Showing posts with label An Ni Bảo Bối. Show all posts
Showing posts with label An Ni Bảo Bối. Show all posts

24.6.14

Miên Không (Trích đoạn: Xơi trà)


Trong tiếng địa phương của quê nhà, uống trà gọi là xơi trà. Dù không lấy lá trà ra pha, chỉ khát miệng uống ly nước lọc, cũng không gọi là uống nước mà gọi là xơi trà. Uống rượu cùng lẽ, gọi là xơi rượu.

Sự tồn tại của một người bạn tao nhã, là để vào lúc hoàng hôn tuyết sắp sửa rơi mời người ấy đến, cùng uống một chén. Người yêu rượu thật sự, có lúc khó tránh độc ẩm dưới trăng. Khi tỉnh cùng vui vẻ, say rồi ai nấy phân tán. Uống trà khác với uống rượu. Nó cần đối tượng, uống trà một mình vô cùng cô độc. Uống trà chính thức, mọi người ngồi quây quần một vòng, chốc chốc rót trà cho người kia, không có vẻ vắng lặng. Trà giống như một người bạn thanh đạm nghiêm túc, tuy đáng quý, nhưng lại cần được hưởng ứng tương đối nhiệt liệt mới không đến nỗi tỏ ra xa cách.

Quen một cô gái người Phúc Kiến, cô kể trong làng nhỏ cổ xưa nơi cô khôn lớn, trẻ em từ bé đã uống trà, trong nhà đun một ấm đồng lớn nước sôi, ném mấy nhúm lá trà vào, suốt ngày chỉ uống nước trà. Tôi có đôi chút hâm mộ, cảm thấy cô từ bé đã làm chuyện của người lớn. Ở khu vực nhà tôi, trẻ em hồi bé chỉ uống nước lọc. Những năm tháng vật chất thiếu thốn, còn nhớ có một loại cà phê miếng do Thượng Hải sản xuất, bên ngoài bọc đường trắng, sau khi hòa tan trong nước nóng, là một ly thức uống ngọt ngào màu nâu phong vị độc đáo. Người dì trẻ tuổi thời thượng trong nhà thường hay pha cà phê miếng dạng này. Cà phê chính thức xuất hiện, nó liền biến mất tăm. Cha ăn xong cơm tối, quen dùng ly thủy tinh pha một ly trà xanh. Lá trà của cha đựng trong hộp sắt tây, nghĩ chắc cũng không phải là trà ngon kén chọn.

“Trà rượu mời anh đêm rét lạnh, Tre khô nhóm bếp lửa đang hừng. Trăng ngoài song cửa luôn như thế, Chỉ có hoa mai đẹp lạ lùng.(*)” Bài thơ này của Đỗ Lỗi hướng đến một loại tâm cảnh. Tuyết lớn vừa ngưng, cành hoa mai lấp ló trước cửa sổ, ánh trăng nhàn nhạt, khách phương xa mang theo hơi thở gió sương không hẹn mà đến, chỉ vì một đêm say sưa trò chuyện. Dù chẳng có chuẩn bị, tay chân luống cuống, trà vẫn bày trước lên bàn. Bạn bè vốn nên như trà, nồng đậm thỏa mãn, thanh đạm có thừa.

Lạp mai có thể trồng, mặt trăng có lúc tròn. Chỉ vắng mặt người khách đêm lạnh đạp tuyết mà đến. Trong thời buổi ngày càng nhiều người thích chén tạc chén thù trên bàn tiệc, uống trà, quá đạm bạc cũng quá trang trọng, khiến người ta không thể hưởng thụ. Mọi thứ đầy đủ, duy thiếu tri kỷ.

(*) Bài thơ “Hàn dạ” (Đêm lạnh) của Đỗ Lỗi, Hải Đà dịch.


(An Ni Bảo Bối)

22.5.14

Miên Không (Trích đoạn: Mùa hè)




Thời tiết ngày càng nóng hẳn lên. Mua chậu lớn hoa dành dành và hoa nhài, đặt ở chỗ râm mát trong phòng khách, khi ngủ hương thơm thoang thoảng bên gối. Mưa buổi chiều, rào rào, rất nhanh đã tạnh. Sau giấc ngủ trưa ăn anh đào. Hoàng hôn chân trời luôn có ráng mây rực rỡ. Đêm khuya tiếng kêu của ếch xanh thoắt xa thoắt gần. Các cô gái rộn ràng diện váy liền chấm hoa. Mùa hè đã đến.

*

Trong vườn hoa lúc chiều hôm đám trẻ con vui đùa reo hò. Cô gái trẻ mặc váy voan, để lộ cánh tay và bắp chân, tóc đen dày tỏa ra hơi thở. Ngồi ngoài trời uống bia, tán gẫu, lưu luyến quên về. Mọi thứ mùi đều đang bốc hơi mãnh liệt. Dục vọng được bày tỏ hết mức, tính chất của nó là một kiểu thanh khiết. Mùa hè là mùa có ngoại hình gợi cảm mà nội tâm ngây thơ.

Tường vi dễ trồng, sức sống tràn trề, bò lan bốn phía trên giàn leo đầu tường, phiêu bạt chân trời, cuối cùng bắc thành túp lều hoa dày đậm. Cành hoa um tùm cần cắt tỉa trước khi kết nụ, hoang dại khó thuần. Ở quê nhà miền nam, nó có tên gọi thường ngày là thất tỉ muội (bảy chị em). Hoa rộ phơi phới, có lúc bảy đóa trổ trên cùng một cành. Thường nở như ráng mây nơi đầu tường, hương thơm nức mũi, là loài hoa hay gặp trong hẻm cũ.  

*

Mùa hè quen mặc áo một màu phối với váy vải cạp ngang eo, đây là phong cách tương đối cổ điển chính thống. Váy liền luôn được yêu thích. Trong tiệm may, đem vải mua ở Nepal và Ấn Độ may váy, chân váy xếp ly, viền lá sen, cổ tròn nhỏ, là kiểu váy thuở nhỏ từng mặc. Hồi ấy mẹ hay khâu hình hoa thêu lên cổ áo hoặc trước ngực.

*

Hoàng hôn ra ngoài tản bộ. Cây dâu lớn ven đường kết quả chi chít, sau khi quả chín mõm, rụng nát trên con đường lát đá phiến, chỉ có chim hỉ thước mổ ăn. Trên bãi cỏ một đám khiên ngưu dại nền trắng pha tím, sáng sớm nở ra đóa hoa tươi tốt, ban đêm lần lượt khép lại. Hoa dahlia nở đến sáng rực chói mắt, như lời thề ước. Mèo hoang nằm dưới cây bách ngủ yên.

Trong tất thảy những sự dung nạp và tiếp nhận có vẻ như bị động lặng lẽ, có thể cảm nhận được một sức mạnh tích cực tồn tại.

*

Buổi chiều hái quả hạnh. Đi bộ vào núi, cả vạt lớn rừng cây ăn quả. Từ trên cành cây hái xuống một quả hạnh đã chín mềm, bóc vỏ, thịt quả mọng nước tươi rói thơm phức, tỏa ra sức nóng của ánh nắng. Cảm giác ăn vào, hoàn toàn hòa thành một khối với thân thể. Sự vật cần thời cơ đúng lúc, không sớm không muộn. Gặp gỡ cần xảo hợp nhân duyên hoàn mỹ.

Hái quả hạnh xong, nói chuyện phiếm với bác nông dân. Bác bảo quả ở trên cây, độ ấm của ánh nắng hay mưa lớn đột ngột đều sẽ ảnh hưởng đến nó. Mỗi ngày bên trong của nó đều đang phát sinh biến hóa, đều đang đứng trước vô thường. Do đó, kịp thời hái xuống và hưởng dụng nó chính là phương thức tốt nhất.   

*

Đêm hè đọc Ihara Saikaku cũng là một việc tuyệt diệu. Tính khoát đạt đối với tình dục và tình yêu, sống và chết mà văn học cổ điển Nhật Bản truyền đạt, là cơ sở quan trọng trong triết học nhân sinh và thẩm mỹ quan của họ. Ngữ điệu say sưa hứng thú song lại không gợn sóng gió, kể về dục tình nam nữ, dời đổi thế sự, giống như một cảnh hoa nở hoa rụng. Cuối cùng đều phó cho biển cả, cuồn cuộn trôi đi, một vật không còn, rành rành hiển hiện. Ihara Saikaku rất có mùi vị chân thực của ý thiền. Khiến ta đọc đến trong lòng sáng láng như gương.

Làm sao đối đãi tình dục, làm sao đối đãi cái chết. Những vấn đề bị cấm kỵ này là vấn đề quan trọng và thực tế mà ta cần phải đối mặt. Nó cùng với chuyện có ăn no hay không, có sống được hay không, là thuộc tính thống nhất. Phương thức xử lý của người Nhật là phương thức tôi thích. Họ đối mặt, tiếp nhận, hưởng thụ, an nhiên. Cho cảm giác siêu việt của thẩm mỹ, lại xem đó là bình thường.

Chỉ có hiểu rõ thái độ này, mới có thể hiểu rõ sự trịnh trọng và khoát đạt đầy đủ phân lượng khi họ đối đãi non nước sân vườn, một cảnh hoa nở, một tách trà..., và thẩm thấu trong quan hệ giữa con người với vạn sự vạn vật. 

*

Ao vườn nhà, hoa sen đã nở rộ. Thông thường trước tiên có một đóa bung cánh sớm nhất, trong một đêm, những đóa khác lần lượt hé mở. Lá sen có thể nấu cháo. Nước cháo trắng nhuốm màu xanh lá mượt mà, quyện hương thơm thoang thoảng của cánh sen, trộn với đường phèn. Lá sen khi cháo nấu chín sắp tắt lửa bỏ vào đậy nắp. Năm nay, cả ao sen đỏ độc nhất mọc ra một gốc sen trắng. Chẳng biết nó vì sao mà trổ.

Lá sen san sát, kết thành bóng râm xanh mát. Chuồn chuồn đỏ thường xuyên ghé thăm. Buổi tối nghe tiếng ếch kêu đi vào giấc ngủ.

*

Màu móng tay nhuộm bằng hoa phụng tiên thoáng pha sắc vàng hạnh hơi say. Dù là cánh hoa màu gì, đỏ sậm, hồng phấn, tím nhạt, trắng, màu sắc nhuộm ra cuối cùng đều như nhau. Trên ngón tay ngửi được hương thơm thoang thoảng của nước cốt hoa. Thiên nhiên ban cho phụ nữ rất nhiều quà tặng. Phụ nữ nên giống như thực vật dung nạp và tiếp nhận một cách yên tĩnh mà tự nhiên. Phụ nữ nên chờ đợi được yêu.     

*

Hoàng hôn trời mưa rất to, mất ngủ, đọc quyển “Đại viên mãn” mượn về. Bên gối ngửi được hương thơm của hoa dành dành. Tiếng địa phương có từ “thơm nức”, dùng với nó là thích hợp nhất. Hương thơm của hoa dành dành chất phác mà bồng bột. Thời thơ ấu, những người phụ nữ bên cạnh tôi, mẹ, bà ngoại, đều quen cài hoa dành dành trắng tinh thơm ngát trên người. Ở miền nam, họ gọi nó là hoa ngọc hà.

Hôm nay lục tìm một chiếc áo lạc mất đã lâu. Uống trà, gọi là Lan Hoa Quan Âm. Rất đẹp.

(An Ni Bảo Bối)

Thanh tỉnh kỷ (Một số câu trích)

 
Cô độc là, khi bạn cần người khác, bạn tìm khắp không ra. Khi bạn không cần người khác, bạn tự cấp tự túc.

*

Trong năm, luôn cố định đến một thành phố miền nam du lịch. Xuân ngắm đào, hạ ngắm sen, thu ngắm quế, đông ngắm mai. Làm khách thưởng hoa có tình có ý. Bởi thế bốn mùa rành rọt.

*

Nước một khi chảy sâu, sẽ không phát ra tiếng. Tình cảm con người một khi sâu sắc, cũng sẽ tỏ ra đạm bạc.

*

Cho dù là rời xa. Cũng phải ghi nhớ điều tốt của đôi bên. Luôn luôn tưởng niệm. Đây chính là một đốm lửa ấm áp nho nhỏ giữ lại cho mình, trong thế gian xao động. Có tình có ý. Lòng vương lưu luyến.

*

Trước giờ không cùng với nhiều người ồn ào ăn sinh nhật. Cảm thấy sinh nhật không đáng ăn mừng, cũng luôn cảm thấy đây là chuyện chẳng liên quan đến người khác. Nó càng giống như chỉ là một ngày dùng để nuông chiều bản thân, một cách lặng lẽ.

*

Không thể phủ nhận, lòng nhẫn nại và trân trọng của chúng ta trở nên rất ít ỏi. Những khuôn mặt xa lạ của thế gian qua lại như thoi đưa, đôi bên cũng chỉ có thể chán chường qua quýt.

*

Tình yêu có lúc chỉ là một đóa hoa gặp sao yên vậy. Nở một chút. Đã phải rụng xuống.

*

Kẻ lười biếng trên thực chất là nội tâm kiên định. Biết thứ mình cần nhất là gì. Một khi quyết định, sẽ quán triệt đến cùng.

*

Con người càng lớn tuổi, thì sẽ dần dà đối với người bên cạnh càng ngày càng hờ hững. Rất nhiều người đã xuất hiện. Lại đã biến mất. Giống như ngồi xem mây tụ mây tan, thực sự chẳng có gì giải thích thuyết minh. Bạn bè có ly có hợp, người yêu đây trồi đó sụt. Rất nhiều tình cảm mục đích không thuần, hướng đi không rõ, đối đãi không tốt. Tình cảm có thể nắm giữ trong tay chúng ta, xét cho cùng là chuyện của mấy ai.
 
(An Ni Bảo Bối)

9.5.14

Miên Không (Trích đoạn: Nấu ăn)


Gặp gỡ với người, cùng uống trà hoặc uống tách cà phê, hơn hẳn ăn cơm ở nhà hàng huyên náo ầm ĩ. Nguyên liệu và cách chế biến khi ăn bên ngoài không thể đảm bảo tươi sốt và an toàn. Đến nhà dùng cơm là chuyện thân thiết. Cơm nước đạm bạc là thứ yếu, gặp mặt uống rượu tâm sự mới là mấu chốt. Nếu có rượu ngon, trà thơm, chuyện vui, đủ để bù đắp tất cả. Ăn gì là thứ yếu. Ăn thế nào mới là quan trọng.

Mấy lần ăn cơm ở chùa, ấn tượng rất sâu sắc. Có người đến thêm canh thêm thức ăn, cơm canh được cúng dường không thể kén chọn mà nên có lòng biết ơn. Tư thế đoan chính, toàn tâm toàn ý, ăn hết thức ăn trong bát. Giữ yên lặng, không nói chuyện. Không có đánh giá, cũng không thừa mứa. Trong tâm cảnh như thế, nó là ngon ngọt no đủ. Trẻ em nên sống một thời gian ngắn trong chùa, như thế chúng sẽ học được làm sao ăn cơm, làm sao đối xử với thức ăn.

Trong cuộc sống của một cô gái trưởng thành, vị trí của nhà bếp dần dần tỏ ra quan trọng. Thời thiếu nữ, chẳng cô bé nào muốn nán lại trong bếp. Tốt nhất ăn cơm cũng vội vã, bỏ bát cơm xuống lập tức chạy đến chân trời góc biển. Từ nhỏ đến lớn, mẹ chưa từng yêu cầu tôi nấu cơm rửa bát. Do không trải qua huấn luyện, thiếu thường thức và kỹ xảo đối với công việc bếp núc. Sau khi trưởng thành, rất ít nấu cơm cho đàn ông ăn. Thông thường đàn ông sẽ nấu cơm cho tôi ăn.

Một lần dì đến thăm, vô ý nhắc tới, lúc nhỏ ở quê chơi đùa, khi ấy tôi bé tí, dì là cô bé con, không có đồ chơi, nghịch ngợm vô tri, bắt chim én trên mái nhà xuống, hai đứa cùng chơi. Bị người khác quở mắng ngay tại chỗ, vì nông dân đều cực kỳ yêu quý chim én. Ở miền nam lưu truyền một cách nói, bé gái chỉ cần từng chơi nghịch chim én, sẽ không thể nấu cơm canh ngon nữa. Do đó dì bảo dì cũng không thạo nấu cơm, ăn cơm đàn ông nấu.

Lấy một miếng thịt vai bò, dùng dầu ô-liu, dấm thơm Ý, tỏi, đường vàng, bách lý hương, nước cốt chanh trộn chung ướp thịt. Để trong tủ lạnh một đêm, trưa hôm sau lấy ra rán. Trong khi nhẫn nại xử lý thức ăn, con người học được cách nhận thức, thực hành, sàng lọc và chọn lấy đối với các loại nguyên tố bên ngoài phong phú, cách sắp xếp thứ tự và tâm thái khách quan đối với tính ngẫu nhiên và tính tất nhiên. Cách cho phép và chờ đợi đối với những điều bất khả tri.

Hiện nay dần dần yêu thích nấu nướng. Thu thập thực phổ. Có lúc loay hoay trong bếp là chuyện vui thú. Mở đài, nghe bài hát xưa cũ, lần lượt bày vẽ. Rượu trái cây ngâm trong bình pha lê lớn, các loại trái cây theo thứ tự mùa vụ bỏ vào rượu chưng cất, từ từ màu sắc ngâm thành đỏ sậm, khoảng bốn tháng sau nếm thử được. Vừa làm, vừa thanh lý. Thỉnh thoảng ngừng đợi, có thể ngắm vườn hoa ngoài cửa sổ, cho mình nhấm nháp một ly.

Sau khi kết thúc công việc hoặc việc nhà, đi vào bếp. Có một chiếc tủ kính chuyên đựng những đồ vật này. Các loại tách trà, ấm trà, dụng cụ pha trà, đồ tre trúc, ly đĩa chén bát. Trên bát vẽ lá thông, bông hoa, đám mây, cổ kính giản dị, nền trắng hoa xanh. Có bạn cũ bạn thân hoặc khách phương xa đến, chọn vài chiếc đem ra, rửa sạch lau khô, bày quả hạt, trái cây, bánh trái, cành hoa lên trên, pha một ấm trà xanh, trò chuyện bên bàn. Đối diện tách nhỏ khay nhỏ, mắt cũng trong sáng vui thích.

Trong các loại trà chọn một loại phù hợp tâm trạng hiện tại, rửa tay, đun nước, pha một ấm trà nhỏ, bưng đến trên bàn ăn, ngồi bên bàn nhìn xuống vườn hoa dưới nhà. Sáng, chiều, hoàng hôn, đêm khuya. Tia sáng và cảnh tượng của vườn hoa nhỏ luôn biến hóa, những tòa lầu cao ngất nơi xa và tầng mây trên bầu trời ấy. Trong quảng trường vườn hoa trẻ em tụ tập trượt ván trượt, tiếng cười và tiếng gọi vang vang, ở nơi kín đáo trầm trầm vọng lại. Trang trí phát sáng trên bánh xe ván trượt nhấp nháy ánh sáng đủ màu. Chân trời có tầng mây mong mỏng. Đôi lúc trong không khí còn vương vất mùi thức ăn thừa.

Thời khắc thế này đối với tôi, kết nối sâu xa với nội tâm, vì thế có được tĩnh mịch.



(An Ni Bảo Bối)

24.4.14

Buồn tẻ

Đương nhiên là từng có lúc rất buồn tẻ. Chẳng biết có thể tìm người nào ra tán gẫu. Một mình ở quán cơm nhỏ ăn phần hải sản cà ri, gọi pudding với matcha, ngồi đó xem hết tất cả tạp chí. Trong quán thông thường chẳng có ai, ba người châu Âu đang uống bia, hai nữ một nam, trò chuyện sôi nổi. Lại đến một ông Tây, ngồi cạnh tôi mở notebook ra, khăng khăng đòi uống trà nóng, ngồi một lát, thanh toán rồi đi.

Trong quán cà ri ở lầu 2 trung tâm thương mại, một cô gái thường đơn độc xuất hiện. Cầm túi xách LV, một mình trải qua buổi chiều dài đằng đẵng, soi gương dặm phấn, hút thuốc, lật đọc các tạp chí quá hạn, uống cà phê mocha, thỉnh thoảng hướng vào điện thoại di động nói tiếng phổ thông giọng Đài Loan. Bụng dưới của cô nhô lên, dáng vẻ uể oải, để lại túi xách trên bàn đi vào nhà vệ sinh.

Có một cô gái trẻ bắt chuyện với một ông Tây, thái độ cực kỳ chủ động, lời lẽ nhạt nhẽo, trả lời không đúng câu hỏi. Hai người như trong mây mù, hoàn toàn không nắm bắt được nội dung chủ yếu.

Sự sa lầy không thể tự giải thoát của tất cả mọi người.

Mỗi người đều sống trong chiếc lồng giam của chính mình.


(An Ni Bảo Bối)

10.4.14

Việt Nam, Việt Nam

Nếu có thể ra nước ngoài du lịch, trạm đầu tiên khẳng định là Việt Nam. Đây là chuyện sớm đã nghĩ xong.

Trước đó xem phim điện ảnh “Trời và Đất” của Oliver Stone, cô gái kiên cường có đôi mắt sáng, mặc áo dài màu trắng, tay cầm nón lá, đi giữa cánh đồng xanh ngát. Còn có phim “Đông Dương” do Deneuve đóng vai chính, nàng công chúa gặp nạn và chàng trung úy người Pháp nương tựa lẫn nhau trong màn sương mù dày đặc của Vịnh Hạ Long. Những cảnh quay này đóng băng khung hình thành ảo giác trong lòng.

So với Việt Nam mà đạo diễn bản địa Trần Anh Hùng tỉ mỉ trau chuốt, tôi càng mê luyến với Việt Nam trong hồi ức của người Mỹ từng tham gia cuộc chiến Việt Nam, và Việt Nam trong vinh quang và thất lạc còn vương hơi hướm của người Pháp.

Nó là đau khổ, ngây thơ, trầm tĩnh như thế. Không sao hiểu nổi.

Còn trong tiểu thuyết và phim điện ảnh của Duras, Việt Nam là quê hương bà xem là hổ thẹn. Là tiếng kêu ré và trầm mặc trong máu của bà. Là cảnh ngộ vắng vẻ của bà. Tôi thủy chung chưa từng được biết sau khi bà về Pháp, có từng quay lại Việt Nam hay không. Theo tản văn của bà viết, chắc là không có. Hồi ức của bà đối với nơi này đã biến thành vết thương, do đó thà rằng xưng mình là “một người không có quê hương.”

Hoa nhài. Cá sấu và khỉ. Đầm lầy nóng bức. Sông Mekong. Phà ngang. Phố xá ồn ào. Đồng lúa. Mùi của nước mưa.

Hết thảy tất cả những thứ này, theo tiến triển của hành trình, từng thứ một phơi bày ra.

Trước đây nghĩ đến du lịch, tôi từng nghĩ phải đi Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, Ấn Độ, Lào, Nepal, Miến Điện, Thái Lan… Tất cả các nước trong cảm giác mang một mỹ cảm kỳ dị, nhưng rất ít nghĩ đến Châu Âu hoặc một số nước phát triển.

Việt Nam là trạm đầu tiên của tôi, nên thuộc về phạm vi các nước liệt kê ở trước. Nó đã làm cho kế hoạch của tôi kiên định. Tôi cực kỳ thích quan hệ gắn bó không thể chia cắt của họ với thiên nhiên: bầu trời, thảm thực vật, đồng bằng, ruộng vườn, dòng sông, vĩnh viễn là cuộc sống tiếp cận nhất. Tính tôn giáo của họ. Lòng nhẫn nại của họ. Âm nhạc của họ.

Tôi mua ba đĩa CD ở Sài Gòn đem về nhà. Là âm nhạc Việt Nam điển hình. Trong âm nhạc của họ không có bất cứ phẫn nộ nào, chỉ có bi thương hoặc vui vẻ. Tất cả tình cảm đơn giản thuần túy nhất.

Đồ ăn rất ngon. Xào chung các loại rau, thanh đạm, gia vị chua ngọt, lúc nào cũng kèm theo một đĩa rau sống tươi rói. Ẩm thực dạng này hẳn rất lành mạnh.

Còn khi một người muốn ẩn cư, Huế là chọn lựa tốt nhất. Sẽ chẳng tìm được trấn nhỏ nào tĩnh mịch bình yên hơn nó. Ở đây, có thể cùng người mình yêu mai danh ẩn tính, sinh rất nhiều con. Có lẽ sẽ có hạnh phúc.

Hồi ức sẽ dần dần ngắt quãng. Việt Nam, dần dần không thể kể hết bằng lời. Dù là Hà Nội hay là Sài Gòn, chúng sao mà quen thuộc, khiến con người khi dừng chân ở lại, âm thầm mà trầm tĩnh.

Khi tôi gần gũi nó, ngỡ rằng đã chạm đến, và đã xoa dịu linh hồn của tôi.


(An Ni Bảo Bối)

6.4.14

Khách qua đường

Trò chuyện với một cô gái. Cô từng dừng chân nơi thôn xóm cổ xưa của Vân Nam, thích không khí yên tĩnh ở đó, bỏ tiền thuê một sân vườn lớn của cư dân địa phương, trồng cây trồng hoa, mở quán cà phê sách.

Tất cả những người mở quán ở đó đều từ nơi khác đến, ẩn cư dài hạn. Ban ngày ai làm việc nấy, ban đêm tụ tập một chỗ, chơi bida, uống rượu, tán dóc, vây quanh đống lửa và con chó to, đêm đêm đàn ca. Nhưng cô bảo, thời gian lâu ngày, thì sẽ phát hiện có vấn đề rất lớn. Xưa nay đều không thể làm bạn, không thể dốc bầu tâm sự với những người này, chẳng ai nói ra quá khứ và kế hoạch chân thực của mình. Mỗi người đều có bí mật, đều có cử động bất ngờ. Dù đôi bên cảm giác rất hợp nhau, cũng hai ba ngày là rã đám. Cô nói, không giao kết được người bạn nào ở đó.

Nhưng điều này chưa hẳn không phải là một phương thức hợp lý, đối với người đi đường, khách qua đường đến đi như nước chảy, đôi bên vô tình, phù hợp tưởng tượng. Họ biết sự đoàn tụ vui vẻ giữa người và người có thể khiến tốc độ đời người tăng nhanh, nhưng trong chốn sâu nội tâm, cô lập lớn mạnh, tịnh không ỷ lại, cũng không tin tưởng. Không cần trú lưu dài hạn, điều này sẽ khiến con người có gánh nặng, cũng là vương vấn nhẹ nhàng không thể tiếp nhận.

Ý nghĩa của cái gọi là bạn bè, chẳng qua là náo nhiệt thêm hoa trên gấm. Vực sâu nội tâm của mỗi người, nếu có đau khổ, hồi ức hay thứ khác, trước sau chỉ có thể tự mình đơn độc đứng bên vách núi, đối mặt với áp lực này. Anh ta không thể để người khác đến tham quan vực sâu này, lý giải giữa người và người hoàn toàn trống đánh xuôi kèn thổi ngược, cũng rất ít có lòng thương xót. Đại để chính là như thế.

Do đó, hà tất lưu luyến, hà tất gửi gắm kỳ vọng sâu nặng lâu dài cho đối phương. Sau khi ôm nhau, phủi áo ra đi, đôi bên lãng quên. Đây là phương thức của khách qua đường.


(An Ni Bảo Bối)

24.1.14

Tuổi thơ



Ông ngoại trồng nhiều khoai lang trong ruộng. Khoai lang thu hoạch phơi khô xắt thành sợi nhỏ màu trắng, trên mặt có mạt phấn li ti. Gom góp lại, có thể ăn trong thời gian rất dài. Lá khoai lang dùng để nuôi lợn, bà ngoại dùng lá khoai bí đỏ và cám nuôi con lợn lớn. Tro bếp sau khi củi khô cháy hết vẫn còn sức nóng, vùi sâu vò gốm đựng khoai lang khô và đậu đỏ vào giữa đống tro, ủ một đêm, buổi sáng lấy vò gốm ra, cháo bên trong ấm nóng mà chín nhừ, cho một muổng đường trắng vào, quấy cháo, qua họng xuống bụng, tỉ mỉ thỏa đáng. Họ đều thích ăn ngọt.

Bà ngoại luôn dậy sớm. Khoảng hơn năm giờ trời chưa sáng, bà đã thức dậy qua lại như con thoi giữa nhà bếp và gian phòng. Bà giống như mỗi người phụ nữ nông thôn thời đó, cần cù xoay mòng mòng, việc nhà làm không hết. Lúc sắp Tết, đặc biệt bận rộn, xay nếp thành bột, làm bánh tổ, rang hạt dưa đậu phộng và bánh cốm gạo, tất cả bánh trái đều tự mình làm, từng vỉ từng vỉ hấp chín. Hai loại bánh thường làm dịp Tết, một loại là bánh nếp nhân đậu, đậu giã nhuyễn thêm đường trắng và hoa quế, rất là ngọt ngấy, mặt bánh rắc hạt gạo màu đỏ, ở giữa nhuộm màu đỏ, gọi là “hồng đoàn đoàn”. Còn có một loại là nhân sợi củ cải dưa muối đậu phụ khô, lớp nếp hơi cứng, khi nhai càng thoang thoảng mùi thơm.

Tinh mơ ngày đông giáp Tết, bà ngoại sáng dậy vô cùng bận rộn. Lò lửa trong bếp, củi khô nhét vào, ngọn lửa chập chờn, cành thông và cây bụi phát ra tiếng nứt giòn lách tách. Tiếng múc nước từ giếng trời trong sân đổ vào lu nước. Tiếng gà vịt và lợn kêu. Tiếng mâm bát. Tiếng bước chân bận rộn mà nhanh nhẹn... Đủ thứ âm thanh, kinh động một buổi sớm bình thường. Chăn bông hơi nặng, nhưng rất ấm áp, chỉ có khuôn mặt lộ ra ngoài lạnh buốt. Dù tỉnh giấc cũng không muốn lập tức thức dậy mặc áo, nằm trong lam quang hừng đông tờ mờ, ngắm ánh sáng của ngọn lửa nhấp nháy trong bóng tối, bên tai đan xen những tiếng động rộn ràng nhưng không nhốn nháo, trong lòng chỉ cảm thấy cực kỳ yên tĩnh. Lại chỉ cảm thấy mình sẽ mất đi thời khắc như vậy, thời thơ ấu trong lòng đã có rầu rĩ.

Mùa xuân, cây hạnh trồng trong sân nở hoa, cánh hoa màu hồng rơi rắc đầy đất. Đầu hạ, hoa dành dành nở hàng trăm đóa, đến kỳ nở rộ, hái hoa xuống chia tặng hàng xóm. Chưng trong phòng, cài bên áo, giắt trên tóc, đều thật là thơm. Hương thơm phưng phức. Chiều hè nóng nực nắng gắt, từ trong sân khẽ khàng đi ra, đến bên khe suối, giẫm đá cuội dưới suối mát lạnh, cá nhỏ tôm nhỏ quờ quạng va vào mu bàn chân, dùng lưới bắt chúng. Cuối thu bầu trời xanh thăm thẳm, không khí cũng lành lạnh. Còn tuyết lớn đêm đông luôn đến một cách im lìm, sớm mai đẩy cửa sổ, mới kinh ngạc phát giác trời đất đã trắng xóa mênh mang.

Vẻ đẹp của thiên nhiên, xưa nay đều phong phú đoan trang. Trịnh trọng tự kiềm chế. Giống như một dạng trật tự, một lẽ đạo lý.
   
Tôi thuở nhỏ, thi thoảng nằm ở chỗ phơi sân thượng ngóng trông núi cao, mải nhìn ven rìa đỉnh núi chót vót bên trên xa không tới được, trong lòng hướng về chúng, khao khát có thể leo lên đỉnh núi, thăm dò chốn sâu trong núi, biết ở đó rốt cuộc có những thứ gì. Nhưng khi đứng trên đỉnh núi, nhìn thấy vẫn là dáng thần bí sâu xa khôn lường này. Ngụ ý của nỗi khiếp sợ trước uy lực thiên nhiên chưa bao giờ cùng tận.

Một đứa trẻ có tuổi thơ trải qua ở làng quê, là tao ngộ may mắn. Sống không gò bó giữa trời đất, tựa như cỏ dại sinh trưởng mạnh mẽ, sức sống rất mực thịnh vượng. Núi cao, đồng ruộng, thản nhiên như thường giữa trời đất, càng chẳng có liên quan đến nhân thế xao động. Tình cảm của một người đối với đất đai và thiên nhiên, khiến anh ta giữ khoảng cách nhỏ bé mà siêu thoát với thế gian. Sẽ không giống người khác.


(An Ni Bảo Bối)

17.1.14

Hội pháo hoa

Xem một màn pháo hoa, cuối cùng ngửa mặt xem mãi đến mỏi cổ nhức mắt. Gió rất lạnh, thế là chúng tôi quyết định phải về nhà nghỉ ngơi. Tìm bờ vai ấm áp, thấy mình già đi, sức lực và năng lượng dần dần không đủ. Thế là chúng tôi quyết định không yêu nhau nữa.

Không cần nghĩ đến. Dù là nỗi nhớ thoáng qua. Bất cứ ai, mất đi một người khác, đều sẽ sống y như trước đó. Ủ ê chua xót là chuyện thuộc về hoài niệm. Nhưng lãng quên càng nhẹ nhõm.

Chẳng phải dạng như bạn nghĩ. Tình cảm tha thiết, xưa nay đều không bền bỉ.


(Trích “Thanh tỉnh kỷ”, An Ni Bảo Bối)

15.1.14

Cô độc

Anh nói, hy vọng đến lúc ba mươi tuổi, sẽ không cô độc như hiện tại. Suốt ngày một mình một bóng. Là nỗi cô độc thiếu thốn chẳng có ý nghĩa gì cả.

Cô nói, em đang già đi, nhưng hiện tại vẫn cô độc như lúc hai mươi lăm tuổi. Cô độc và tuổi tác không có liên quan. Chỉ cần anh sống, thì sẽ cô độc.

Gian phòng tối đen. Cành cây trụi lủi ngoài cửa sổ kính vỡ nát. Thiết bị hiển thị của vi tính vẫn tỏa ra ánh sáng bức xạ nhợt nhạt. Trong bóng tối, cô ngồi trên ghế. Hút một điếu thuốc. Chẳng có chốn về.


(Trích “Thanh tỉnh kỷ”, An Ni Bảo Bối)

14.1.14

Người yêu

Yêu một người, là một chuyện giản đơn. Cũng giống như dùng ly đựng đầy một ly nước, trong trong mát mát uống xuống. Cơ thể bạn cần nó, cảm giác mình khỏe mạnh và vui vẻ. Lấy đó nhận định nó là một thói quen tốt. Do đó bằng lòng ngày ngày đêm đêm lặp lại.

Yêu một người, không trở thành một chuyện giản đơn, đó nhất định là vì độ sâu tình cảm không đủ. Nếu muốn hoài nghi, từ giá trị quan thẳng đến lỗ chân lông trên da, đều sẽ tồn tại chia rẽ. Từng điều từng điều lôi ra, bắt bẻ và đòi hỏi lẫn nhau. Giận không thể khiến người ấy giơ cao hai tay đầu hàng. Nhưng có lẽ đầu hàng cũng chẳng hề có tác dụng.

Bởi vì bạn yêu người này không đủ. Do đó ngay cả anh ấy nói thêm một câu đều sẽ có lỗi.

Tình yêu tuổi trẻ, nhất thiết phải máu thịt bay tứ tung mới xem là khoan khoái.

Món đồ chơi đã không phải là kiểu dáng cần có, nhưng quen nắm trong tay rồi, vì vậy vẫn không bỏ xuống được. Vừa trách móc vừa tuyệt đối không rời không bỏ. Đặt mình trong tình cảm và không hiểu được khoan dung thương xót. Ngoài đòi hỏi vẫn là đòi hỏi. Mở miệng vặn hỏi ắt là, vì sao anh không yêu em nữa.

Dường như yêu là cực cùng của mọi ý đồ.

Phải qua rất lâu, mới hiểu rõ, yêu, tịnh không phải là một sự kiện. Một kiểu truy tìm. Cũng không nhắm đến bất cứ một đối phương xác định nào.

Không phải là công cụ để thỏa mãn nội tâm ích kỷ và kiêu ngạo của mình, cũng không phải là vũ khí để đối kháng bản chất hư vô.

Nó chỉ là một kiểu phương thức tư duy. Nó là một kiểu tín ngưỡng.

Nhất định không được mong muốn giành lấy thứ bạn thiếu trên người đối phương. Dù là vật chất hay tình cảm.

Tha thứ đối phương cũng là con người yếu đuối có thiếu sót, lại làm sao có thể tham vọng anh bảo hộ và thành toàn.

Dù bạn cần một thần tượng. Nhưng đó nhất định sẽ không phải là người yêu của bạn. Đừng trông mong cứu rỗi lẫn nhau.

Anh nên càng giống người bạn đường bạn đơn độc tình cờ gặp gỡ trong hành trình hoang vắng.

Đêm khuya hoa đẹp trăng tròn, các bạn ai nấy đi qua đường dài dằng dặc mệt mỏi, cảm thấy ngày tháng buồn tẻ mà lại dịu dàng thoải mái.

Vì vậy, hẹn nhau ở dưới cây hoa lê trong khe núi, bày một bình rượu, dốc bầu tâm sự đêm dài.

Nó là sự tín nhiệm bằng lòng trong một khoảng thời gian nào đó, cùng một người trao đổi lẫn nhau lịch sử, ký ức và thời gian.

Trao đổi phần quan trọng mà kín đáo trong sinh mệnh mỗi người. Lại không đòi hỏi đối với mỗi người.

Khi nó đã tồn tại, thì đã mất đi cái gọi là kết quả.


(Trích "Thanh tỉnh kỷ", An Ni Bảo Bối)

1.1.14

Hoa lan

Lúc sáu tuổi, cùng lên núi đào hoa lan với ông ngoại. Mang theo sọt tre, cuốc ngắn, bình nước, đi qua đường nhỏ lát đá cuội trong làng, đi qua luống cày bằng máy ven khe nước lớn chảy róc rách. Một chiếc cầu đá phiến nối hai bờ khe nước. Cầu không có tay vịn không có mái, bắc rất cao, trên rìa có một cây bách lớn, người trong làng thường treo mèo chết lên. Có lúc trên cành cây treo hai ba con, dần dần hong khô.

Sau khi qua cầu, là hai con đường nhỏ rẽ nhánh. Một đường thông về phía đông, qua ngôi miếu thổ địa cổ xưa, đi vào sâu trong núi cao mênh mang. Một đường khác thông về phía tây, ở đó là vạt lớn đồng ruộng canh tác, trồng đầy hoa màu tươi tốt. Hôm ấy đi men theo đường núi phía đông.

Trong miếu thổ địa có hai pho tượng đá nhỏ, trên bàn gỗ cúng trái cây và hoa dại. Tro nhang tích lũy rất dày, đủ thấy thường có người đến dâng hương. Miếu thổ địa nhỏ tuy sơ sài, nhưng lại tỏ ra tĩnh mịch uy nghi. Tầm nhìn rộng rãi, gió núi hiu hiu. Mùa xuân, trong rừng cây xanh lục khắp nơi đều là hoa đỗ quyên màu đỏ. Chỉ cảm thấy vị trí này đặc biệt tốt, nó khiến mọi thứ xung quanh tỏ ra ngay ngắn rõ ràng, thịnh vượng có thừa.

Đường núi sau miếu thổ địa cao dốc không rõ, thông đến núi lớn trùng trùng điệp điệp. Trên núi ngoài hai chúng tôi, cũng không có ai khác. Ông ngoại đeo sọt, dọc đường chẳng nói một câu. Quá nửa đời ông trao cho ruộng đất và lao động, là một người đàn ông trầm lặng. Tôi gắng hết sức duy trì thể lực, để có thể theo kịp bước chân của ông, chỉ cảm thấy con đường núi này dài dằng dặc. Lúc đó đã hoàn toàn rời xa làng xóm và đồng nội.

Núi cao rừng rậm sâu thẳm vắng vẻ, đường nhỏ trong núi xen lẫn cây cối rải đầy lá thông dày dặn. Ánh nắng xế trưa bốc lên mùi cay của nhựa thông, tiếng chim thỉnh thoảng trong trẻo vang lên, như hình với bóng. Chẳng biết đã đi bao lâu, ông ngoại dừng lại, đưa bình nước cho tôi, bảo tôi chờ ở nguyên chỗ. Ông xuôi theo bụi cây không có dấu vết đường đi bò xuống đáy. Dùng tay nắm lấy cỏ tạp, cẩn thận nhích bước, từng chút từng chút tụt xuống. Cỏ xanh um tùm rung rinh trong gió. Bóng dáng ông rất nhanh mất hút.

Ngồi dưới bóng cây trên đỉnh núi, ánh nắng từ kẽ lá thông rắc đến trên mí mắt, giọt giọt ánh vàng nhấp nháy. Trong biếc xanh khắp núi, chỉ nghe tiếng thông reo trầm bổng trong gió lớn, như nước triều nhấp nhô. Gió thật lớn. Sắc trời xanh thẳm vô cùng lan tràn giữa những ngọn núi, mây trắng bồng bềnh. Khoảnh khắc ấy thời gian và trời đất tựa hồ dừng lại, ngưng đọng. Nhưng lại đặc biệt yên tĩnh rộng mở.

Đã đợi rất lâu, ông ngoại từ đáy khe núi bò lên. Cuốc ngắn của ông dính đất bùn, trong sọt tre sau lưng đựng hoa lan mới đào. Rễ to trắng bọc bùn mới, lá xanh dài mảnh giống như cọng cỏ mộc mạc, nụ hoa ẩn nấp trong đó, khó bị phân biệt. Ông càng đi càng xa, tìm kiếm tung tích hoa lan, lại chỉ hái sáu bảy khóm, trong lòng trong sáng, chẳng dính chút gì. Hái xong liền quay về.

Bà ngoại trồng những hoa lan này trong chậu đất thó tô điểm sân nhà, còn dư chia cho hàng xóm. Đài hoa sần sùi chóp phơn phớt tím vểnh lên, không cần phơi quá nhiều nắng, đặt dưới hành lang râm mát, qua mấy ngày nụ hoa đã bừng nở. Đóa hoa màu lục nhạt không dễ gây chú ý, đến gần ngửi kỹ, có một làn hương hoa thấm vào gan ruột, khiến người trong lòng thông suốt. Chúng là mùi hương như thế, khí vị thanh nhã, không khiến người có chút tạp niệm nào. Chỉ sinh trưởng ở khe núi sâu vắng khó đến, cách tuyệt với đời, khó hái, nhưng lại chẳng mảy may kiêu ngạo.

Người trong nhà đều yêu lan. Bản tính chân thực của hoa lan sẽ không bị phục chế và biến dị, cũng không giao dịch với thế gian này. Lan thầm khe vắng, xác đáng biết bao. Ông ngoại biết chúng ở đâu, mùa xuân hàng năm, đem lòng mến mộ vượt đường xa, đến nơi cũ thăm chúng. Điều này để lại ấn tượng trong lòng tôi.


(Trích "Tố niên cẩm thời", An Ni Bảo Bối)

29.12.13

Tình yêu

Tình yêu là hình thức hoa mỹ. Là một lần lễ hội pháo hoa xa xỉ tình cờ nhìn thấy dọc đường. Làm sao bạn có thể biết lúc nào mình gặp được lễ hội long trọng này? Nhưng khi bạn đi ngang, nó vừa khéo nổ tung trên đỉnh đầu bạn. Một số người có lẽ chưa từng gặp, cũng chưa từng tưởng tượng. Một số người đã gặp nhiều lần, cũng biết nó là dạng nào. Chẳng qua là những khác biệt này mà thôi. Điều duy nhất không đổi, bạn biết nó là một màn lễ hội pháo hoa, rực rỡ cao xa, thời gian có hạn. Dừng bước, dùng toàn bộ sức lực thân tâm, ngắm nhìn nó, cảm ơn nó. Sau khi nó lụi tàn, yên lặng quay người, tiếp tục đi trên đường trong màn đêm đen tối.

Có lẽ đó chính là bản chất của mọi tình yêu.


(An Ni Bảo Bối)

Mẹ

Mẹ có rất nhiều áo vải bông cũ mà đẹp. Mẹ càng ngày càng gầy. Mẹ hút thuốc. Mẹ ngồi xổm người xuống đón con nhoài vào lòng mẹ. Mẹ xoa tay chân con khi con ngủ. Mẹ có lúc mắt ngấn ánh lệ, nhưng vẫn mỉm cười. Mẹ bón cơm, tắm rửa, mặc áo, lau chùi cho con. Mẹ phần lớn thời gian luôn yên lặng, không nói chuyện. Mẹ dạy con đọc thuộc lòng thơ cổ. Mẹ hát ru con trước khi con ngủ. Mẹ hôn con, nói mẹ yêu con. Mẹ có lúc chẳng biết tung tích, lặng lẽ biến mất. Mẹ lại trở về. Mẹ luôn đọc, làm việc. Mẹ cõng con dạo chơi ở vườn hoa trong mưa. Mẹ có ánh mắt cô đơn. Mẹ dắt con đi rất nhiều nơi. Mẹ ngắt xuống một đóa nguyệt quý nở rộ trong gió nhẹ buổi chiều, trịnh trọng chuyền đến tay con. Mẹ bảo con ngửi hương thơm của cánh hoa. Mẹ lại hôn tóc con. Mẹ đang già đi.

(An Ni Bảo Bối)

12.11.13

Nguyệt Đường Ký (13)

Thấm thoắt xuân đến, sau ba tháng đầu mang thai, thân thể và tình cảm Trùng Quang dần dần ổn định. Cô về nông trường ở, sớm đã cai thuốc lá, không còn đụng đến rượu mạnh, phiền muộn lắng xuống, đồng thời cũng triệt để lánh mặt, không gặp người ngoài, không làm việc nữa. Cô và Thanh Hựu cùng trồng chuối, tú cầu châu Âu, thục quỳ, dành dành, thanh trúc. Cùng anh quây hàng rào, dựng giàn dây leo. Thanh Hựu dạy cô cách dựng giàn nho, bứng trồng cây con và cắt cành tưới nước cho cây. Cô trồng các cây thuốc như hoắc hương, bạc hà, tam thất, ở bờ tường trồng hoa khiên ngưu, phụng tiên, hoa hướng dương, là những hoa cỏ gia đình mà thuở nhỏ cô có ấn tượng sâu sắc. Sáng sớm, hái nụ hoa màu lục chớm nở trên cành hoa kim ngân, gom lại, để Thanh Hựu ngâm nước uống, hái rau tươi trong vườn rau, chuẩn bị cơm nước. Buổi tối anh xong việc trở về, cùng anh tản bộ, ngắm ráng chiều nơi chân trời, xoa bóp vai lưng cho anh, chăm sóc anh từng ly từng tý.

Cô vẫn giống như lúc mới quen anh, đôi mắt luôn lặng lẽ chăm chú dõi theo dáng hình của anh. Người đàn ông cao lớn rắn rỏi này, dáng anh đi đường, dáng anh nói chuyện, dáng anh làm việc. Tất cả trong mắt cô đều thật thỏa đáng. Dường như con người này đến với thế gian này, thân thể của anh, nội tâm của anh, là vì cô mà sinh ra.

Tìm được một người đàn ông ôn hậu thuần lương, cùng anh chung giường chung gối, đồng cam cộng khổ, sinh con đẻ cái, bách niên giai lão. Người phụ nữ dù có thể gắng sức đạt đến ngôi cao lạnh lẽo hoa lệ, nhưng đem lại cho cô bình yên, rốt cuộc vẫn là sinh một đứa con cho người đàn ông mình yêu. Chính là bản tính tự nhiên giản dị như thế. Hợp lý phải đạo. Trùng Quang cảm thấy có thể nhìn rõ bản thân, hạ thấp bản thân như vậy, đối với người vẫn quen tự ý thức cực kỳ cao đạo như cô, ngược lại là một thu hoạch. Người đàn ông này xứng đáng để gửi gắm. Anh có thể chăm sóc cô và con của họ, anh có khả năng cho họ nương tựa. Có một sinh mệnh mới thuần khiết tươi sáng, bầu bạn cuộc sống dần dần già đi của anh, tăng thêm thú vui và trách nhiệm đối với trần thế, thì có gì không tốt. Cô mang thai đứa con này, vô cùng an tâm.

Cô nói với anh, cô sẽ dành một khoảng thời gian cho con và gia đình. Đương nhiên, sau đó vẫn phải làm việc. Cô cảm thấy mình trước giờ chẳng phải là người nội trợ điển hình. Sau này cũng không phải. Cô được ban ơn, trong lòng có nguyện vọng, thực hiện những nguyện vọng ấy. Muốn gì, có nấy. Đó là vì cô luôn tuân thủ và kiên trì chỉ dẫn của đạo, nội tâm phục tùng cung kính. Cô nên vì người khác cống hiến nhiều hơn.

Mùa xuân này, cô nhìn thấy những bông hoa nhấp nhô như sóng nước cuộn đến. Tường vi đầu tường, cành lá sum suê, nụ hoa chi chít. Màu sắc có ba loại: hồng phấn, trắng, hồng đậm. Khi cô dậy sớm, mở cửa sổ nhà vệ sinh, chuẩn bị rửa mặt chải đầu, nhìn thấy chúng trong một đêm lác đác hé nở, như một lời hẹn ước. Với tay ra, ngắt một đóa, nhụy hoa màu vàng thẳng đứng, cánh hoa nho nhỏ trùng điệp. Chải đầu xong, dùng kẹp tóc gắn hoa lên một bên búi tóc. Mùa xuân này, tóc của Trùng Quang do mang thai đặc biệt đen mượt óng ả. Những sợi tóc trong lúc cô ngủ ban đêm cũng vẫn sinh trưởng. Giống như thai nhi yên tĩnh trong bụng cô. Cô ngắm tường vi, cảm thấy đứa con có lẽ là một bé gái. Thanh Hựu nói sau khi mang thai cô đẹp hơn trước.

Cây ăn quả trồng trong vườn hoa như anh đào, hạnh, lê, đào… đều đã kết thành những trái nhỏ xanh non, ẩn nấp giữa cành cây. Rau non sinh trưởng trong vườn rau. Đinh hương màu trắng từng khóm từng khóm nở rộ, có hương thơm cay nồng. Cúc dại màu vàng nhiều nhất, một vạt lớn miên man trên bãi cỏ, còn có tử vân anh màu tím, bồ công anh bạt ngàn. Chó lông vàng thích hoa, đạp trên bãi cỏ hít ngửi bốn phía. Tử đằng đầy giàn nở tưng bừng, từng chuỗi từng chuỗi hoa tím mặc ý leo cao, sau khi khô héo, tro tàn màu trắng rắc đầy mặt đất. Bên đường chỗ nào cũng thấy diên vĩ màu tím nở dày đặc chi chít. Sau khi diên vĩ nở tàn, thược dược bắt đầu nở, hoa đỏ đóa lớn thập phần kiều diễm.

Đầu xuân, có ngọc lan. Sau đó là anh đào, hoa đào, rồi hải đường. Đến mùa hè, sẽ có hoa nhài và ngọc trâm màu trắng, tử vi, dâm bụt, dâu, đầy ao hoa sen. Một năm nay, Trùng Quang nhìn thấy rất nhiều cây cối, hoa trái cô thấy không thể đếm xuể. Cô mang đứa con trong mình, ngắm măng non nhú ra chóp nhọn từ đất bùn, trái non ẩn nấp dưới phiến lá hình bàn tay của cây vả, chồi non phớt hồng thơm dịu của cây hương thung, cá con hoạt bát bơi lượn và chép gấm to béo sặc sỡ trong ao. Tất cả sự vật đang sinh trưởng, non nớt, phồn thịnh. Thân thể cô cũng đang cảm nhận sức sống bồng bột như thế. Thân thể ngày càng nặng nề, do đó có vẻ đặc biệt trầm tĩnh và thản nhiên. Nó và đất đai sinh sôi thai nghén, thuộc cùng một tính chất. Nó vốn dĩ phải như thế.

Cô nghĩ một ngày nào đó cô sẽ kể cho con nghe những câu chuyện đầy màu sắc thần thánh và khiến người ta kinh ngạc trong cuốn sách cô đã đọc về địa lý và tự nhiên. Chẳng hạn một trong những quần đảo mà Sinbad từng đến, ông nhìn thấy vô số hoa hồng, có đủ các màu đỏ, vàng, lam, trắng, ông bỏ một ít hoa hồng màu lam vào trong áo khoác, áo bắt lửa, thiêu cháy tất cả hoa hồng, nhưng chiếc áo lại bình yên vô sự. Công dụng của những hoa hồng này rất lớn, không ai có thể đem chúng từ trong vườn hoa này ra ngoài… Còn có thể cùng con đọc ngạn ngữ nghề nông: “Tam nguyệt hôn. Tham tinh tịch. Hạnh hoa thịnh. Tang diệp bạch. Hà xạ giác. Kham dạ tác. Lê tinh một. Thủy sinh cốt”. Hoặc: “Cao sơn hữu nhai. Lâm mộc hữu chi. Ưu lai vô phương. Nhân mạc chi tri. Nhân sinh như ký. Đa ưu hà vi. Kim ngã bất lạc. Túy nguyệt như trì…” Đọc thơ cổ là việc vui thú. Có lẽ lúc con còn nhỏ, cô đã có thể cõng con cùng đi du lịch. Cô sẽ tự tay thêu chim non và bông hoa lên váy của bé gái, giống như mẹ cô đã từng thêu cho cô.

Thanh Hựu hỏi Trùng Quang: Em có đặt tên cho con chưa? Trùng Quang nói: Gọi là Nguyệt Đường. Trong vườn hoa có hai cây tây phủ hải đường, Thanh Hựu trồng năm ngoái, năm nay nở đầy những đóa hoa phấn trắng trùng trùng điệp điệp, miên man như ráng mây, hương thơm ngào ngạt. “Nguyệt thượng hải đường” là tên một làn điệu của từ, nhưng vì nó đẹp, Trùng Quang vừa đọc đã nhớ. Cô ngồi nhàn nhã trong sân vườn buổi tối mát rượi, ngắm vầng trăng tròn vành vạnh treo cao, cây hoa óng ánh, ánh trăng chiếu rọi lên những bông hoa và lá cây khuất tối, nhấp nháy tỏa ra ánh sáng li ti như vẩy cá. Con mèo trắng lưu lạc nhẹ nhàng chạy ra từ rừng trúc, như con thoi xuyên qua sân nhà. Ếch trong ao sen kêu ộp oạp, trên lá sen màu lục lăn tăn giọt nước long lanh. Trùng Quang nhẹ nhàng đặt tay trên bụng, đứa con đang sôi nổi chơi đùa cựa quậy trong cơ thể cô. Giờ phút đó cô và con là một.

Đúng vậy. Mọi sự tốt đẹp bình thường trên đời, cũng chính là như thế.

HẾT 
 
(An Ni Bảo Bối)

Nguyệt Đường Ký (12)

Cô luôn thử tìm kiếm một quan hệ ổn định, xác thực, có thể duy trì được cùng thế gian này.

Mối quan hệ ấy có lẽ giống như sự gian nan đau đớn người phụ nữ đương đầu khi sinh nở, cố gắng hoàn thành việc chia xẻ thể xác của mình, dù đứa con một khi thoát ly tử cung của mẹ liền hướng đến độc lập. Mối quan hệ ấy là sự cô độc tràn đầy trong huyết quản và da thịt khi bố cô qua đời, nó ẩn nấp trong bóng tối của cô, sâu không dò được, tựa hồ sắp làm thân thể cô tan nát. Mối quan hệ ấy là hình xăm cô xác định trên da thịt mình, chiếc vòng đeo ở cổ tay, thái độ cô đối đãi với bản thân mình, có thể chết bất cứ lúc nào trong đêm tối không ai hay biết, trên đường đi không ai thân cận. Mối quan hệ ấy là một ngày tháng tám, cô đứng ngoài một căn nhà gõ cửa, tham gia hội đọc kinh, nhìn thấy Thanh Hựu ra mở cửa, người đàn ông ấy sạch sẽ ôn hòa, trên người mặc chiếc sơ mi trắng.

Anh vừa gặp đã chấp nhận cô, nguyện ý cho cô hôn nhân, nếu cô cần anh, anh bằng lòng dìu dắt cô, cùng cô trải qua quãng thời gian không biết kỳ hạn.

Mới cùng Thanh Hựu chung sống mấy tháng, Trùng Quang không làm gì cả, cũng không gặp ai khác. Chỉ thúc thủ ở nhà, cùng anh vun vén gia đình như chim én xây tổ, cùng anh hình bóng không rời. Cô lún vào sự tự đình đốn xưa nay chưa từng có, cũng chưa từng ỷ lại như thế lưu luyến như thế đối với một người đàn ông, do đó có lúc cực kỳ yếu đuối, vô cớ rơi lệ. Thanh Hựu công việc bận rộn, thỉnh thoảng hơn mười một giờ đêm vẫn còn giao tế bên ngoài, cô một mình xem sách trong thư phòng, vừa đợi anh, vừa không dằn lòng được rơi lệ không ngừng. Cô không biết mình vì sao lại như thế. Anh đối xử với cô rất tốt, nhưng cô vẫn cứ rơi lệ.

Có lẽ đường đi trải qua thời gian dài đằng đẵng, Trùng Quang là người cảm nhận chậm, khi phải vượt xuyên những con đường này, cô cắn chặt răng, kiên trì trầm tĩnh, tựa hồ hoàn toàn tê liệt đối với xúc giác đau đớn. Quay đầu ngẫm lại, sự tổn thương khó đối diện, từng ly từng tý, đã thủy chung tích lũy trong con tim nhạy cảm. Những mô thức không tốt bắt đầu từ thời thiếu nữ, dây dưa tình cảm với bọn đàn ông, dày vò làm thương tổn lẫn nhau, rồi do đó gây ra khinh thường. Những đề phòng trường kỳ, lùi bước và tự mình tan biến trước tình người ấm lạnh, thói đời nồng nhạt. Những cảm giác thất vọng và hụt hẫng vô tận giữa trời đất… Cô trước sau đang chờ đợi một người có thể cho cô úp mặt vào lòng bàn tay của anh. Chờ đợi được đỗ lại, được nghỉ ngơi. Dù sau đó vẫn phải tiếp tục lên đường.

Giờ đây, một người đàn ông đã cho cô ơn nghĩa và thương yêu. Cho cô lời cam kết và gia đình ổn định, đó là an toàn và tình cảm mà cô luôn thiếu thốn. Quá trình tâm lý biến hóa cực lớn này cần một giai đoạn dần dần điều chỉnh thích nghi.

Có lúc sau khi anh ngủ, cô ngắm gương mặt anh, cầm tay anh lên, hôn nhẹ mu bàn tay anh, cũng sẽ rơi lệ. Cô thực sự rất biết ơn người đàn ông này.

Cô vẫn không tin thế gian có tình yêu và hôn nhân như truyện cổ tích, một đôi nam nữ có thể ngọt ngào vui sướng vĩnh viễn vô tận. Cô và Thanh Hựu mỗi người là một phần của cá thể tồn tại, đều hết sức độc lập, cứng cỏi và độc đoán, sẽ có tranh luận, sẽ có đôi co. Nếu đổi là đứa trẻ chưa từng trải, kết hôn nhanh chóng sẽ chỉ dẫn đến phân ly nhanh chóng. Nhưng họ là người trưởng thành và trải qua sự đời phức tạp, nên sẽ tiêu hóa, hấp thu, tôi luyện tất cả. Khống chế và chiếm hữu, đều rất yếu đuối. Cô biết,  trong hướng đi của quan hệ cuối cùng, chỉ có ân ái, cam kết và bao dung mới có thể quyết định tất cả.

Sau khi tranh chấp, Thanh Hựu sẽ nhanh chóng xin lỗi cô và tự kiểm điểm. Thời kỳ va chạm ban đầu khiến nội tâm đôi bên mà họ vốn chưa tìm hiểu đầy đủ dần dần hiện ra từng chút một, chân thực và sâu sắc. Cô nhìn thấy trẻ thơ của nội tâm anh, anh cũng nhìn thấy của cô. Tình mẹ dịu dàng đôn hậu trong cô có thể bao dung anh, thấu hiểu anh. Còn anh khi họ quen nhau mười lăm ngày đã nguyện ý cưới cô. Anh đã đặt cược cho cô. Cược này không thể nói là không lớn.

Anh cẩn thận chay tịnh chờ đợi lâu như vậy, cuối cùng đã lấy một cô gái khăng khăng làm theo ý mình. Bất kể nói với cô điều này nên làm hay không nên làm, cô đều làm ngược lại, đó là thanh xuân của cô. Cô từng là cô gái ngỗ nghịch như vậy, lại thường tỏ ra trầm mặc và không nói ra ý nghĩ trong lòng. Tính cách hiện tại tuy dần dần hướng đến cân bằng, nhưng vẫn nhạy cảm đè nén. Có lúc giận anh, cũng không nói chuyện, không từ mà biệt, ba bốn giờ sáng anh tìm thấy cô, cô chạy về phòng mình, lấy rượu uống say, trầm mặc ngủ thiếp đi trên sofa. Cô khiêu chiến phòng tuyến tâm lý của anh.

Họ nhận định đối phương là người quý giá hiếm có trên đời, nên trả giá vì nhau, sự trả giá đó là nhẫn nại, hy sinh, tha thứ, nhượng bộ, thành toàn, nhờ đó khiến cho hôn nhân hoàn chỉnh, chu toàn, tiến triển lâu dài. Trùng Quang biết rất rõ, sự rèn luyện và gợi mở cô có được trong việc này vượt qua nhiều việc cô từng làm. Đây là bản thân cuộc sống thực tế nhất. Cô đã biết làm sao tôn trọng và ái mộ một người đàn ông.

Ba tháng đầu mang thai, Trùng Quang vô cùng khó ở. Nôn, hư nhược, có khuynh hướng u uất gia tăng. Hoàn toàn không thể tự chủ. Thanh Hựu vốn không muốn có con cho lắm, là người theo đạo Phật, anh cảm thấy không có con có thể đoạn tuyệt khổ sở sinh tử luân hồi. Anh nói, Trùng Quang, nếu chúng mình không có con, đợi sau này về già, anh sẽ đưa em đi, muốn đi đâu thì đi đó, như thế tốt biết bao.

Nhưng cô đi siêu âm, nhìn thấy đứa bé lớn khoảng hai tháng trên màn hình, đã có đầu và tứ chi, ở trong một căn phòng nhỏ màu đen, căn phòng nhỏ chứa đầy nước ối. Đứa bé thấp thoáng trôi nổi trong nước ối. Bé trông thật vô tội, thật an tĩnh, con người trắng trẻo bé nhỏ, trong bóng tối vẫn ngấm ngầm tự tại sinh trưởng. Bé sẽ có một đôi mắt giống cô, hình dáng như cánh hoa đào, hay sẽ có một đôi mắt giống Thanh Hựu, đuôi mắt dài, hướng nội. Bé bám trụ sống nhờ trong thân thể máu thịt của cô, muốn cô dùng hết sức lực toàn thân để nuôi dưỡng, Trùng Quang do đó hiểu rõ và chấp nhận khó khăn của mình. 

Trùng Quang nói với bản thân, cô phải từ từ trở thành một người mới, dần dần thay đổi huyết dịch nội tâm trong những việc này. Quá trình chậm chạp, cần phải chờ đợi. Trước một con đường hoặc một quãng đời, người ta luôn giống một đứa trẻ vô tri, đối diện với bàn tay người lớn chìa ra cho nắm, mù quáng suy đoán, không dám đưa tay bắt lấy. Ở đó có kẹo hay không, là thưởng hay phạt. Nhưng gánh vác và hoàn thành tất cả những việc cũ mà như mới, chính là con đường ta đối mặt. Đó vốn là thái độ sống của một con người.

Mọi oán trách đều vô dụng. Đến nơi rồi, mới có thể được giải thoát.

Phương thức tốt nhất để kết thúc một con đường chính là đi hết con đường đó. Tất cả đều là như thế.

(An Ni Bảo Bối)

Nguyệt Đường Ký (11)

Trùng Quang xác định mình phải xuất giá.

Ngoại trừ mẹ, Quế Hưng và chị Lan, cô không báo tin cho người quen nào cả. Cô và Thanh Hựu đều không chuẩn bị có hôn lễ theo lệ thường. Không đãi tiệc, không thông báo bên ngoài, cũng không chụp ảnh cưới. Chỉ nhờ người chọn một ngày tốt làm đăng ký đơn giản. Điểm này, quan niệm của họ giống nhau, chung quy chỉ là một việc riêng tư. Hai người dự định sống chung, kết làm vợ chồng, hết sức bình thường. Đã thấy nhiều hôn lễ long trọng náo nhiệt, sau này lại không lâu dài, giống như trình diễn trên sân khấu, cuối cùng chỉ trở thành một vở kịch. Rất nhiều người khi bỏ nhau, cả ảnh cưới cũng vứt đi.

Cùng bố trí căn hộ chung cư của Thanh Hựu, Trùng Quang sẽ dọn đến đó. Đặt sàn nhà bằng gỗ anh đào màu đỏ sậm, giấy dán tường dệt tơ vẽ hình hoa và chim, đồ dùng mới trong nhà theo phong cách cổ điển. Anh tôn trọng công việc của cô, đặc biệt dành ra một gian phòng sách cho cô, đặt đóng kệ sách lớn, mua bàn gỗ hoa tâm ghép gỗ anh đào, trên mặt bàn kẻ ô chìm hình quả trám, kiểu dáng theo phong cách Anh, thuần gỗ, rất đẹp. Một chiếc ghế vải lót tơ đoạn, gọi là Francesca. Cô sớm biết anh sẽ chăm sóc cô rất tốt.

Mấy hôm trước ngày đăng ký, Trùng Quang mỗi ngày chỉ làm hai việc: ra phố mua sắm, mua áo cưới, mua trang sức; sắp xếp sách và vật phẩm trong nhà. Dạo phố mệt, ở quán cà phê bên đường mua một phần sandwich, uống ly nước lạnh. Cô không có nhu cầu đặt áo cưới, do đó chỉ mua hai chiếc áo đầm dùng khi kết hôn. Một chiếc đầm liền thân màu trắng, biên váy và cổ áo có ren thêu đục lỗ. Một chiếc đầm lụa tơ tằm màu hồng quất, dài quá gối, rất đoan trang nền nã.

Mua hai chiếc váy Kanzo, chất liệu đoạn và tơ lụa có hình đóa hoa lớn tươi thắm, bình thường cô cực ít mua loại y phục quý giá này, cô không có trường hợp nào cần mặc y phục hoa lệ, nhưng kết hôn là chuyện khác. Y phục mặc xong, có lẽ sẽ cất trong ngăn tủ làm kỷ niệm, giữ rất nhiều năm, có lẽ sau này còn cho con gái, nói đây là y phục mẹ mặc khi kết hôn, nếu như họ sẽ có con gái. Mua hai đôi giày thêu hoa vải đoạn đỏ ở Vương Phủ Tỉnh, một đôi trên mặt thêu mẫu đơn, một đôi thêu uyên ương. Mua một chiếc xường xám và một sợi dây chuyền trân châu.

Thanh Hựu dành một ngày, đặc biệt đưa Trùng Quang đến tiệm châu báu, mua vòng vàng long phụng, dây chuyền và nhẫn kim cương, rất là truyền thống. Anh cũng biết Trùng Quang sẽ không đeo, nhưng cảm thấy thứ cần mua đều phải mua. Trùng Quang ngày thường chỉ đeo một chiếc vòng bạc ở cổ tay.

Trùng Quang để áo cưới, giày và trang sức mới ở phòng ngủ. Buổi tối trước khi ngủ, đều sẽ nhìn thấy áo đầm màu trắng treo trên cửa tủ áo và giày thêu hoa màu đỏ để ở dưới đáy. Chính là như thế trao thân gửi phận. Trùng Quang biết ý nguyện của mình vẫn là một quyết định chính xác. Quyết định cô đưa ra cho bản thân thông thường sẽ không sai sót. Nếu có sai sót, đó cũng là vì sự chính xác về sau.

Mấy hôm đó, dù ở công ty nhiều việc, Thanh Hựu cũng dành thời gian nhắn tin cho cô, có lúc nhắn một số cảm tưởng trước khi kết hôn. Anh là người tâm tư tinh tế, so với Trùng Quang còn dịu dàng thắm thiết hơn. Trong lòng cô không phải không có nỗi buồn man mác. Sống cuộc sống độc thân lâu như vậy, giờ sắp lấy chồng. Đây là bí mật của riêng cô, do đó đặc biệt trịnh trọng. Cô nghĩ Thanh Hựu cũng vậy. Trong cam kết này quả thật có sự hy sinh và đảm đương của mỗi người. Đó chính là hôn nhân.

Họ cùng đến studio lâu năm ở Vương Phủ Tỉnh chụp ảnh, chuẩn bị ảnh để đăng ký. Studio làm ăn rất khấm khá, người chụp ảnh xếp hàng dài, không khí nóng nực. Trùng Quang mặc đầm màu hồng quất, trong khi chờ đợi, ở trước gương thoa một chút son nhạt, đeo dây chuyền kim cương Thanh Hựu mua lên cổ. Cô lấy khăn giấy, hỏi anh có cần lau mặt không, anh thuận theo cúi mặt lại gần cô, nhắm mắt lại, cô từng chút một giúp anh lau đi mồ hôi trên trán. Lúc này cô nghiêm túc nhìn hết gương mặt anh, anh có một đôi mắt với đuôi mắt dài, rất thanh tú. Tướng mạo của anh do đã có dấu vết thời gian, có tín ngưỡng, nên có một sức mạnh. Trùng Quang cảm thấy Thanh Hựu ngoài bốn mươi có lẽ càng dễ nhìn so với anh lúc hơn hai mươi. Còn cô, đã định sẵn phải đến khi anh ngoài bốn mươi mới gặp được anh. Anh lớn hơn cô mười lăm tuổi. Cô là người yêu bố, thích hợp có chồng lớn tuổi.

Trùng Quang đeo kim cương lau mồ hôi cho anh, trong khoảnh khắc đó, phát hiện mình trở thành một cô dâu mới.

Sáng hôm đi đăng ký, để tránh kẹt xe, họ dậy rất sớm, xuất phát trước giờ. Trời đã vào thu, trong không khí hơi se lạnh. Trùng Quang mặc đầm thêu hoa màu trắng và mang giày thêu hoa mới, bên tóc cài đóa mẫu đơn màu hồng phấn bằng lụa. Trên vai khoác chiếc khăn choàng lông cừu. Trước cửa Cục Dân chính đã xếp hàng dài. Hôm đó chỉ có Trùng Quang ăn mặc như vậy, đầm trắng và bông mẫu đơn trên tóc khiến nhiều người liếc nhìn.

Lúc đó họ cũng không chụp ảnh, trong tay Trùng Quang không cầm hoa. Nhưng tất cả những điều đó đều không quan trọng. Họ lấy được hai bản chứng nhận kết hôn màu đỏ tươi. Tất cả đều chẳng tốn sức chút nào, trăng đến rằm trăng tròn, thuận theo tự nhiên. Nói cách khác, một người đàn ông nếu thật sự thích một cô gái, anh sẽ nghĩ đủ mọi cách để liên hệ và tiếp cận cô. Anh luôn ở đó, lúc nào cũng có thể tìm thấy, nguyện ý vì cô làm tất cả mọi việc. Chính là đơn giản như thế. Cô quả nhiên cũng chẳng làm bất cứ việc gì khác.

Thì ra thật sự là có kỳ tích. Trong số mệnh có, là nhất định sẽ có. Tự nó sẽ xuất hiện, không cần cố gắng gì cả. Chỉ cần chờ đợi.

Cô đến nông trường ở ngoại ô gặp mẹ và người nhà của anh. Gặp bé gái gọi điện thoại cho anh, bé là con người bà con của anh. Anh có một gia đình lớn, Trùng Quang sẽ không thiếu người bầu bạn. Cô cũng nhìn thấy ngôi nhà lớn anh tự thiết kế, vườn hoa đẹp đẽ và ruộng rau xanh tươi. Anh nuôi một con chó lông vàng lớn ngoan ngoãn hoạt bát. Anh biết đóng đồ gỗ trong nhà. Đương nhiên, anh cũng biết trồng cây, đã trồng ngân hạnh, anh đào, hợp hoan, táo tàu, táo, đào và ngô đồng. Đã là mùa thu, sen trong ao đã khô tàn, những chú cá chép hoạt bát sặc sỡ thỉnh thoảng nhảy vọt lên mặt nước tìm thức ăn. Cây hồng già treo đầy những quả hồng lớn màu cam. Hai cây vả thấp chắc, có thể nhìn ra đã từng chi chít quả. Từ dưới phiến lá màu lục hình bàn tay, Thanh Hựu ngắt xuống một quả chín mõm còn sót lại, mềm mà nặng trĩu, trên vỏ ngoài màu tím còn ướt sương. Anh lau đi rồi bóc vỏ, đưa cho cô. Đây là loại trái cây lúc nhỏ cô thường hái được trong sân nhà, cô đón lấy ăn.

Cô nhìn thấy vườn hoa và vương quốc trong thâm tâm anh. Anh xây nên thế giới hoa cỏ phồn vinh tươi tốt. Anh kiên trì tình ý sâu xa, gió mát trăng thanh, sung sướng vui vẻ, không tranh với đời. Người đàn ông của cô hết sức cần cù và chất phác. Tinh tế nhẫn nại, chăm chút hoa cỏ cây cối, lặng lẽ vùi đầu làm việc. Anh dùng đôi tay sáng tạo tất cả. Đây là điểm quý báu nhất trong con người anh. Cô kính trọng và ái mộ đôi tay có thể lao động và gánh vác này. Anh có sức lực, có năng lực bảo vệ cô. Vì đôi tay này, cô kết hôn với anh. Chính là như thế.

Trùng Quang dậy sớm đi tản bộ gần nông trường, nhìn thấy cả vùng nhà cửa và vườn hoa, rất ít người ở, trên đường không vết chân người, chỉ có tiếng chim trong trẻo. Đi trên con đường nhỏ hẻo lánh trong vườn hoa, ngoài tường rào cây bạch dương cao lớn, lá cây màu lục rung rinh dưới ánh nắng, màu sắc đậm nhạt khác nhau lần lượt biến hóa. Trời rất xanh, rất thênh thang, mây trắng bồng bềnh. Trong không khí chẳng vương mùi khói bụi. Trên đất hoang cả vạt lớn hoa nguyệt quý trải dài vô tận, cây cao lớn chắc khỏe, nở ra đóa hoa lớn bằng miệng chén, màu sắc rực rỡ, mùi hương ngọt thanh như đường mật.

Cô dắt chó tản bộ giữa đồng ruộng, ánh nắng xán lạn, bầu trời trong sáng. Trên đường về nhà, chọn một đóa nguyệt quý đầy màu sắc nhất thuần khiết nhất cài lên mái tóc. Có lúc là màu đỏ, có lúc là màu vàng. Có vô tận những đóa hoa tươi thắm cho cô cài lên tóc.

Ba tháng sau, Trùng Quang phát hiện mình đã mang thai.

(An Ni Bảo Bối)

Nguyệt Đường Ký (10)

Từ khi họ quen nhau ở hội đọc kinh đến lúc quyết định kết hôn, chẳng qua cũng chỉ là mười lăm ngày. Gặp mặt ba lần. Nhưng những con số này chẳng nói lên điều gì. Trước đó để chờ được đối phương, thời gian họ bỏ ra đã quá dài.

Lần thứ nhất anh gặp cô, cô mang một đôi giày thêu màu đỏ chói mắt, trên mặt vải đoạn thêu sen tịnh đế và uyên ương. Mùa hè, cô chỉ mặc áo thêu màu trắng, phối với các kiểu váy xòe xếp ly bằng cotton hoặc tơ lụa, hoa văn li ti hoặc chấm tròn, là y phục phong cách thập niên sáu bảy mươi thế kỷ trước. Tóc đen dày, hơi ướt như tóc trẻ con. Cô ngồi bên bàn, rất lâu không nói một lời.

Đại đa số phụ nữ thành thị bôi trát mỹ phẩm đắt tiền thành phần hóa học, mặc y phục chất liệu nhân tạo, thích xịt mút đậm đặc lên tóc, chải kiểu tóc quái dị, mang giày cao gót mũi nhọn. Trùng Quang mang giày thêu đỏ, chỉ mặc y phục vải thoáng mát. Cô cũng không bao giờ sửa móng tay. Tay của cô phải đánh chữ, phải giặt quần áo, phải nấu cơm, phải vuốt ve mèo, phải lật giở sách, do đó nó không thể bị làm trang sức. Những thẩm mỹ truyền thống vốn bị lơ là vứt bỏ hiện diện trên người Trùng Quang, anh nhìn thấy đôi giày thêu hoa của cô, rất thích.

Lần thứ hai anh gặp cô, cô vẫn chưa biết người ngồi đối diện là người đàn ông muốn lấy cô làm vợ. Cô hút rất nhiều thuốc, uống rất nhiều rượu vang trắng. Chung quy là người quen ăn gió nằm sương trên đường, cử chỉ không câu nệ tiểu tiết, không xem trọng, hơi có vẻ lơ đãng, khi với tay lấy gạt tàn thuốc, tay áo của y phục ngắn tay màu trắng co lên, lộ ra hình xăm phía trên cánh tay, một hình vẽ cổ xưa kỳ dị. Anh xác định những chỗ khác trên người cô có lẽ còn có. Cô là một người đã tích lũy lâu ngày những ám ảnh và đau thương trong cuộc sống, vì thế trầm mặc, vì thế thủy chung khống chế bản thân, những tích lũy này khiến toàn thân cô tỏa ra một loại khí chất sắc bén như dao. Có lúc không đẹp lòng người.

Cô thủy chung có khí chất tàn phá từng chút không hết ý. Giống một người mới bước ra khỏi chốn sang trọng, liền có thể ngồi xổm bên đường châm một điếu thuốc. Không trói buộc. Nhìn không ra giới hạn rõ ràng. Có thể xuất hiện trong bất cứ trường hợp nào, trải qua cuộc sống bất cứ tính chất nào. Hoàn toàn tạm bợ. Là một cô gái bên lề và không hợp lý như vậy, thần sắc lạnh lẽo xuất hiện trước mặt anh. Anh nhìn thấy sáng và tối, thiện và ác đan xen lẫn nhau trên người cô, nhưng điều đó không khiến anh e sợ. Trong khoảnh khắc anh đã xác định chấp nhận cô.

Anh từng hoài nghi công việc của cô, anh nói: Em làm công việc chi viện tình nguyện, là vì không lo ăn mặc, không cần bôn ba vì sinh tồn, sự giúp đỡ của các em, không thể thay đổi hiện trạng của người ở nơi nghèo khó ấy. Cô thản nhiên thừa nhận, số ít người làm công tác chi viện phải vượt qua nhu cầu sinh hoạt trước đã. Tôn giáo không phải là một loại cứu rỗi hoặc giải thoát, nó không phải là công cụ có thể dùng để thay đổi bất cứ hiện trạng nào trong tay chúng ta. Nó chỉ là một loại giác ngộ. Giác ngộ là quá trình, cũng là mục đích. Giác ngộ cần chúng ta trước tiên làm tốt nhiều công việc chuẩn bị cho bản thân. Người có giác ngộ sẽ giải quyết được càng nhiều vấn đề.

Đương nhiên cô cũng có nghi hoặc trong khi thử đi tìm giác ngộ. Nói đến một đêm kỳ dị trải qua trong nhà gỗ trên núi, trở mình trằn trọc trong oi bức, đứng trên đỉnh núi, nhìn thấy nhà gỗ tầng tầng lớp lớp giữa khe núi, đèn đuốc lúc sáng lúc tối, mây dày đặc, sao sáng như kim cương. Trời đất rộng dài vang vọng tiếng râm ran cực lớn, đó là thác nước, suối nước, côn trùng, ruộng lúa, chó sủa, rừng thông… Tiếng vọng do tất cả tồn tại tự nhiên phát ra. Cô nói, trong tiếng vọng rõ ràng có một dấu chân nào đó đi qua trời đất. Nó đi trên đau khổ của nhân thế rạng ngời như vậy. Phảng phất không có bất cứ thương xót gì, phảng phất là một loại vui mừng. Vì đây là thế giới nó có được, không cần con người lý giải. Núi non trùng điệp, ngọn này cao hơn ngọn kia, con người không thể đi hết mỗi một ngọn núi trên trái đất, đây là sự hư vô nhất trên thế gian.

Cô nói, đi lại là một việc phóng khoáng. Nó chỉ là một đoạn đường ảo kết nối trái tim và trời đất, được ánh sáng rạng ngời vận hành trên trời chiếu rọi, như không có cứu độ, lại như có được cuộc sống mới mọi nơi mọi lúc. Nếu có người thích kiếp sống phóng khoáng, họ sẽ trở thành vật hy sinh của con đường huyền ảo đó.

Cô lại nói, đi qua cây cầu phong vũ cổ xưa của một thôn trại, nhìn thấy bia đá đầu cầu viết: “Lục súc thanh cát, Đinh khẩu bình an”, chỉ cảm thấy trong lòng ổn thỏa. Còn có người viết trên câu đối ở cửa: “Nhật thanh nguyệt minh (Trời trong trăng sáng)”. Cũng khiến người vui mừng như nhau.

Cô gái này muốn dừng chân, muốn nghỉ ngơi. Có thể ngoan cường giằng co, cũng có thể càng đi càng xa. Chỉ là áp lực hư vô gánh chịu quá nặng nề. Cô cứ mãi phòng bị, chống chọi, chưa từng buông lơi. Nhưng khi cô cười lên, lại chỉ có một ánh mắt thuần khiết vô tội.

Tất cả những gì anh làm, chẳng qua là nói với cô, nếu cô bằng lòng, cô có thể gả cho anh.

(An Ni Bảo Bối)

Nguyệt Đường Ký (9)

Một người đàn ông có thể một mình sống cuộc sống độc thân hơn mười năm không? Vấn đề tâm lý và sinh lý nên giải quyết ra sao? Dùng niềm tin nội tâm nào chèo chống cuộc sống cô độc của mình?

Dọc đường Trùng Quang đều quan sát Thanh Hựu. Anh hé lộ năng lượng trên người từng chút một, không hùng hổ, nhưng quả thực mỗi lần xuất kích đều mạnh mẽ. Đường đi chùa rất xa, anh chuyên tâm lái xe, không nề vất vả. Anh cũng mở nhạc trong xe, nhưng mua CD của đoàn hợp xướng nhi đồng, hát những bài hát cũ thập niên năm sáu mươi. Tiếng ca trong trẻo của trẻ em vang vọng trong xe, âm nhạc anh thích là loại hình này, sạch sẽ thuần phác. Đích xác như thế.

Mắt cô thủy chung chú ý thân hình cao lớn rắn rỏi của anh. Dáng đi đường, dáng nói chuyện, dáng làm việc của anh. Tất cả đều thỏa đáng. Mang theo một thùng lớn trái cây và trà tặng các sư trong chùa. Tự mình ra tay, đích thân làm mọi việc, khiêng chuyển đồ đạc. Là một người đàn ông cần cù, thích động tay làm việc. Ăn cơm trong trai đường nhà chùa, rất mực cung kính, chuyên tâm.  

Ở trong chùa họ nói chuyện rất ít, vì nơi ấy rất yên tĩnh, anh nhắn tin cho cô, hỏi cô ăn cơm chay có quen không, buổi học sáng mai năm giờ đã bắt đầu, nếu cô cảm thấy mệt thì không cần đi nghe, buổi tối phải nghỉ ngơi thật tốt vân vân, hết sức tỉ mỉ chu đáo. Quế Hưng và cô ở chung một phòng, dường như vẫn đang chờ cô bày tỏ thái độ. Trùng Quang đối chiếu sự việc phát sinh trước sau, lấy lại tinh thần, biết sự việc đại khái là thế nào. Cô tâm ý đã định, nói với Quế Hưng: Thanh Hựu rất tốt.

Quế Hưng nói: Em thật sự cũng nhận thấy như thế à? Trùng Quang, chị và chị Lan hy vọng hai em có thể ở bên nhau. Kỳ thực bao nhiêu năm nay, luôn có rất nhiều cô gái theo đuổi cậu ấy, cậu ấy đều không chấp nhận. Cậu ấy thực sự là một người đàn ông kiêu ngạo, ai cũng không thể đoán được tiêu chuẩn trong lòng cậu ấy. Bọn chị lúc bắt đầu cũng chỉ là muốn thuận theo tự nhiên.

Trùng Quang hỏi: Lần đó đi hội đọc kinh là các chị sắp xếp phải không? Quế Hưng đáp: Phải, trước đó căn bản không dám nói với em, sợ em phản cảm đối với phương thức này, thế thì sau đó chuyện gì cũng chẳng nói được nữa. Sau lần gặp mặt đó, cậu ấy đi Vân Nam, thường điện thoại cho chị, bàn bạc với chị nên làm sao tiếp cận em. Cậu ấy không quen theo đuổi con gái, không phải là người chủ động đối với tình cảm.

Trùng Quang nói: Thì ra ba người đều biết, chỉ có mình em như người trong trống. Quế Hưng nói: Em tính cách nhạy cảm, hồ đồ một chút không phải càng tự nhiên sao? Trùng Quang hỏi: Hội đọc kinh lần đó, em chẳng trang điểm, tâm thần bất định, không để ý đến ai, anh ấy lại chấm em ư? Quế Hưng nói: Em nói gì vậy, Trùng Quang, em giống như châu báu hiếm có, Thanh Hựu cũng thế, điều kỳ lạ là hai người đều chẳng có lòng tin đối với bản thân. Cậu ấy ở Vân Nam điện thoại cho chị, suýt nữa đã muốn biết khó rút lui, nói dù chỉ có thể làm bạn với em cũng đã hết sức mãn nguyện. Cậu ấy cảm thấy em rất tốt, chỉ sợ cao không với tới.

Trùng Quang ngồi ở bên giường, nhìn đôi chân trần của mình, nói rõ ràng: Không, em rất thích anh ấy. Anh ấy là một người đàn ông tốt, đáng được người khác tốt với anh ấy.

Chiều hôm sau, về đến Bắc Kinh, đưa chị Lan và Quế Hưng về nhà, khi trong xe lại chỉ còn lại Thanh Hựu và Trùng Quang, đã gần mười một giờ đêm. Thanh Hựu lái xe đường dài, có vẻ mệt mỏi, nhưng anh hỏi: Trùng Quang em có mệt không? Chúng ta đi ăn chút đồ. Cô biết anh còn muốn nán lại với cô một lúc, có lẽ anh cần xác nhận câu trả lời anh nghe được từ chỗ Quế Hưng. Cô nói: Được ạ. Thế là anh lái xe đến quán cà phê họ ăn cơm lần đầu, quán này mở cửa đến hai giờ sáng.

Lần thứ hai trở về chỗ cũ. Tình huống đã khác trước. Thanh Hựu làm quản lý kinh doanh nhiều năm, trình tự tiến hành quả quyết mà hữu hiệu, thời gian ngắn ngủi, anh còn đi công tác mất bảy ngày, nhưng thận trọng từng bước, toàn bộ đều sắp xếp thỏa đáng, không lãng phí chút thời gian nào. Anh gọi canh nóng cho cô, đề nghị cô nên bổ sung một ít thành phần nước và muối, thần sắc của anh hơi thấp thỏm, tựa hồ không biết nên mở đầu thế nào. Trùng Quang biết lúc này nên đến lượt cô bước ra. Chỉ có cô là người vẫn đứng ở chỗ tối.

Cô nhìn vào mắt anh, nói: Quế Hưng đã nói hết với em rồi. Anh nói: Trùng Quang, anh rất muốn chăm sóc em. Trùng Quang đáp: Em biết. Chỉ là em muốn lập tức kết hôn, em không có hơi sức nói chuyện yêu đương nữa, đây là lời thật lòng của em.

Anh ngắm gương mặt cô, lời cô dường như có chút vượt khỏi dự liệu của anh, anh vốn đã chuẩn bị tâm lý sẵn sàng, muốn cùng cô xây dựng quan hệ ổn định, đương nhiên cuối cùng cũng phải kết hôn. Thông thường đề nghị kết hôn, dù sao cũng nên do người nam đưa ra. Cô là người anh xác định chấp nhận. Cô quả nhiên không giống bất cứ cô gái nào khác. Trái tim quả quyết mạo hiểm cấp tiến, ẩn giấu dưới vẻ ngoài đạm bạc bình tĩnh của cô.

Anh nói: Nếu em muốn kết hôn ngay bây giờ, đương nhiên anh cũng rất bằng lòng. Tất cả do em quyết định.

(An Ni Bảo Bối)

Nguyệt Đường Ký (8)

Quế Hưng lại điện thoại đến, nói Thanh Hựu từ Vân Nam mang quà về, buổi tối muốn hẹn cùng ăn cơm.

Trùng Quang nhẩm tính thời gian, anh mới về đến Bắc Kinh, đã mời họ ra ngoài ăn cơm. Cuộc hẹn bốn người này đích xác quá chịu khó, điều hiếm có là Quế Hưng và chị Lan mỗi lần đều sung sức tham gia.

Thanh Hựu đến đón cô trước. Vẫn đứng bên ngoài cửa xe, từ xa đợi cô đi lại. Lần này cô ngồi ở vị trí bên cạnh anh, cách anh rất gần. Cô bắt đầu hỏi anh một số vấn đề, vì Thanh Hựu rất ít nói về bản thân, cô thậm chí không biết anh cụ thể làm ngành nghề nào. Anh liên tiếp gửi tin nhắn cho cô, rốt cuộc vẫn là chủ động kéo gần một chút khoảng cách giữa đôi bên, tựa như đã không chỉ là bạn bè huyên thuyên trời đất, còn có thể có một số không gian riêng tư. Đầu tiên cô hỏi về công việc của anh, sau đó là gia đình của anh. Thanh Hựu từng thứ một rủ rỉ kể ra, đó đều là một số lịch sử phức tạp, mà kết quả duy nhất chính là ở trước mắt, là lịch sử phức tạp như vậy, tạo ra một người đàn ông như vậy. Anh ngồi bên cạnh cô, ổn thỏa thuần thục lái xe. Kể cả lái xe anh cũng lái rất giỏi.

Anh đưa họ đến một nhà hàng rất xa hoa, một vườn hoa vương phủ ngày xưa, hoàn cảnh u mỹ, món ăn cao quý. Trùng Quang ở phía sau khe khẽ nói với Quế Hưng, không thể cứ để anh mời chúng ta đến nơi sang như vậy, như thế không hay. Dù thế nào lần sau chúng ta cũng nên mời lại Thanh Hựu một lần. Trùng Quang xưa nay đều rõ ràng, tuy sự rõ ràng đó cũng là một kiểu tự bảo vệ, cô không quen tiếp nhận sự trao ra tựa hồ không có lý do gì của người khác.

Quế Hưng chỉ siết tay cô một cái, tỏ ý cô không cần để tâm. Quế Hưng lúc bình thường làm việc xác đáng, lần này lại tựa hồ cảm thấy là việc đương nhiên. Trùng Quang cảm thấy nghi hoặc càng nhiều. Theo thường lệ tùy hứng trò chuyện trôi chảy. Hôm ấy là Thất tịch, chị Lan nói: Ngưu Lang Chức Nữ trên trời là một đôi, chúng ta ở đây cũng nên có một đôi. Lời nói đó rất trực tiếp, Quế Hưng liếc nhìn Trùng Quang, trên mặt lộ vẻ ngượng ngập, tiếp lời nói: Trùng Quang, ngày mai Thanh Hựu muốn đưa chúng ta cùng đi viếng một ngôi chùa ở Hà Bắc. Phải ở lại đó một đêm. Em có muốn đi xem thử không? Cô nói: Có thể. Một cách không có lý do, cô cảm thấy ở cùng những người bạn lớn tuổi này, trong lòng yên ổn vui vẻ.

Khi anh đưa cô về đến dưới nhà, lấy quà từ Vân Nam ra đưa cho cô. Kỳ thực quà của ba người đều như nhau, một bao lớn sâm tây dạng viên, bột thuốc đông trùng hạ thảo, trà, dụng cụ pha trà. Anh còn tặng cô một quả sầu riêng rất lớn, hỏi: Cô thích ăn sầu riêng không? Cô đáp: Tôi không phản cảm với mùi của nó. Anh nói: Đây là loại trái cây rất có dinh dưỡng. Nên ăn nhiều. Cô nói: Đường đi Sơn Tây của tôi, anh sẽ không thích ứng. Phải vác túi lớn, trèo đèo lội suối, thông thường tôi trọ ở lữ quán nhỏ rất rẻ tiền, ăn thức ăn rất đơn giản. Anh nói: Điều đó cũng phải, tôi kén chọn chỗ ở, thích khách sạn năm sao trở lên. Trùng Quang bật cười, nói: Du lịch của anh và du lịch của tôi hoàn toàn là hai loại khái niệm. Anh nói: Nhưng bất kể thế nào, tôi vẫn muốn đưa cô. Chúng ta lái xe đi. Anh ngưng câu chuyện lại.

Sau đó, anh lấy ra một phong thư lớn đưa cho cô, nói: Trong này có hai lá thư, một lá tôi viết cho cô, một lá trước đây tôi viết cho bạn học của tôi, chỉ là muốn để cô xem xem. Lúc này mắt anh lộ ra biểu cảm e thẹn, kiểu e thẹn này hiện ra trên mặt một người đàn ông thành thục hơn bốn mươi tuổi từng trải sự đời phức tạp, khiến Trùng Quang sau khi kinh ngạc, từ từ mềm lòng. Lúc đó, trên nét mặt ôn hòa trong màn đêm, ánh sáng e thẹn trong mắt ấy hết sức trong sáng.

Có lẽ là để che giấu e thẹn, anh lại nói: Trùng Quang, hôm nay cô không mang giày thêu hoa.

Hôm đó cô đã thay một đôi giày nhung đế bằng mũi giày tròn nhỏ. Cô nói: Chỉ là có lúc ngẫu nhiên thay đổi một chút. Lúc thường tôi vẫn hay mang giày thêu hoa. Anh nói: Giày đó thật đẹp. Mẹ tôi đã hơn tám mươi tuổi rồi, lúc bà còn trẻ, cũng mang giày như vậy, trên tóc cài hoa, dùng dầu xức tóc hoa quế tự chế.

Cô tạm biệt anh, lên lầu. Đặt trái sầu riêng trên ban công, tắm xong, nằm trên giường mở phong thư của anh ra. Lá thư viết cho bạn học của anh, là về hôn nhân lần trước của anh, hôn nhân lần đó đã kết thúc lúc anh hai mươi tám tuổi, trong thư anh nói rõ tất cả mọi việc giữa anh và vợ trước, trả lời người bạn học quan tâm anh. Lá thư viết cho cô, nói về một số quan điểm của anh đối với cuộc sống và đạo Phật, trong đó không có biểu lộ tình cảm gì, giống như báo cáo tư tưởng cá nhân. Cô đọc mãi đọc mãi, thoáng mỉm cười. Quả nhiên. Đây là một người đàn ông hết sức nghiêm túc mà truyền thống.

Thế nhưng, anh độc thân.

(An Ni Bảo Bối)