thấy Trung Quốc ngày nay đã không có lãnh tụ quốc gia nữa, chỉ có những người lãnh đạo nhà nước.

Đọc
Mỗi lần đọc những tác phẩm vĩ đại ấy, tôi đều bị chúng dẫn đi… Sau khi trở về tôi mới biết chúng đã mãi mãi ở cùng với tôi.

Viết
Viết giống như từng trải, nếu một người chưa từng trải chuyện gì thì sẽ không thấu hiểu cuộc đời của mình. Lẽ tương tự, nếu một người chẳng viết lách thì sẽ không biết mình có thể viết ra thứ gì.

Lỗ Tấn
Số phận của Lỗ Tấn ở Trung Quốc, từ số phận của một nhà văn đến số phận của một từ vựng, lại từ số phận của một từ vựng trở về số phận của một nhà văn, kỳ thực cũng chiết xạ ra số phận của Trung Quốc. Chuyển biến lịch sử và xáo động xã hội của Trung Quốc, có thể suy đoán qua từ “Lỗ Tấn”.

Khoảng cách
Trung Quốc ngày nay có thể nói là một Trung Quốc có khoảng cách cực lớn. Hình như chúng ta đang đi trong một hiện thực thế này: một bên là phòng hoa tiệc rượu, một bên là tường xiêu vách đổ. Hay nói cách khác chúng ta đang ngồi trong một nhà hát kỳ quái, trên cùng một sân khấu, nửa bên này đang diễn hài kịch, nửa bên kia đang diễn bi kịch… Đây chính là Trung Quốc ngày nay, chúng ta không những sống trong khoảng cách cực lớn của hiện thực và lịch sử, mà còn sống trong khoảng cách cực lớn của mộng tưởng.

Cách mạng
Thế nào là cách mạng? Câu trả lời trong ký ức quá khứ của tôi là chín người mười ý. Cách mạng khiến cuộc sống đầy rẫy những điều không thể biết. Số phận con người hoàn toàn đổi khác trong một sớm một chiều, có người trong chớp mắt bay lên cành cao, có kẻ trong phút chốc rơi xuống vực sâu. Trong cách mạng sợi dây gắn bó xã hội giữa người và người cũng khi liền khi đứt, hôm nay còn là chiến hữu cách mạng, ngày mai có thể chính là kẻ thù giai cấp.

Thảo dân
Sau cải cách mở cửa, pháp chế Trung Quốc là một quá trình từng bước kiện toàn, một số pháp luật và pháp quy tồn tại không ít sơ hở, cho các thảo dân nhiều cơ hội luồn lách. Do đó những thảo dân này có thể tạo ra bất cứ kỳ tích nhân gian nào.

Sơn trại
Sinh thái xã hội của Trung Quốc ngày nay có thể nói là kỳ quái sặc sỡ, tốt đẹp và xấu xa, tiên tiến và lạc hậu, nghiêm túc và phóng đãng, thường tồn tại trong cùng một sự vật. Hiện tượng sơn trại chính là như thế, vừa chứng tỏ sự tiến bộ của xã hội, vừa thể hiện sự thụt lùi của xã hội.

Dụ gạt
Giống như từ “sơn trại”, từ “dụ gạt” nhanh chóng phổ biến, thể hiện sự thiếu vắng luân lý đạo đức và sự hỗn loạn giá trị quan của xã hội Trung Quốc đương đại, cũng là một trong những di chứng phát sinh sau phát triển phiến diện ba mươi năm gần đây của xã hội Trung Quốc, hơn nữa tính rộng khắp về mặt đời sống xã hội của hiện tượng dụ gạt càng vượt trội hiện tượng sơn trại. Khi dụ gạt thịnh hành, chúng ta cũng sống trong một xã hội không nghiêm túc, hay nói cách khác là sống trong một xã hội vô nguyên tắc.


(Dư Hoa)

6.4.14

Khách qua đường

Trò chuyện với một cô gái. Cô từng dừng chân nơi thôn xóm cổ xưa của Vân Nam, thích không khí yên tĩnh ở đó, bỏ tiền thuê một sân vườn lớn của cư dân địa phương, trồng cây trồng hoa, mở quán cà phê sách.

Tất cả những người mở quán ở đó đều từ nơi khác đến, ẩn cư dài hạn. Ban ngày ai làm việc nấy, ban đêm tụ tập một chỗ, chơi bida, uống rượu, tán dóc, vây quanh đống lửa và con chó to, đêm đêm đàn ca. Nhưng cô bảo, thời gian lâu ngày, thì sẽ phát hiện có vấn đề rất lớn. Xưa nay đều không thể làm bạn, không thể dốc bầu tâm sự với những người này, chẳng ai nói ra quá khứ và kế hoạch chân thực của mình. Mỗi người đều có bí mật, đều có cử động bất ngờ. Dù đôi bên cảm giác rất hợp nhau, cũng hai ba ngày là rã đám. Cô nói, không giao kết được người bạn nào ở đó.

Nhưng điều này chưa hẳn không phải là một phương thức hợp lý, đối với người đi đường, khách qua đường đến đi như nước chảy, đôi bên vô tình, phù hợp tưởng tượng. Họ biết sự đoàn tụ vui vẻ giữa người và người có thể khiến tốc độ đời người tăng nhanh, nhưng trong chốn sâu nội tâm, cô lập lớn mạnh, tịnh không ỷ lại, cũng không tin tưởng. Không cần trú lưu dài hạn, điều này sẽ khiến con người có gánh nặng, cũng là vương vấn nhẹ nhàng không thể tiếp nhận.

Ý nghĩa của cái gọi là bạn bè, chẳng qua là náo nhiệt thêm hoa trên gấm. Vực sâu nội tâm của mỗi người, nếu có đau khổ, hồi ức hay thứ khác, trước sau chỉ có thể tự mình đơn độc đứng bên vách núi, đối mặt với áp lực này. Anh ta không thể để người khác đến tham quan vực sâu này, lý giải giữa người và người hoàn toàn trống đánh xuôi kèn thổi ngược, cũng rất ít có lòng thương xót. Đại để chính là như thế.

Do đó, hà tất lưu luyến, hà tất gửi gắm kỳ vọng sâu nặng lâu dài cho đối phương. Sau khi ôm nhau, phủi áo ra đi, đôi bên lãng quên. Đây là phương thức của khách qua đường.


(An Ni Bảo Bối)