Thích ngồi tàu lửa, thích từng trạm từng trạm chầm chậm xuống nam hoặc lên bắc, thích tôi của giữa chuyến đi.
Chỉ bởi vì, giữa chuyến đi, tôi có thể không thuộc về điểm khởi đầu hay
điểm kết thúc, không thuộc về bất cứ nơi nào và bất cứ người nào, trong
thời khắc đơn độc này, tôi chỉ cần thuộc về bản thân tôi là đủ rồi.
Tất cả nghĩa vụ nên làm tròn, trách nhiệm nên
gánh vác, tất cả sự vật nên tranh đoạt hoặc là nhường lại, tất cả vướng
vướng bận bận trên đời đều bị ngăn cách ở hai đầu đường ray, còn tôi,
tôi trong toa tàu là không có ham muốn. Vào thời khắc đó, việc duy nhất
tôi muốn làm cũng duy nhất có thể làm, chỉ là yên tĩnh ngồi bên cửa sổ,
nhìn ngắm cảnh vật ngoài cửa sổ đổi nhau mà thôi.
Cảnh vật
ngoài cửa sổ không ngừng biến đổi, dãy núi và khe sông liên miên lướt
qua, tôi nhìn thấy trong những khóm cây thành rừng kia, mỗi gốc cây đều
mọc vừa mảnh vừa dài, để tranh thủ ánh nắng, chúng dùng đủ mọi phương
pháp uyển chuyển để sinh trưởng. Đi qua một vạt lớn đồng lúa, giữa cánh
đồng, tôi cũng nhìn thấy một gốc cây cô độc, bởi vì cô độc, cho nên có
thể tùy ý vươn dài cành lá, mọc giống như một chiếc ô vừa to vừa đậm vừa
tròn.
Trong cuộc sống hiện thực, tôi biết, tôi nên học cách
nhân nhượng và nhường nhịn, cũng giống như những gốc cây trong rừng rậm
kia. Thế nhưng, trên đồng nội của tâm linh, hãy để tôi, để tôi có thể
mọc thành một gốc cây lớn hứng trọn mặt trời chiếu sáng.
Tôi
cũng biết, trước lúc đó, tôi nhất định phải học cách độc lập trước đã, ở
chốn sâu nhất của tâm linh, học cách không tìm kiếm chỗ dựa từ bất cứ
ai.
(Tịch Mộ Dung)
19.11.13
Anh em sinh đôi
Sống
và Chết là một cặp anh em sinh đôi. Chết quyến luyến không rời đối với
anh mình, Sống đi đến đâu, Chết liền theo đến đấy. Thế nhưng, Sống lại
chán ghét thằng em này của nó, tránh còn sợ không kịp. Chuyện đặc biệt
khiến Sống mất hứng là, luôn luôn vào lúc nâng ly uống tràn, Chết đột
nhiên xuất hiện, đụng ly rượu rót đầy của Sống rớt xuống đất, vỡ tan tành.
“Cái thằng oan gia này, ban đầu mẹ đã sinh tao, lại hà tất sinh mày, đã sinh mày, lại hà tất sinh tao!” Sống tuyệt vọng gào lên.
“ Ông anh tốt ơi, đừng nói như thế. Không có em, anh há chẳng buồn tẻ?” Chết bình tĩnh hòa nhã nói.
“Mãi mãi không!”
“Nhưng anh nghĩ xem, nếu không có em cạnh tranh với anh, sự hưởng lạc của anh có mùi vị gì? Nếu không có em diễn xuất trên cùng sân khấu, vở hý kịch của anh há có thể đặc sắc? Nếu không có em cho anh linh cảm, trong lòng anh làm sao tuôn ra thơ ca hay ho, trước mắt làm sao phơi bày tranh vẽ đẹp đẽ?”
“Tao thà rằng buồn tẻ, cũng không muốn nhìn thấy mày!”
“Ông anh tốt ơi, điều này không làm được. Mẹ sợ anh cô đơn, mới dặn dò em bầu bạn với anh. Đứa con có hiếu em đây làm sao có thể không nghe lời mẹ?”
Thế là Sống đến trước mặt Mẹ Thiên nhiên, cầu xin mẹ đem thằng em ác ôn đi, đừng để nó quấy rầy mình nữa. Nhưng Thiên nhiên là một người mẹ trí tuệ, nhất quyết không nhân nhượng thói tùy hứng của con trai. Sống đành phục tùng sắp xếp của mẹ, song hoàn toàn không lĩnh hội được ý tốt của việc sắp xếp như thế, do đó trước sau ôm một tâm tình oán hận bất lực đối với Chết.
(Chu Quốc Bình)
“Cái thằng oan gia này, ban đầu mẹ đã sinh tao, lại hà tất sinh mày, đã sinh mày, lại hà tất sinh tao!” Sống tuyệt vọng gào lên.
“ Ông anh tốt ơi, đừng nói như thế. Không có em, anh há chẳng buồn tẻ?” Chết bình tĩnh hòa nhã nói.
“Mãi mãi không!”
“Nhưng anh nghĩ xem, nếu không có em cạnh tranh với anh, sự hưởng lạc của anh có mùi vị gì? Nếu không có em diễn xuất trên cùng sân khấu, vở hý kịch của anh há có thể đặc sắc? Nếu không có em cho anh linh cảm, trong lòng anh làm sao tuôn ra thơ ca hay ho, trước mắt làm sao phơi bày tranh vẽ đẹp đẽ?”
“Tao thà rằng buồn tẻ, cũng không muốn nhìn thấy mày!”
“Ông anh tốt ơi, điều này không làm được. Mẹ sợ anh cô đơn, mới dặn dò em bầu bạn với anh. Đứa con có hiếu em đây làm sao có thể không nghe lời mẹ?”
Thế là Sống đến trước mặt Mẹ Thiên nhiên, cầu xin mẹ đem thằng em ác ôn đi, đừng để nó quấy rầy mình nữa. Nhưng Thiên nhiên là một người mẹ trí tuệ, nhất quyết không nhân nhượng thói tùy hứng của con trai. Sống đành phục tùng sắp xếp của mẹ, song hoàn toàn không lĩnh hội được ý tốt của việc sắp xếp như thế, do đó trước sau ôm một tâm tình oán hận bất lực đối với Chết.
(Chu Quốc Bình)
Chẳng mong lúc sống có biệt ly (4)
Vị Phật sống lén ra khỏi cung Potala dạo chơi vừa trở về chốn tường
cao, liến nhốt mình vào Phật đường không thấy ánh mặt trời. Cửa lớn nặng
nề khép chặt, liên tiếp mấy ngày đều không mở ra. Trong Phật đường bầu
bạn với Ngài chỉ có tượng Phật vĩnh viễn im lặng sau kinh phướn đẹp đẽ.
Bơ trong ngọn đèn cháy hết, đàn hương trong lư hương cũng đốt
hết, Ngài, đã làm lại Tsangyang Gyatso, trong bóng tối giơ tay không
thấy năm ngón, hết lần này đến lần khác lặp lại các động tác đứng lên,
quỳ bái, rạp lạy sát đất, không biết đã dập đầu bao nhiêu cái. Mặt đất
băng lạnh được thân thể trẻ trung của Ngài chườm nóng, nhưng trái tim
nóng bỏng của Ngài lại không được mặt đất cứng rắn thấm lạnh, ngọn lửa
Ban Nhược làm Ngài khốn đốn kia ngược lại càng cháy càng mạnh. Trong
đám lửa trước sau có một thiếu nữ ngoảnh nhìn mỉm cười, từ đôi mắt trong
sáng của nàng có nước mắt rơi xuống, nàng nhìn Dangsang Wangpo thuộc về
núi Nala, ánh mắt dịu dàng giống như đôi tay chờ đợi đã lâu, chầm chậm
chìa về phía Ngài, muốn dẫn dắt Ngài, đã lạc lối quá lâu, đến trên con
đường trở về quê nhà.
Chẳng ai biết dụng ý thật sự của Phật sống, chính vào lúc tất cả mọi người đều càng thêm thành kính càng thêm sùng bái vì sự tự ước thúc nghiêm khắc và tự trách lãnh đạm của Ngài, cánh cửa lớn đóng kín của Phật đường mở ra. Phật sống từ trong cửa đi ra mệt mỏi mà bình tĩnh, Ngài không giải thích gì cả, chỉ kiên định cự tuyệt nghi thức thọ giới cụ túc sắp sửa tiến hành. Giới cụ túc gồm năm thiên bảy tụ tổng cộng hai trăm năm mươi điều, chia làm ba-la-di, tăng tàn, thâu-lan-giá, ba-dật-đề, đề-xá-ni, ác tác, ác thuyết. Sau khi thọ giới, mới có thể trở thành tỳ khưu và tỳ khưu ni thật sự. Chẳng ai biết Phật sống vì sao đột nhiên đưa ra quyết định đáng sợ như thế. Các Thượng sư lo sợ nghi hoặc mời Ban Thiền Ngạch Nhĩ Đức Ni đến, nhưng sau khi Phật sống Ban Thiền đến cung Potala, Tsangyang Gyatso trẻ tuổi càng nghiêm trọng hơn thỉnh cầu Phật sống Ban Thiền thu hồi giới sa di lúc trước đã trao cho Ngài.
Dưới bầu trời xanh thẳm trong sáng, xưa nay chưa từng có hành động bất kính đối với Thần Phật như vậy xảy ra. Buổi chiều mất tích đó lẽ đương nhiên trở thành đối tượng bị hoài nghi và điều tra, nhưng ngoài Dorje, không ai biết buổi chiều hôm ấy đã xảy ra chuyện gì, cho dù là Dorje cũng chẳng qua như hiểu mà không hiểu, nói không rõ lắm nguyên nhân thật sự Phật sống làm như vậy. Chẳng lẽ chính là vì thiếu nữ Dawa Dolma tốt bụng kia sao? Vì vẻ đẹp xao xuyến lòng người của nàng? Hay là vì khay bánh điểm tâm ngon lành ấy? Nhóc Dorje càng nghĩ càng thấy không ổn, nó rất muốn làm rõ vì sao Phật sống lại vào thời điểm mấu chốt cuối cùng cự tuyệt vinh dự cao nhất, phụ lòng thành kính của muôn ngàn chúng sinh.
Tiểu Lạt Ma một lần nữa trốn ra cung Potala đi thẳng đến phố Barkhor, ở nơi lần trước tình cờ gặp thiếu nữ đó kiên trì tìm kiếm chờ đợi ba ngày, cũng không tìm được nàng. Lúc bụng đói cồn cào, nó không có tiền mua đồ lót dạ, chỉ có thể trơ mắt nhìn bánh điểm tâm thơm phưng phức nuốt nướt bọt ừng ực. Cô gái bán rượu bên quán cơm nhỏ nhìn thấy vẻ thèm thuồng trên mặt chú nhóc, cười nhẹ vẫy vẫy tay với Dorje, đưa cho nó một miếng bánh bơ bốc khói. Dorje nhồm nhoàm ăn hết một miếng bánh lớn, lại nhìn thấy trên mặt cô gái này mang máng có hình bóng của thiếu nữ đó. Nó đánh bạo hỏi chị, cô gái lại bỗng chốc vành mắt đỏ hoe, cúi đầu xuống, có nước mắt từ trong hốc mắt rơi xuống.
Em gái Dawa Dolma của chị mấy ngày trước đã qua đời, nhưng nàng không thể cử hành thiên táng giống như những người thân thích đã chết khác, mà là bị chôn dưới chân núi hoang vu lạnh lẽo ngoài thành Lhasa. Trong lòng người dân Tạng, chỉ có người chết bởi bị giết hoặc tự sát mới thổ táng, kẻ bị chôn vào bùn đất mãi mãi cũng không thể chuyển thế. Dorje khẩn thiết hỏi, cô gái khóc rất lâu, mới thận trọng nói với Dorje, Dawa Dolma khi chết tội nghiệt sâu nặng, nàng không phải bệnh chết, mà là dùng một con dao sắc nhọn đâm vào ngực, tự mình giết chết chính mình.
Dorje hô lên kinh ngạc thay đổi sắc mặt: “Vì sao!”
Nước mắt của cô gái không ngừng được, đau khổ trong lòng dồn nén đến khó chịu, chị như trút ra kể hết với chú nhóc trước mặt. Em gái Dawa Dolma đã định hôn ước, ngay vào mấy ngày trước lễ cưới nàng đột nhiên nói với cha mẹ không bằng lòng gả cho chồng chưa cưới của mình. Chẳng ai biết vì sao nàng có quyết định không thể hiểu nổi này, cha mẹ khuyên can mãi không được nổi giận đánh đập thậm tệ đứa con gái cứng cỏi của họ, người chị thương em gái lúc đêm khuya đưa thuốc trị thương đến kiên trì gạn hỏi, nhưng nghe được lại là nguyên nhân càng không sao hiểu nổi. Phản kháng kiên định không thể thay đổi quyết tâm gả con gái của cha mẹ, Dawa Dolma xinh đẹp kiên định đã kết liễu mạng sống mười lăm tuổi của mình vào đêm trước lễ cưới.
Nước mắt cũng trào ra từ hốc mắt của Dorje, ngấn lệ nhòe nhoẹt khắp khuôn mặt lem luốc của nó. “Vì sao… chị ấy có nói, là vì chuyện gì…”
Cô gái dùng tay che gương mặt xinh đẹp giống như Dawa Dolma, nước mắt từ kẽ ngón tay nhỏ xuống. Đến nay chị cũng không nghĩ thông suốt là vì sao, em gái chỉ kể với chị nàng đã yêu một chàng trai, một chàng trai xa lạ tình cờ gặp gỡ trong tà dương của phố Barkhor.
Dorje về đến cung Potala bị Thiết Bổng Lạt Ma trách phạt nghiêm khắc, sau một trận đòn đau nó mới biết Phật sống đã bị đưa đến tu viện Drepung ngoài thành Lhasa. Lời nói dối và vu tội ác ý đã giống như nước triều bao trùm vị Phật sống trẻ tuổi, ở tu viện càng thâm nghiêm đó, chờ đợi Ngài sẽ là giam cầm và khuyên nhủ thuyết phục lâu dài. Nhóc Dorje nén nhịn vết thương đau nhức khắp người đi gấp đến tu viện Drepung, nhưng khi nó đuổi đến, Phật sống đã bị đưa đi Thanh Hải xa xôi.
Dưới sự chiếu cố của Bồ Tát, nhóc Dorje một thân một mình đã đi đến bên hồ Thanh Hải một cách thần kỳ, gặp được Phật sống càng có vẻ xanh gầy tuấn dật. Nghe hết chuyện Dorje kể, vị Lạt Ma trẻ tuổi đứng bên hồ vẫn lặng lẽ nhìn về nơi xa, đôi mắt sâu thẳm khép hờ, môi mím càng chặt. Ở phương hướng đôi mắt Ngài hướng đến, ngoài trăm ngàn dặm sừng sững thành Lhasa uy nghiêm, ở đó từng có một đoạn ánh dương, chiếu rọi hai người cách thế trùng phùng. Ngài gật gật đầu, thấp giọng nói: “Ta biết rồi.”
Dorje quỳ phục dưới đất, trên gương mặt non nớt đầm đìa nước mắt, nó không hiểu vì sao ngay cả mình cũng đang thương khóc, mà Phật sống trước mặt lại không động lòng đau xót, rõ ràng Ngài đã vì người con gái ấy làm nhiều việc như thế, hy sinh nhiều như thế, nhưng sau khi nghe được tin nàng chết, vì sao Ngài đến biểu cảm trên mặt cũng không thoáng thay đổi, càng không rơi một giọt nước mắt! Giữa Phật sống và Dawa Dolma rốt cuộc là nhân quả thế nào?
Hai chân Tsangyang Gyatso đứng nguyên chỗ cũ, Dangsang Wangpo lại từng bước từng bước đi đến bên hồ Thanh Hải thần thánh. Quay đầu, Ngài nhìn nhục thân lặng lẽ bất động dưới ánh nắng ấy, ngồi xổm xuống, dùng tay vốc lên một vốc nước hồ băng lạnh.
Nước hồ êm đềm như gương, trên mặt hồ soi bóng núi tuyết nơi xa và mây trắng trên trời. Giữa mây trắng có hai con chim ưng bay cao lướt qua. Giống như thuở nhỏ ngẩng đầu ngắm nhìn bầu trời, trên mặt Dangsang Wangpo nở nụ cười. Hai con chim ưng ấy là hóa thân của Bồ Tát Không Hành Mẫu, chúng từ cõi trời trên chín tầng mây bay xuống trước mặt Ngài, chúng sẽ cùng Ngài bay về núi Nala xa xôi.
Chính sử “Thánh Tổ Thực Lục” viết bằng tiếng Hán: “Năm Khang Hy thứ 45, Viện xử lý sự vụ ngoại phiên viết, Lạt Ma đóng ở Tây Ninh báo rằng, Đạt Lai Lạt Ma giả do Lhazang Khan giải đến, đi tới ngoài cửa Tây Ninh bị bệnh qua đời.”
HẾT
(Dạ Dao)
Chẳng ai biết dụng ý thật sự của Phật sống, chính vào lúc tất cả mọi người đều càng thêm thành kính càng thêm sùng bái vì sự tự ước thúc nghiêm khắc và tự trách lãnh đạm của Ngài, cánh cửa lớn đóng kín của Phật đường mở ra. Phật sống từ trong cửa đi ra mệt mỏi mà bình tĩnh, Ngài không giải thích gì cả, chỉ kiên định cự tuyệt nghi thức thọ giới cụ túc sắp sửa tiến hành. Giới cụ túc gồm năm thiên bảy tụ tổng cộng hai trăm năm mươi điều, chia làm ba-la-di, tăng tàn, thâu-lan-giá, ba-dật-đề, đề-xá-ni, ác tác, ác thuyết. Sau khi thọ giới, mới có thể trở thành tỳ khưu và tỳ khưu ni thật sự. Chẳng ai biết Phật sống vì sao đột nhiên đưa ra quyết định đáng sợ như thế. Các Thượng sư lo sợ nghi hoặc mời Ban Thiền Ngạch Nhĩ Đức Ni đến, nhưng sau khi Phật sống Ban Thiền đến cung Potala, Tsangyang Gyatso trẻ tuổi càng nghiêm trọng hơn thỉnh cầu Phật sống Ban Thiền thu hồi giới sa di lúc trước đã trao cho Ngài.
Dưới bầu trời xanh thẳm trong sáng, xưa nay chưa từng có hành động bất kính đối với Thần Phật như vậy xảy ra. Buổi chiều mất tích đó lẽ đương nhiên trở thành đối tượng bị hoài nghi và điều tra, nhưng ngoài Dorje, không ai biết buổi chiều hôm ấy đã xảy ra chuyện gì, cho dù là Dorje cũng chẳng qua như hiểu mà không hiểu, nói không rõ lắm nguyên nhân thật sự Phật sống làm như vậy. Chẳng lẽ chính là vì thiếu nữ Dawa Dolma tốt bụng kia sao? Vì vẻ đẹp xao xuyến lòng người của nàng? Hay là vì khay bánh điểm tâm ngon lành ấy? Nhóc Dorje càng nghĩ càng thấy không ổn, nó rất muốn làm rõ vì sao Phật sống lại vào thời điểm mấu chốt cuối cùng cự tuyệt vinh dự cao nhất, phụ lòng thành kính của muôn ngàn chúng sinh.
Tiểu Lạt Ma một lần nữa trốn ra cung Potala đi thẳng đến phố Barkhor, ở nơi lần trước tình cờ gặp thiếu nữ đó kiên trì tìm kiếm chờ đợi ba ngày, cũng không tìm được nàng. Lúc bụng đói cồn cào, nó không có tiền mua đồ lót dạ, chỉ có thể trơ mắt nhìn bánh điểm tâm thơm phưng phức nuốt nướt bọt ừng ực. Cô gái bán rượu bên quán cơm nhỏ nhìn thấy vẻ thèm thuồng trên mặt chú nhóc, cười nhẹ vẫy vẫy tay với Dorje, đưa cho nó một miếng bánh bơ bốc khói. Dorje nhồm nhoàm ăn hết một miếng bánh lớn, lại nhìn thấy trên mặt cô gái này mang máng có hình bóng của thiếu nữ đó. Nó đánh bạo hỏi chị, cô gái lại bỗng chốc vành mắt đỏ hoe, cúi đầu xuống, có nước mắt từ trong hốc mắt rơi xuống.
Em gái Dawa Dolma của chị mấy ngày trước đã qua đời, nhưng nàng không thể cử hành thiên táng giống như những người thân thích đã chết khác, mà là bị chôn dưới chân núi hoang vu lạnh lẽo ngoài thành Lhasa. Trong lòng người dân Tạng, chỉ có người chết bởi bị giết hoặc tự sát mới thổ táng, kẻ bị chôn vào bùn đất mãi mãi cũng không thể chuyển thế. Dorje khẩn thiết hỏi, cô gái khóc rất lâu, mới thận trọng nói với Dorje, Dawa Dolma khi chết tội nghiệt sâu nặng, nàng không phải bệnh chết, mà là dùng một con dao sắc nhọn đâm vào ngực, tự mình giết chết chính mình.
Dorje hô lên kinh ngạc thay đổi sắc mặt: “Vì sao!”
Nước mắt của cô gái không ngừng được, đau khổ trong lòng dồn nén đến khó chịu, chị như trút ra kể hết với chú nhóc trước mặt. Em gái Dawa Dolma đã định hôn ước, ngay vào mấy ngày trước lễ cưới nàng đột nhiên nói với cha mẹ không bằng lòng gả cho chồng chưa cưới của mình. Chẳng ai biết vì sao nàng có quyết định không thể hiểu nổi này, cha mẹ khuyên can mãi không được nổi giận đánh đập thậm tệ đứa con gái cứng cỏi của họ, người chị thương em gái lúc đêm khuya đưa thuốc trị thương đến kiên trì gạn hỏi, nhưng nghe được lại là nguyên nhân càng không sao hiểu nổi. Phản kháng kiên định không thể thay đổi quyết tâm gả con gái của cha mẹ, Dawa Dolma xinh đẹp kiên định đã kết liễu mạng sống mười lăm tuổi của mình vào đêm trước lễ cưới.
Nước mắt cũng trào ra từ hốc mắt của Dorje, ngấn lệ nhòe nhoẹt khắp khuôn mặt lem luốc của nó. “Vì sao… chị ấy có nói, là vì chuyện gì…”
Cô gái dùng tay che gương mặt xinh đẹp giống như Dawa Dolma, nước mắt từ kẽ ngón tay nhỏ xuống. Đến nay chị cũng không nghĩ thông suốt là vì sao, em gái chỉ kể với chị nàng đã yêu một chàng trai, một chàng trai xa lạ tình cờ gặp gỡ trong tà dương của phố Barkhor.
Dorje về đến cung Potala bị Thiết Bổng Lạt Ma trách phạt nghiêm khắc, sau một trận đòn đau nó mới biết Phật sống đã bị đưa đến tu viện Drepung ngoài thành Lhasa. Lời nói dối và vu tội ác ý đã giống như nước triều bao trùm vị Phật sống trẻ tuổi, ở tu viện càng thâm nghiêm đó, chờ đợi Ngài sẽ là giam cầm và khuyên nhủ thuyết phục lâu dài. Nhóc Dorje nén nhịn vết thương đau nhức khắp người đi gấp đến tu viện Drepung, nhưng khi nó đuổi đến, Phật sống đã bị đưa đi Thanh Hải xa xôi.
Dưới sự chiếu cố của Bồ Tát, nhóc Dorje một thân một mình đã đi đến bên hồ Thanh Hải một cách thần kỳ, gặp được Phật sống càng có vẻ xanh gầy tuấn dật. Nghe hết chuyện Dorje kể, vị Lạt Ma trẻ tuổi đứng bên hồ vẫn lặng lẽ nhìn về nơi xa, đôi mắt sâu thẳm khép hờ, môi mím càng chặt. Ở phương hướng đôi mắt Ngài hướng đến, ngoài trăm ngàn dặm sừng sững thành Lhasa uy nghiêm, ở đó từng có một đoạn ánh dương, chiếu rọi hai người cách thế trùng phùng. Ngài gật gật đầu, thấp giọng nói: “Ta biết rồi.”
Dorje quỳ phục dưới đất, trên gương mặt non nớt đầm đìa nước mắt, nó không hiểu vì sao ngay cả mình cũng đang thương khóc, mà Phật sống trước mặt lại không động lòng đau xót, rõ ràng Ngài đã vì người con gái ấy làm nhiều việc như thế, hy sinh nhiều như thế, nhưng sau khi nghe được tin nàng chết, vì sao Ngài đến biểu cảm trên mặt cũng không thoáng thay đổi, càng không rơi một giọt nước mắt! Giữa Phật sống và Dawa Dolma rốt cuộc là nhân quả thế nào?
Hai chân Tsangyang Gyatso đứng nguyên chỗ cũ, Dangsang Wangpo lại từng bước từng bước đi đến bên hồ Thanh Hải thần thánh. Quay đầu, Ngài nhìn nhục thân lặng lẽ bất động dưới ánh nắng ấy, ngồi xổm xuống, dùng tay vốc lên một vốc nước hồ băng lạnh.
Nước hồ êm đềm như gương, trên mặt hồ soi bóng núi tuyết nơi xa và mây trắng trên trời. Giữa mây trắng có hai con chim ưng bay cao lướt qua. Giống như thuở nhỏ ngẩng đầu ngắm nhìn bầu trời, trên mặt Dangsang Wangpo nở nụ cười. Hai con chim ưng ấy là hóa thân của Bồ Tát Không Hành Mẫu, chúng từ cõi trời trên chín tầng mây bay xuống trước mặt Ngài, chúng sẽ cùng Ngài bay về núi Nala xa xôi.
Chính sử “Thánh Tổ Thực Lục” viết bằng tiếng Hán: “Năm Khang Hy thứ 45, Viện xử lý sự vụ ngoại phiên viết, Lạt Ma đóng ở Tây Ninh báo rằng, Đạt Lai Lạt Ma giả do Lhazang Khan giải đến, đi tới ngoài cửa Tây Ninh bị bệnh qua đời.”
HẾT
(Dạ Dao)
17.11.13
Chẳng mong lúc sống có biệt ly (3)
Giơ
tay lên, nhón lấy một sợi dây đỏ cũ đeo ở cổ, trên dây buộc một hạt Phật
châu bằng gỗ sét đánh, từ khi Ngài chào đời hạt Phật châu này đã được
mẹ đeo trên cổ Ngài, xưa nay chưa rời người một khắc nào, hai mươi năm
rồi, đã bị Ngài cọ sát đến sáng bóng trơn mượt. Một giỏ cơm một gáo nước
cũng có nhân quả, nhận ân huệ của nàng nếu không trả vào
đêm nay, Ngài không biết phải chăng cả đời này cũng không tìm được cơ
hội đền đáp nàng. Trên Phật châu tinh xảo tỉ mỉ điêu khắc lời chú bằng
tiếng Phạn của Không Hành Mẫu, mỗi ngày thầm tụng có thể trừ sạch phiền
não, trong lòng sáng suốt. Dangsang Wangpo cười gượng với mình, rốt cuộc
điều gì mới là phiền não? Chẳng lẽ chính là nàng sao? Tụng niệm kinh
văn muốn trừ sạch, chính là con người đạp lửa rực mà đến, toàn thân hào
quang tỏa khắp mười phương ba kiếp này sao?
Gỡ dây đỏ từ trên cổ xuống, Ngài cầm Phật châu, chầm chậm bước đến trước cửa sổ hé mở của quán cơm nhỏ, cách rất gần lại nhìn nàng một lúc, đặt Phật châu trên bệ cửa sổ, sau đó quay người rời đi.
Thuở nhỏ leo núi Nala, đứng giữa những đỉnh núi vui vẻ ca hát, có tiếng vọng vang lại rất lâu. Nhưng thật ra không chỉ tiếng hát, khi một trái tim đang đập, cũng sẽ có tiếng vọng văng vẳng vang vọng trong gió. Thiếu nữ đang cúi đầu bận rộn trong quán cơm nhỏ giống như nghe thấy âm thanh gì, ngẩng đầu nhìn ra bên ngoài cửa sổ trống không chẳng có một ai. Nàng chớp chớp đôi mắt xinh đẹp, từ trong nhà đi ra nhìn hai bên đường phố náo nhiệt, dòng người vẫn qua lại nhộn nhịp, gió đêm và ánh sao cũng giống như ngày thường, nàng nhếch môi cười với mình, không cam tâm quan sát thêm lúc nữa, trên bệ cửa sổ có vật gì lay động thu hút tầm mắt của nàng. Bước tới, nhìn thấy đó là một sợi dây đỏ mềm mại, trên dây buộc một hạt Phật châu tròn mượt đen bóng, trên Phật châu còn đọng lại hơi ấm cơ thể ấm nóng, cứ ấm đến tận đáy lòng.
Nàng dịu dàng ngắm nghía hạt Phật châu này, ngón tay cẩn thận cọ sát kinh chú tiếng Phạn bên trên, từ trên bầu trời nơi xa đột nhiên truyền lại mấy tiếng ưng kêu. Theo tiếng nhìn lên, đó là phương hướng mặt trời lặn xuống, ráng chiều của mặt trời lặn vẫn chưa hoàn toàn biến mất trên đường chân trời, chúng khảm lên cung Potala hùng vĩ một đường viền màu đỏ sẫm, nhờ ánh sáng ráng chiều lờ mờ, nàng có thể nhìn thấy bóng dáng hai con chim ưng giang cánh bay lượn. Chim ưng là hóa thân của Không Hành Mẫu, nói như vậy Bồ Tát lại ban xuống lời dặn thần linh cho nhân gian chăng? Bà đang cúi nhìn ai? Mở lối cho ai? Thưa Phật mẫu từ bi, trong trần thế có một đứa trẻ đang lắng nghe ý chỉ của người, đang chờ đợi chỉ dẫn của người, người có nhìn thấy nàng không? Nàng nắm thật chặt Phật châu trong lòng bàn tay, nhấc tay áp sát ngực. Âm thanh vừa mới nghe thấy, rõ ràng không phải là tiếng tim đập của bản thân nàng, vậy… lại là của ai?
Dòng người hối hả đi qua bên nàng, giống như một dòng sông cuồn cuộn không ngừng. Lại có mấy tiếng ưng kêu vang lên, ở đầu kia của dòng người có một người ngẩng đầu nhìn lên bầu trời như nàng. Bóng lưng Ngài cao dong dỏng, áo bào to rộng hơi cũ không vừa người lắm, nhưng vẫn không giảm khí chất cao quý. Sự dừng chân ngắn ngủi của Ngài, dường như lại rất đỗi lâu dài, dường như Ngài vừa mới trải qua kiếp nạn trở về, đang ngắm bầu trời của kiếp này phải chăng giống như trăm ngàn năm trước, cũng có mặt trời mọc mặt trăng lặn tuần hoàn không ngừng, cũng có những chòm sao trên màn trời đen kịt càng tỏ ra xán lạn. Nàng không nhận ra được cử động của mình, đợi đến khi đã đi đến sau lưng Ngài không xa, mới phát giác gang tấc là một khoảng cách ngắn dường nào. Vượt qua vai Ngài, nàng và Ngài cùng ngắm hai con chim ưng trên bầu trời dần dần bay xa dần dần mất hút. Phải chăng một ngày kia, nàng cũng có thể giống như chúng dạo chơi trong bầu trời của đại tự tại, từ đó không buồn không giận không vương vấn không trở ngại?
Mùi hương quen thuộc lại lan nơi chóp mũi, trái tim Dangsang Wangpo bỗng co thắt, Ngài quay người, bất ngờ lại nhìn thấy gương mặt xinh đẹp của nàng. Trong đáy lòng đang chờ đợi ý chỉ của Bồ Tát, làm sao vừa quay người, đợi được lại là nàng?
Nàng e thẹn mỉm cười với Ngài, giơ cao bàn tay, trong lòng bàn tay trắng ngần là hạt Phật châu bằng gỗ đen nhánh: “Đây là của anh phải không, anh đã để quên trên bệ cửa sổ.”
Ngài cụp mắt, vị Phật sống trên pháp hội long trọng trang nghiêm hơn cũng có thể tự tại uy nghi, trước sóng mắt sáng trong này, lại có một khắc không dám nhìn thẳng: “Không, là tôi để ở đó… đã ăn bánh điểm tâm của em, cái này… tặng cho em…”
Nàng cười lắc đầu: “Không cần, đó là tặng cho anh mà.”
Ngài cũng cười: “Em tặng tôi bánh, tôi tặng em Phật châu, tôi không cự tuyệt em, cũng xin đừng từ chối tôi, được không?” Nụ cười trên mặt nàng biến thành một đóa hoa nở rộ, nàng từ từ thu tay về, lại từ từ gật đầu với Ngài. Ngài vừa muốn nói gì đó, đã thấy sau lưng nàng có mấy gã người Khampa uống rượu say đang vung dao cong chém giết lẫn nhau, đối với những gã trai vạm vỡ dũng mãnh này, đây là chuyện thường ngày như cơm bữa, nhưng lòng Ngài bỗng nhiên lo lắng hoảng sợ, sải một bước về phía nàng, đồng thời hai cánh tay cũng theo phản ứng bản năng ôm lấy bờ vai nàng, nửa dìu nửa ôm nàng né vào dưới hiên nhà bên đường để tránh, thoát khỏi mấy mũi dao sáng loáng kia, mãi đến khi tiếng hò hét chém giết đã xa, mới lòng còn phập phồng thở ra một hơi dài, mới ý thức được cử động của mình có chút đường đột.
Cúi đầu nhìn xuống, nàng đang co ro trong lòng Ngài, ánh trăng ánh sao rơi vào mắt nàng, lại lấp la lấp lánh tỏa ra. Đánh nhau trên phố Barkhor nhìn mãi quen mắt, những người đi đường vẫn qua lại hoặc nhanh hoặc chậm, chẳng ai chú ý đến một đôi trẻ tuổi đang nhẹ ôm nhau dưới hiên nhà bên đường. Ngài ngẩn ngơ nhìn mắt nàng, đột nhiên buông tay ra lùi về sau hai bước dài. Nàng cũng hơi ngại ngùng, dựa lưng vào tường cúi thấp đầu, châu san hô đeo trên tai lúc lắc thành một đóa hoa đỏ. Hô hấp của Ngài có chút dồn dập không dễ bị người bên cạnh phát giác, lòng bàn tay bàn chân toát mồ hôi, Ngài vội vã gật đầu, giống như là đang trốn tránh điều gì quay người, sải bước đi về phương hướng đã rời khỏi.
Nụ cười trên mặt nàng thoắt tan biến, theo Ngài bước lên trước vài bước, bàn tay nắm Phật châu hơi chìa về phía Ngài: “Em tên là Dawa Dolma, anh tên là gì?”
Ngài dừng lại, không quay đầu.
“Anh… Ngày mai còn đến không…”
Ngài cắn chặt răng hít sâu một hơi, không trả lời nàng, đi nhanh mấy bước rồi rẽ vào một con hẻm nhỏ hẹp.
Nàng sững sờ một thoáng, chạy đuổi theo, đứng ở đầu hẻm nhìn vào trong, Ngài sớm đã chẳng thấy hình bóng. Thiếu nữ xinh đẹp đi mấy bước vào trong hẻm, hai tay chắp lại nắm Phật châu trong lòng bàn tay, ngóng về phía trước thật lâu. Không xa sau lưng chính là phố Barkhor ồn áo náo nhiệt, chẳng ai nhìn vào con hẻm hẹp này, nàng cứ đứng như thế, cứ đứng mãi đến khi mặt trăng chênh chếch leo lên bầu trời đêm. Ánh trăng sáng vằng vặc từ giữa mái nhà hai bên hẻm hẹp chiếu xuống, chiếu ngay trên người nàng.
Một giọt nước mắt khởi hành từ thuở xa xưa, quét sạch chông gai rạch toạc thời gian không gian, cuối cùng tìm được đôi mắt thuần khiết nhất. Nước mắt rưng rưng bờ mi nàng, nàng thận trọng thấp giọng lẩm bẩm: “Ngày mai có bánh tsampa và bánh bơ em làm… Anh sẽ đến chứ…”
Gió đêm nghe được tiếng khóc thầm của nàng, bất chợt thổi mạnh hơn, nhưng nàng mải khóc, không nhìn thấy một tà áo hơi phơ phất nơi góc tối đầu hẻm. Trái tim Dangsang Wangpo đang gào thét, Tsangyang Gyatso lại chỉ có thể trầm mặc một cách nhút nhát nấp sâu hơn một chút vào xó góc đã chẳng thể lùi thêm nữa.
Nàng ngóng nhìn bao lâu, Ngài cũng ngóng nhìn nàng bấy lâu, lâu đến thịt nát xương tan.
(Dạ Dao)
Gỡ dây đỏ từ trên cổ xuống, Ngài cầm Phật châu, chầm chậm bước đến trước cửa sổ hé mở của quán cơm nhỏ, cách rất gần lại nhìn nàng một lúc, đặt Phật châu trên bệ cửa sổ, sau đó quay người rời đi.
Thuở nhỏ leo núi Nala, đứng giữa những đỉnh núi vui vẻ ca hát, có tiếng vọng vang lại rất lâu. Nhưng thật ra không chỉ tiếng hát, khi một trái tim đang đập, cũng sẽ có tiếng vọng văng vẳng vang vọng trong gió. Thiếu nữ đang cúi đầu bận rộn trong quán cơm nhỏ giống như nghe thấy âm thanh gì, ngẩng đầu nhìn ra bên ngoài cửa sổ trống không chẳng có một ai. Nàng chớp chớp đôi mắt xinh đẹp, từ trong nhà đi ra nhìn hai bên đường phố náo nhiệt, dòng người vẫn qua lại nhộn nhịp, gió đêm và ánh sao cũng giống như ngày thường, nàng nhếch môi cười với mình, không cam tâm quan sát thêm lúc nữa, trên bệ cửa sổ có vật gì lay động thu hút tầm mắt của nàng. Bước tới, nhìn thấy đó là một sợi dây đỏ mềm mại, trên dây buộc một hạt Phật châu tròn mượt đen bóng, trên Phật châu còn đọng lại hơi ấm cơ thể ấm nóng, cứ ấm đến tận đáy lòng.
Nàng dịu dàng ngắm nghía hạt Phật châu này, ngón tay cẩn thận cọ sát kinh chú tiếng Phạn bên trên, từ trên bầu trời nơi xa đột nhiên truyền lại mấy tiếng ưng kêu. Theo tiếng nhìn lên, đó là phương hướng mặt trời lặn xuống, ráng chiều của mặt trời lặn vẫn chưa hoàn toàn biến mất trên đường chân trời, chúng khảm lên cung Potala hùng vĩ một đường viền màu đỏ sẫm, nhờ ánh sáng ráng chiều lờ mờ, nàng có thể nhìn thấy bóng dáng hai con chim ưng giang cánh bay lượn. Chim ưng là hóa thân của Không Hành Mẫu, nói như vậy Bồ Tát lại ban xuống lời dặn thần linh cho nhân gian chăng? Bà đang cúi nhìn ai? Mở lối cho ai? Thưa Phật mẫu từ bi, trong trần thế có một đứa trẻ đang lắng nghe ý chỉ của người, đang chờ đợi chỉ dẫn của người, người có nhìn thấy nàng không? Nàng nắm thật chặt Phật châu trong lòng bàn tay, nhấc tay áp sát ngực. Âm thanh vừa mới nghe thấy, rõ ràng không phải là tiếng tim đập của bản thân nàng, vậy… lại là của ai?
Dòng người hối hả đi qua bên nàng, giống như một dòng sông cuồn cuộn không ngừng. Lại có mấy tiếng ưng kêu vang lên, ở đầu kia của dòng người có một người ngẩng đầu nhìn lên bầu trời như nàng. Bóng lưng Ngài cao dong dỏng, áo bào to rộng hơi cũ không vừa người lắm, nhưng vẫn không giảm khí chất cao quý. Sự dừng chân ngắn ngủi của Ngài, dường như lại rất đỗi lâu dài, dường như Ngài vừa mới trải qua kiếp nạn trở về, đang ngắm bầu trời của kiếp này phải chăng giống như trăm ngàn năm trước, cũng có mặt trời mọc mặt trăng lặn tuần hoàn không ngừng, cũng có những chòm sao trên màn trời đen kịt càng tỏ ra xán lạn. Nàng không nhận ra được cử động của mình, đợi đến khi đã đi đến sau lưng Ngài không xa, mới phát giác gang tấc là một khoảng cách ngắn dường nào. Vượt qua vai Ngài, nàng và Ngài cùng ngắm hai con chim ưng trên bầu trời dần dần bay xa dần dần mất hút. Phải chăng một ngày kia, nàng cũng có thể giống như chúng dạo chơi trong bầu trời của đại tự tại, từ đó không buồn không giận không vương vấn không trở ngại?
Mùi hương quen thuộc lại lan nơi chóp mũi, trái tim Dangsang Wangpo bỗng co thắt, Ngài quay người, bất ngờ lại nhìn thấy gương mặt xinh đẹp của nàng. Trong đáy lòng đang chờ đợi ý chỉ của Bồ Tát, làm sao vừa quay người, đợi được lại là nàng?
Nàng e thẹn mỉm cười với Ngài, giơ cao bàn tay, trong lòng bàn tay trắng ngần là hạt Phật châu bằng gỗ đen nhánh: “Đây là của anh phải không, anh đã để quên trên bệ cửa sổ.”
Ngài cụp mắt, vị Phật sống trên pháp hội long trọng trang nghiêm hơn cũng có thể tự tại uy nghi, trước sóng mắt sáng trong này, lại có một khắc không dám nhìn thẳng: “Không, là tôi để ở đó… đã ăn bánh điểm tâm của em, cái này… tặng cho em…”
Nàng cười lắc đầu: “Không cần, đó là tặng cho anh mà.”
Ngài cũng cười: “Em tặng tôi bánh, tôi tặng em Phật châu, tôi không cự tuyệt em, cũng xin đừng từ chối tôi, được không?” Nụ cười trên mặt nàng biến thành một đóa hoa nở rộ, nàng từ từ thu tay về, lại từ từ gật đầu với Ngài. Ngài vừa muốn nói gì đó, đã thấy sau lưng nàng có mấy gã người Khampa uống rượu say đang vung dao cong chém giết lẫn nhau, đối với những gã trai vạm vỡ dũng mãnh này, đây là chuyện thường ngày như cơm bữa, nhưng lòng Ngài bỗng nhiên lo lắng hoảng sợ, sải một bước về phía nàng, đồng thời hai cánh tay cũng theo phản ứng bản năng ôm lấy bờ vai nàng, nửa dìu nửa ôm nàng né vào dưới hiên nhà bên đường để tránh, thoát khỏi mấy mũi dao sáng loáng kia, mãi đến khi tiếng hò hét chém giết đã xa, mới lòng còn phập phồng thở ra một hơi dài, mới ý thức được cử động của mình có chút đường đột.
Cúi đầu nhìn xuống, nàng đang co ro trong lòng Ngài, ánh trăng ánh sao rơi vào mắt nàng, lại lấp la lấp lánh tỏa ra. Đánh nhau trên phố Barkhor nhìn mãi quen mắt, những người đi đường vẫn qua lại hoặc nhanh hoặc chậm, chẳng ai chú ý đến một đôi trẻ tuổi đang nhẹ ôm nhau dưới hiên nhà bên đường. Ngài ngẩn ngơ nhìn mắt nàng, đột nhiên buông tay ra lùi về sau hai bước dài. Nàng cũng hơi ngại ngùng, dựa lưng vào tường cúi thấp đầu, châu san hô đeo trên tai lúc lắc thành một đóa hoa đỏ. Hô hấp của Ngài có chút dồn dập không dễ bị người bên cạnh phát giác, lòng bàn tay bàn chân toát mồ hôi, Ngài vội vã gật đầu, giống như là đang trốn tránh điều gì quay người, sải bước đi về phương hướng đã rời khỏi.
Nụ cười trên mặt nàng thoắt tan biến, theo Ngài bước lên trước vài bước, bàn tay nắm Phật châu hơi chìa về phía Ngài: “Em tên là Dawa Dolma, anh tên là gì?”
Ngài dừng lại, không quay đầu.
“Anh… Ngày mai còn đến không…”
Ngài cắn chặt răng hít sâu một hơi, không trả lời nàng, đi nhanh mấy bước rồi rẽ vào một con hẻm nhỏ hẹp.
Nàng sững sờ một thoáng, chạy đuổi theo, đứng ở đầu hẻm nhìn vào trong, Ngài sớm đã chẳng thấy hình bóng. Thiếu nữ xinh đẹp đi mấy bước vào trong hẻm, hai tay chắp lại nắm Phật châu trong lòng bàn tay, ngóng về phía trước thật lâu. Không xa sau lưng chính là phố Barkhor ồn áo náo nhiệt, chẳng ai nhìn vào con hẻm hẹp này, nàng cứ đứng như thế, cứ đứng mãi đến khi mặt trăng chênh chếch leo lên bầu trời đêm. Ánh trăng sáng vằng vặc từ giữa mái nhà hai bên hẻm hẹp chiếu xuống, chiếu ngay trên người nàng.
Một giọt nước mắt khởi hành từ thuở xa xưa, quét sạch chông gai rạch toạc thời gian không gian, cuối cùng tìm được đôi mắt thuần khiết nhất. Nước mắt rưng rưng bờ mi nàng, nàng thận trọng thấp giọng lẩm bẩm: “Ngày mai có bánh tsampa và bánh bơ em làm… Anh sẽ đến chứ…”
Gió đêm nghe được tiếng khóc thầm của nàng, bất chợt thổi mạnh hơn, nhưng nàng mải khóc, không nhìn thấy một tà áo hơi phơ phất nơi góc tối đầu hẻm. Trái tim Dangsang Wangpo đang gào thét, Tsangyang Gyatso lại chỉ có thể trầm mặc một cách nhút nhát nấp sâu hơn một chút vào xó góc đã chẳng thể lùi thêm nữa.
Nàng ngóng nhìn bao lâu, Ngài cũng ngóng nhìn nàng bấy lâu, lâu đến thịt nát xương tan.
(Dạ Dao)
Chẳng mong lúc sống có biệt ly (2)
Từ trong cửa bên không ai chú ý của cung Potala, đi ra hai Lạt Ma mình
mặc áo đỏ, một cao một thấp, một lớn một bé. Ở góc ngoặt kín đáo của con
hẻm, Tiểu Lạt Ma Dorje lấy quần áo thường dân đã giấu sẵn trong người
ra, cùng Phật sống, à không, cùng người anh em Dangsang Wangpo mỗi người
thay một bộ, lại ưỡn thẳng lưng, cười hì hì sánh vai đi về
nơi náo nhiệt nhất của phố Barkhor. Nhóc Dorje không phải lần đầu tiên
đến đây chơi, nó thuộc cửa thuộc nẻo đi xuyên qua con hẻm, nhảy nhảy
nhót nhót, suốt dọc đường đều không ngừng nghỉ. Cái miệng nhỏ của nó
càng lách chách không ngừng, kể ra hết tất cả những chuyện ly kỳ thú vị
như thật như giả, thấy biểu cảm kinh ngạc không ngừng biến ảo trên mặt
Dangsang Wangpo, nhóc Dorje cười đến đau cả bụng.
Đã đến giờ cơm tối, hai người đã dạo chơi suốt cả buổi chiều đến quán cơm mà Dorje nhắc tới. Nhưng họ chỉ có suông một thân vui vẻ, trong tay lại chẳng có nhiều tiền. Dorje địa vị thấp kém, chút tiền mà nó tích góp rất lâu, chỉ chẳng qua đủ cho một mình nó ăn một cây dồi huyết, thêm một miếng bánh tsampa nhỏ. Hiện tại Phật sống ở bên cạnh, nó làm sao có thể lo ăn một mình? Nhưng nhìn thấy thức ăn ngon gần ngay bên miệng lại ăn không được, nước bọt trong miệng tiết ra nhiều đến nỗi không kịp nuốt xuống. Dangsang Wangpo cười lắc lắc đầu: “Ta không ăn, em ăn đi.”
Dorje lắc đầu lia lịa: “Ngài ăn Ngài ăn, em lần sau vẫn có thể đến ăn nữa.”
Trên mặt Ngài có chút u buồn, cuộc sống lâu nay không có tự do, đã khiến Ngài quên mất trên đời còn có một thứ là tiền bạc, đúng ra Ngài có thể khiến đứa bé này có một buổi chiều càng vui vẻ. Nhẹ nhàng thở hắt một hơi, Ngài mỉm cười kiên trì đẩy tay Dorje về: “Ta không đói.”
Một chiếc khay đồng tinh xảo xuất hiện trước mặt hai người, trên khay đặt ngay ngắn từng miếng từng miếng bánh bơ và bánh tsampa, trong mùi thơm nức mũi, một thanh âm êm ái mang mấy phần thẹn thùng, vang lên bên tai hai người: “Cho nè, hai người cùng ăn đi.” Dorje thoạt đầu kinh ngạc, tiếp theo mừng rỡ vượt quá mong đợi dang hai tay, bê lấy khay đồng trút thức ăn ngon ra. Người tặng đồ cho họ là một thiếu nữ mười lăm mười sáu tuổi, nàng thân hình nhỏ nhắn, lại cúi đầu, Dangsang Wangpo cao dong dỏng chỉ có thể nhìn thấy mái tóc đen nhánh và châu cài san hô mật lạp đẹp đẽ trên tóc của nàng.
Trút điểm tâm ra xong, nàng tay bê khay đồng rời khỏi nhanh chân như lúc đến, bím tóc dài dài đung đưa, chiếc eo thon thon lắc lư, nhóc Dorje cười khanh khách gọi với theo: “Cảm ơn chị!”
Nàng dừng bước, quay người lại, hướng về phía họ mỉm cười lắc đầu, chuỗi dây chuyền đeo trên cổ theo động tác quay người bay lên rồi lại rớt xuống trước bầu ngực non nớt của nàng. Mặt trời đang lặn xuống phía tây vừa khéo lặn xuống sau lưng nàng, góc váy của nàng bay bay, ngược sáng, cũng ngược gió, phảng phất đứng giữa một đám lửa cháy rực. Trên khuôn mặt xinh đẹp ấy là nụ cười trầm tĩnh nhất, phù hoa nhốn nháo trước mặt nàng hoàn toàn không tồn tại, chỉ còn lại âm thanh khi nàng chớp mắt, đó là âm thanh vỗ cánh của chim ưng bay cao nhất trên bầu trời, bị gió thổi, xa xa bay vào trong tai Ngài.
Cõi trần mênh mang mười phương vô cực, Ngài chân trần đi một mình chốn vách núi hiểm trở, lại không cẩn thận một bước ngã vào chiến trường lửa đỏ bừng bừng thiêu đốt.
Lưỡi lửa liếm da thịt, trái tim bị nướng cháy xém đập thình thịch, kinh văn nhớ kỹ trong lòng thuở nhỏ biến thành dấu ấn in trên linh hồn, lâu ngày chưa thể lành lặn, vào một khắc này bỗng nhiên đau nhói. Không Hành Mẫu thân như cô gái trẻ mười sáu tuổi, một mặt hai tay, eo nhỏ yểu điệu, cổ đeo dây chuyền xương người, dùng đóa hoa chuông nhỏ làm trang sức, chân phải lơ lửng giữa trời, chân trái đạp lên tòa sen với vầng mặt trời, phía sau có lửa Ban Nhược…
Thì ra đây chính là đáp án sao? Cái nhìn chăm chú trong quãng thời gian dài đằng đẵng ấy, kỳ thực là một sự chỉ dẫn từ bi chăng? Đưa Ngài đi qua ngàn dặm đường, từ dưới núi Nala đi đến thành Lhasa, lại từ cung Potala đi đến phố Barkhor, khi đêm dài dằng dặc đến, trước khi Ngài có thể nhìn thấy con đường duy nhất thoát khỏi sống chết, khi trong lòng Dangsang Wangpo vẫn sót lại một tia ấm áp cuối cùng, rốt cuộc trong đám lửa tà dương có thể thiêu cả thế giới thành tro bụi này, đã nhìn thấy nụ cười vừa lóe đã tắt bên môi nàng?
Vị Phật sống trẻ tuổi lặng lẽ đứng nghiêm, cách một quãng tiếng người xôn xao cùng thiếu nữ nhìn nhau hồi lâu. Trên những tảng băng kiên cố ngỡ rằng mãi mãi sẽ không tan chảy kia trong đáy lòng Ngài, đã nứt ra khe hở sâu hoắm, giống như cả ngọn núi Hymalaya đều đang rung chuyển, tầng băng và đá núi đúc thành một khối tan rã. Chấn động kịch liệt đem đến đau đớn càng kịch liệt, tay Ngài xuôi trong tay áo trong chốc lát nắm chặt, trên khuôn mặt hướng về nàng lại nhẹ nhàng trỗi lên một nụ cười còn dịu dàng hơn đóa hoa bà la vàng Thích Ca Mâu Ni cầm giữa ngón tay. Trong nụ cười, linh hồn của Ngài hướng về nàng cúi lạy thật thấp, toàn bộ thể xác và tinh thần đều rạp mình giữa bụi trần của nhân thế, vui mừng hớn hở vì đáp án đột ngột này.
Từ phố Barkhor nhìn về phía tây, nơi mặt trời chiều chìm xuống, vừa khéo là cung Potala nguy nga nơi xa. Tia sáng trên bầu trời biến thành ảm đạm, từng cánh cửa sổ lần lượt thắp sáng. Dorje dẫn Phật sống đi đường tắt đến ngoài cửa bên mà họ vừa mới bước ra ở mé đông cung Potala, vẫn như cũ tìm một góc vắng vẻ, lấy y phục Lạt Ma ra chuẩn bị thay. Dorje vội vàng mặc xong áo sư, gấp gáp bước tới giúp Phật sống chỉnh lại trang phục, Dangsang Wangpo trong lòng vị Phật sống trẻ tuổi đã chiến thắng Tsangyang Gyatso, Ngài lùi về sau một bước, mỉm cười nói với Dorje: “Em về trước đi, ta còn có chút việc.” Dorje chớp chớp đôi mắt to: “Thưa Phật sống…” Dangsang Wangpo dựng ngón trỏ trên môi, ra dấu im lặng, Ngài cười an ủi chú nhóc đang căng thẳng: “Không sao, ta biết đường, một lát sẽ trở về.” Nói xong, không đợi tiểu Lạt Ma lên tiếng ngăn cản, Ngài liền quay người sải bước chạy vào trong màn đêm.
Phố Barkhor về đêm náo nhiệt hơn ban ngày rất nhiều, đứng trên con đường tăm tối ngoài quán cơm nhỏ, Ngài thở dốc chạy đến đây, vừa nhìn đã thấy nàng đang bận rộn. Bất kể ở trong hoàn cảnh nào, cũng bất kể trên người mặc y phục gì, lúc này đang làm việc gì, trông nàng đều rực rỡ, hào quang tỏa ra từ khắp người nàng còn ngời sáng hơn ngọn lửa ngùn ngụt.
Đột nhiên phát hiện, đứng trên con đường huyên náo này cũng giống như đứng trong Phật đường của cung Potala, thứ thuộc về Ngài mãi mãi đều là những nơi tăm tối nhất, quay lưng lại với sáng sủa quá lâu, tia sáng ấm áp đã biến thành món đồ xa xỉ khó mong đạt được. Ngắm nàng mỹ lệ một cách tự nhiên trong ánh đèn, Ngài nghiến chặt răng lùi về sau một bước, cúi đầu, vặn hỏi bản thân chuyện này là thế nào. Dạo chơi một buổi chiều đã làm trái giới luật từng thề phải tuân thủ, nhưng sao Ngài vẫn lại đứng ở đây? Chỉ là vì lại nhìn nàng một thoáng từ xa xa như thế này ư? Sau khi đã tu tập Phật pháp nhiều năm, Ngài cho rằng bản thân đã có thể đạt đến cảnh giới thản nhiên không ham muốn không trói buộc, nhưng đến hiện tại mới biết mấy chữ này khó ngàn lần vạn lần so với trong tưởng tượng. Lại lùi một bước, quay đầu nhìn về phương hướng của cung Potala. Cứ xem là giấc mộng này vẫn chưa tỉnh thôi, thể xác của Ngài vẫn đang ngủ vùi trong một gian Phật đường nơi ấy, chờ đợi linh hồn rong chơi quay về.
(Dạ Dao)
Đã đến giờ cơm tối, hai người đã dạo chơi suốt cả buổi chiều đến quán cơm mà Dorje nhắc tới. Nhưng họ chỉ có suông một thân vui vẻ, trong tay lại chẳng có nhiều tiền. Dorje địa vị thấp kém, chút tiền mà nó tích góp rất lâu, chỉ chẳng qua đủ cho một mình nó ăn một cây dồi huyết, thêm một miếng bánh tsampa nhỏ. Hiện tại Phật sống ở bên cạnh, nó làm sao có thể lo ăn một mình? Nhưng nhìn thấy thức ăn ngon gần ngay bên miệng lại ăn không được, nước bọt trong miệng tiết ra nhiều đến nỗi không kịp nuốt xuống. Dangsang Wangpo cười lắc lắc đầu: “Ta không ăn, em ăn đi.”
Dorje lắc đầu lia lịa: “Ngài ăn Ngài ăn, em lần sau vẫn có thể đến ăn nữa.”
Trên mặt Ngài có chút u buồn, cuộc sống lâu nay không có tự do, đã khiến Ngài quên mất trên đời còn có một thứ là tiền bạc, đúng ra Ngài có thể khiến đứa bé này có một buổi chiều càng vui vẻ. Nhẹ nhàng thở hắt một hơi, Ngài mỉm cười kiên trì đẩy tay Dorje về: “Ta không đói.”
Một chiếc khay đồng tinh xảo xuất hiện trước mặt hai người, trên khay đặt ngay ngắn từng miếng từng miếng bánh bơ và bánh tsampa, trong mùi thơm nức mũi, một thanh âm êm ái mang mấy phần thẹn thùng, vang lên bên tai hai người: “Cho nè, hai người cùng ăn đi.” Dorje thoạt đầu kinh ngạc, tiếp theo mừng rỡ vượt quá mong đợi dang hai tay, bê lấy khay đồng trút thức ăn ngon ra. Người tặng đồ cho họ là một thiếu nữ mười lăm mười sáu tuổi, nàng thân hình nhỏ nhắn, lại cúi đầu, Dangsang Wangpo cao dong dỏng chỉ có thể nhìn thấy mái tóc đen nhánh và châu cài san hô mật lạp đẹp đẽ trên tóc của nàng.
Trút điểm tâm ra xong, nàng tay bê khay đồng rời khỏi nhanh chân như lúc đến, bím tóc dài dài đung đưa, chiếc eo thon thon lắc lư, nhóc Dorje cười khanh khách gọi với theo: “Cảm ơn chị!”
Nàng dừng bước, quay người lại, hướng về phía họ mỉm cười lắc đầu, chuỗi dây chuyền đeo trên cổ theo động tác quay người bay lên rồi lại rớt xuống trước bầu ngực non nớt của nàng. Mặt trời đang lặn xuống phía tây vừa khéo lặn xuống sau lưng nàng, góc váy của nàng bay bay, ngược sáng, cũng ngược gió, phảng phất đứng giữa một đám lửa cháy rực. Trên khuôn mặt xinh đẹp ấy là nụ cười trầm tĩnh nhất, phù hoa nhốn nháo trước mặt nàng hoàn toàn không tồn tại, chỉ còn lại âm thanh khi nàng chớp mắt, đó là âm thanh vỗ cánh của chim ưng bay cao nhất trên bầu trời, bị gió thổi, xa xa bay vào trong tai Ngài.
Cõi trần mênh mang mười phương vô cực, Ngài chân trần đi một mình chốn vách núi hiểm trở, lại không cẩn thận một bước ngã vào chiến trường lửa đỏ bừng bừng thiêu đốt.
Lưỡi lửa liếm da thịt, trái tim bị nướng cháy xém đập thình thịch, kinh văn nhớ kỹ trong lòng thuở nhỏ biến thành dấu ấn in trên linh hồn, lâu ngày chưa thể lành lặn, vào một khắc này bỗng nhiên đau nhói. Không Hành Mẫu thân như cô gái trẻ mười sáu tuổi, một mặt hai tay, eo nhỏ yểu điệu, cổ đeo dây chuyền xương người, dùng đóa hoa chuông nhỏ làm trang sức, chân phải lơ lửng giữa trời, chân trái đạp lên tòa sen với vầng mặt trời, phía sau có lửa Ban Nhược…
Thì ra đây chính là đáp án sao? Cái nhìn chăm chú trong quãng thời gian dài đằng đẵng ấy, kỳ thực là một sự chỉ dẫn từ bi chăng? Đưa Ngài đi qua ngàn dặm đường, từ dưới núi Nala đi đến thành Lhasa, lại từ cung Potala đi đến phố Barkhor, khi đêm dài dằng dặc đến, trước khi Ngài có thể nhìn thấy con đường duy nhất thoát khỏi sống chết, khi trong lòng Dangsang Wangpo vẫn sót lại một tia ấm áp cuối cùng, rốt cuộc trong đám lửa tà dương có thể thiêu cả thế giới thành tro bụi này, đã nhìn thấy nụ cười vừa lóe đã tắt bên môi nàng?
Vị Phật sống trẻ tuổi lặng lẽ đứng nghiêm, cách một quãng tiếng người xôn xao cùng thiếu nữ nhìn nhau hồi lâu. Trên những tảng băng kiên cố ngỡ rằng mãi mãi sẽ không tan chảy kia trong đáy lòng Ngài, đã nứt ra khe hở sâu hoắm, giống như cả ngọn núi Hymalaya đều đang rung chuyển, tầng băng và đá núi đúc thành một khối tan rã. Chấn động kịch liệt đem đến đau đớn càng kịch liệt, tay Ngài xuôi trong tay áo trong chốc lát nắm chặt, trên khuôn mặt hướng về nàng lại nhẹ nhàng trỗi lên một nụ cười còn dịu dàng hơn đóa hoa bà la vàng Thích Ca Mâu Ni cầm giữa ngón tay. Trong nụ cười, linh hồn của Ngài hướng về nàng cúi lạy thật thấp, toàn bộ thể xác và tinh thần đều rạp mình giữa bụi trần của nhân thế, vui mừng hớn hở vì đáp án đột ngột này.
Từ phố Barkhor nhìn về phía tây, nơi mặt trời chiều chìm xuống, vừa khéo là cung Potala nguy nga nơi xa. Tia sáng trên bầu trời biến thành ảm đạm, từng cánh cửa sổ lần lượt thắp sáng. Dorje dẫn Phật sống đi đường tắt đến ngoài cửa bên mà họ vừa mới bước ra ở mé đông cung Potala, vẫn như cũ tìm một góc vắng vẻ, lấy y phục Lạt Ma ra chuẩn bị thay. Dorje vội vàng mặc xong áo sư, gấp gáp bước tới giúp Phật sống chỉnh lại trang phục, Dangsang Wangpo trong lòng vị Phật sống trẻ tuổi đã chiến thắng Tsangyang Gyatso, Ngài lùi về sau một bước, mỉm cười nói với Dorje: “Em về trước đi, ta còn có chút việc.” Dorje chớp chớp đôi mắt to: “Thưa Phật sống…” Dangsang Wangpo dựng ngón trỏ trên môi, ra dấu im lặng, Ngài cười an ủi chú nhóc đang căng thẳng: “Không sao, ta biết đường, một lát sẽ trở về.” Nói xong, không đợi tiểu Lạt Ma lên tiếng ngăn cản, Ngài liền quay người sải bước chạy vào trong màn đêm.
Phố Barkhor về đêm náo nhiệt hơn ban ngày rất nhiều, đứng trên con đường tăm tối ngoài quán cơm nhỏ, Ngài thở dốc chạy đến đây, vừa nhìn đã thấy nàng đang bận rộn. Bất kể ở trong hoàn cảnh nào, cũng bất kể trên người mặc y phục gì, lúc này đang làm việc gì, trông nàng đều rực rỡ, hào quang tỏa ra từ khắp người nàng còn ngời sáng hơn ngọn lửa ngùn ngụt.
Đột nhiên phát hiện, đứng trên con đường huyên náo này cũng giống như đứng trong Phật đường của cung Potala, thứ thuộc về Ngài mãi mãi đều là những nơi tăm tối nhất, quay lưng lại với sáng sủa quá lâu, tia sáng ấm áp đã biến thành món đồ xa xỉ khó mong đạt được. Ngắm nàng mỹ lệ một cách tự nhiên trong ánh đèn, Ngài nghiến chặt răng lùi về sau một bước, cúi đầu, vặn hỏi bản thân chuyện này là thế nào. Dạo chơi một buổi chiều đã làm trái giới luật từng thề phải tuân thủ, nhưng sao Ngài vẫn lại đứng ở đây? Chỉ là vì lại nhìn nàng một thoáng từ xa xa như thế này ư? Sau khi đã tu tập Phật pháp nhiều năm, Ngài cho rằng bản thân đã có thể đạt đến cảnh giới thản nhiên không ham muốn không trói buộc, nhưng đến hiện tại mới biết mấy chữ này khó ngàn lần vạn lần so với trong tưởng tượng. Lại lùi một bước, quay đầu nhìn về phương hướng của cung Potala. Cứ xem là giấc mộng này vẫn chưa tỉnh thôi, thể xác của Ngài vẫn đang ngủ vùi trong một gian Phật đường nơi ấy, chờ đợi linh hồn rong chơi quay về.
(Dạ Dao)
13.11.13
Chẳng mong lúc sống có biệt ly (1)
Ánh dương lúc giữa trưa nóng hừng hực, nó không bờ không bến từ trên
trời chảy xuống, mang một đoạn cảnh mộng hư ảo sáng ngời cho tất cả
những người ngưỡng vọng nó.
Trong một gian Phật đường u ám của tu viện Drepung lại chẳng nhìn thấy một tia nắng, ở đây chỉ có đèn bơ lặng lẽ cháy. Trong lư hương khói nhẹ vấn vít, dưới lớp lớp kinh phướn, một vị Lạt Ma trẻ tuổi gầy gò quỳ trước Phật. Ngài nhắm hai mắt, tay lần tràng hạt, thầm tụng niệm kinh văn. Đã tụng niệm rất nhiều lần, nóng nảy trong lòng vẫn khó lắng dịu, dù Ngài khắc chế kìm nén thế nào, trước mắt luôn có một đôi mắt hư ảo như khói nổi. Đôi mắt này chẳng biết bắt đầu từ lúc nào đã cứ chăm chú nhìn Ngài, nhìn Ngài lưu lạc cùng khốn trong một cảnh mộng mê loạn, không thể tự thoát ra. Ngài hết lần này đến lần khác đối diện với đôi mắt này, nhưng ngoài tròng đen sâu thẳm của nó, chẳng nhìn thấy gì khác. Ngài không nhìn thấy nó mọc trên một khuôn mặt ra sao, càng không đoán ra nó náu thân giữa đám mây nhởn nhơ nào, Ngài chỉ có thể nghe thấy âm thanh khi nó chớp mắt, đó là âm thanh vỗ cánh của chim ưng bay cao nhất trên bầu trời, bị gió thổi, xa xa bay vào trong tai Ngài.
Khi Ngài còn là Dangsang Wangpo trong thôn Urgelling dưới núi Nala, Monyu, Nam Tạng, Ngài thích nhất là ngẩng đầu ngắm chim ưng chao liệng trên bầu trời. Con chim mạnh mẽ như vậy không thẹn là hóa thân của Không Hành Mẫu (Dakini), chúng qua lại giữa thần linh trên cõi trời và người phàm như sâu kiến trên mặt đất, truyền đạt ý chỉ của Phật Bồ Tát đến bốn phương tám hướng. Nhóc Dangsang Wangpo là một đứa bé thông minh, nhóc đọc thuộc lòng kinh Phật luôn nhanh hơn người khác, khi sư phụ kiểm tra nhóc gần như là buột miệng đọc ra: Không Hành Mẫu thân như cô gái trẻ mười sáu tuổi, một mặt hai tay, eo nhỏ yểu điệu, cổ đeo dây chuyền xương người, dùng đóa hoa chuông nhỏ làm trang sức, chân phải lơ lửng giữa trời, chân trái đạp lên tòa sen với vầng mặt trời, phía sau có lửa Ban Nhược… Nếu thật sự như kinh Phật kể, Không Hành Mẫu chắc là một cô gái trẻ tuổi xinh đẹp, thế thì vì sao cô không chọn hoa sen tuyết thánh khiết tươi đẹp hay động vật đẹp đẽ thuần tính làm hóa thân của mình, mà phải chọn chim ưng hung mãnh cô ngạo?
Nhóc Dangsang Wangpo còn chưa kịp nghĩ thấu vấn đề này, đã rời khỏi thôn Urgelling, rong ruổi ngàn dặm đến cung Potala của Lhasa, được chọn làm linh đồng chuyển thế của Phật sống Đạt Lai. Có lẽ chính từ lúc nhóc quay đầu cũng không nhìn thấy núi Nala nữa, đôi mắt trong cảnh mộng ấy liền bắt đầu chăm chú nhìn nhóc. Lại có lẽ đôi mắt ấy là đang chờ đợi nhóc, chờ cuối cùng có một ngày, nhóc Dangsang Wangpo lạc đường có thể tìm được phương hướng trở về quê hương.
Đôi mắt ấy… là Bồ Tát Không Hành Mẫu đang nhìn Ngài sao? Nếu thật sự là Bồ Tát, vì sao không thể cho Ngài nhiều gợi ý và ý chỉ hơn? Vì sao phải dùng một cái nhìn chăm chú đằng đẵng để khảo nghiệm kẻ tôi tớ trung thành nhất của bà? Trong lời khấn thầm trước Phật, Ngài từng vô số lần hướng về Phật Bồ Tát hỏi vấn đề này, nhưng Thích Ca Mâu Ni, Quan Thế Âm Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi, Cát Tường Thiên Nữ và các Pháp Vương, Kim Cang đều không trả lời, họ ngồi ngay ngắn trên từng tòa từng tòa sen, nhìn Ngài với đôi mắt thương trời xót người, đợi Ngài tự mình tìm được đáp án của câu hỏi.
Sau khi trải qua học tập cần mẫn và bế quan gian khổ, Ngài thọ giới sa di từ Ban Thiền Ngạch Nhĩ Đức Ni, phụng sắc chỉ tọa sàng, từ đó đã trở thành Phật sống Đạt Lai thứ 6 được muôn dân lễ bái kính yêu trong cung Potala, trở thành Tsangyang Gyatso uy nghi rạng rỡ, sắc tướng trang nghiêm. Mấy năm qua đi, nghi vấn này đã biến thành tuyết đọng ngàn xưa không tan trên núi Hymalaya, chúng nén chặt thành băng, từ từ trở nên kiên cố không thể phá vỡ, đông thành một khối với đá núi cứng rắn tương tự, có lẽ mãi mãi cũng sẽ không tách rời nữa.
Chú nhóc Dangsang Wangpo ngẩng đầu nhìn trời ấy dần dần bị băng tuyết hoàn toàn phủ lấp, trầm mặc ngủ yên trong chốn sâu nội tâm của Ngài, càng ngày càng lạnh lẽo, càng ngày càng hư vô, thậm chí có lúc ngay cả bản thân Ngài cũng đã có chút không nhớ nổi bộ dạng ngày trước của mình, gió núi đượm hương hoa dại dưới núi Nala, bánh tsampa mẹ tự tay làm trong thôn Urgelling, chim ưng bay lượn trên trời cao xa không với tới… Tất cả của tất cả đều đã đi xa, thứ lưu lại bên người Ngài chỉ có tiếng tụng kinh mãi không ngừng nghỉ và từng đôi từng đôi mắt thành kính chứa đầy kỳ vọng trong cung Potala. Ngài nghĩ, trọn đời này của Ngài đều phải trải qua như vậy thôi, bị mùi đàn hương và ánh lửa của đèn bơ vây quanh, ngồi cao cao trên giường mây, dùng ánh mắt thương xót khi Phật Bồ Tát nhìn Ngài, cũng thương xót nhìn xuống chúng sinh như thế.
Nhưng đột nhiên, Ngài cảm thấy đôi chân ngồi gập đã lâu quá đau nhức, đôi tay lần tràng hạt quá mệt mỏi, đôi môi không ngừng tụng niệm kinh văn quá khô khát. Ngài, ở trong Phật đường tối tăm tu hành quá lâu sắc mặt có chút trắng bệch, từ từ đứng dậy, đi ra khỏi Phật đường, lại bị ánh nắng gay gắt đột ngột làm chói mắt đến nỗi mở không ra. Ngài dùng tay che mắt, đứng rất lâu, mới lại nhìn mảng trời xanh biếc trước mắt, và mấy áng mây trắng lười nhác trên bầu trời. Bên Phật đường yên tĩnh có một tràng tiếng cười trong trẻo sảng khoái, Ngài không nén nổi tình cảm thôi thúc, đi về nơi phát ra tiếng cười, nhìn thấy một tiểu Lạt Ma đang quét nhà ở sau Phật đường. Tiểu Lạt Ma dáng vóc không cao, trong tay cầm chổi lớn quét đông một chút tây một chút, chẳng có người khác nói chuyện với chú, cũng không biết chú nghĩ đến điều gì, tự một mình cười đến nghiêng ngả.
Nhất thời, có một số ký ức quá khứ hiện lên trong đầu, trên khuôn mặt nhợt nhạt của Ngài cũng nở nụ cười mờ nhạt. Đi đến sau lưng tiểu Lạt Ma, Ngài hỏi với thanh âm hơi khàn: “Ngươi đang cười gì đó?” Tiểu Lạt Ma bỗng quay đầu nhìn thấy Phật sống, sợ đến mức phịch một tiếng quỳ thụp xuống đất, co rúm lại nói không ra lời. Lúc Ngài ở độ tuổi của tiểu Lạt Ma, vừa mới rời khỏi quê nhà Urgelling, Ngài khi đó chắc cũng là gầy nhỏ nhát gan như vậy, giờ đây mới phát hiện, chẳng qua là thời gian vài năm, Ngài đã trưởng thành cao lớn thế này. Ngài mỉm cười ngồi xổm người xuống, nhẹ nhàng vuốt đầu tiểu Lạt Ma: “Đừng sợ nhé, ta chỉ là muốn biết ngươi đang cười gì, nói cho ta biết được không?”
Tiểu Lạt Ma ngẩng khuôn mặt đen nhẻm lên, hai con mắt to tỏ ra đen trắng rõ ràng rất mực, chú nhóc dần dần khôi phục bình tĩnh trong nụ cười của Phật sống, nhỏ tiếng nói với Phật sống, chỉ cần quét xong mảnh đất này là có thể nghỉ nửa ngày, nhất định phải nhân cơ hội hiếm có này len lén chuồn ra khỏi cung Potala, chơi thỏa thích một chuyến, lại đến phố Barkhor ăn dồi huyết thơm nhất và bánh tsampa ngọt nhất.
Ngài nhướng mày, ý cười càng sâu: “Cũng dắt ta đi, có được không?”
Tiểu Lạt Ma mở to mắt, không dám tin lời trong tai nghe được. Kỳ thực sau khi nói ra câu này bản thân Ngài cũng có chút bất ngờ, đến Lhasa mấy năm nay, Ngài xưa nay vẫn chưa từng nảy sinh hiếu kỳ đối với thế giới bên ngoài cung Potala kia, nhưng một câu nói và thần sắc vui vẻ trên gương mặt nhỏ nhem nhuốc của tiểu Lạt Ma này, lại khiến Ngài không nhịn nổi muốn thò đầu ra khỏi bức tường cung điện cao ngất, nhìn ra bên ngoài một thoáng, xem thử những thứ có thể khiến chú nhóc này vui sướng như vậy, phải chăng cũng có thể đem lại cho Ngài vui sướng đồng dạng. Cũng chỉ xem một lần này, sau khi trở về, Ngài vẫn làm Phật sống Đạt Lai của Ngài, chẳng bao lâu Ngài sẽ thọ giới cụ túc, đã thọ giới này, thì xem như đã chặt đứt một chút dính dáng cuối cùng với trần thế, trước lúc đó, hãy để Ngài cuối cùng làm lại một lần Dangsang Wangpo.
(Dạ Dao)
Trong một gian Phật đường u ám của tu viện Drepung lại chẳng nhìn thấy một tia nắng, ở đây chỉ có đèn bơ lặng lẽ cháy. Trong lư hương khói nhẹ vấn vít, dưới lớp lớp kinh phướn, một vị Lạt Ma trẻ tuổi gầy gò quỳ trước Phật. Ngài nhắm hai mắt, tay lần tràng hạt, thầm tụng niệm kinh văn. Đã tụng niệm rất nhiều lần, nóng nảy trong lòng vẫn khó lắng dịu, dù Ngài khắc chế kìm nén thế nào, trước mắt luôn có một đôi mắt hư ảo như khói nổi. Đôi mắt này chẳng biết bắt đầu từ lúc nào đã cứ chăm chú nhìn Ngài, nhìn Ngài lưu lạc cùng khốn trong một cảnh mộng mê loạn, không thể tự thoát ra. Ngài hết lần này đến lần khác đối diện với đôi mắt này, nhưng ngoài tròng đen sâu thẳm của nó, chẳng nhìn thấy gì khác. Ngài không nhìn thấy nó mọc trên một khuôn mặt ra sao, càng không đoán ra nó náu thân giữa đám mây nhởn nhơ nào, Ngài chỉ có thể nghe thấy âm thanh khi nó chớp mắt, đó là âm thanh vỗ cánh của chim ưng bay cao nhất trên bầu trời, bị gió thổi, xa xa bay vào trong tai Ngài.
Khi Ngài còn là Dangsang Wangpo trong thôn Urgelling dưới núi Nala, Monyu, Nam Tạng, Ngài thích nhất là ngẩng đầu ngắm chim ưng chao liệng trên bầu trời. Con chim mạnh mẽ như vậy không thẹn là hóa thân của Không Hành Mẫu (Dakini), chúng qua lại giữa thần linh trên cõi trời và người phàm như sâu kiến trên mặt đất, truyền đạt ý chỉ của Phật Bồ Tát đến bốn phương tám hướng. Nhóc Dangsang Wangpo là một đứa bé thông minh, nhóc đọc thuộc lòng kinh Phật luôn nhanh hơn người khác, khi sư phụ kiểm tra nhóc gần như là buột miệng đọc ra: Không Hành Mẫu thân như cô gái trẻ mười sáu tuổi, một mặt hai tay, eo nhỏ yểu điệu, cổ đeo dây chuyền xương người, dùng đóa hoa chuông nhỏ làm trang sức, chân phải lơ lửng giữa trời, chân trái đạp lên tòa sen với vầng mặt trời, phía sau có lửa Ban Nhược… Nếu thật sự như kinh Phật kể, Không Hành Mẫu chắc là một cô gái trẻ tuổi xinh đẹp, thế thì vì sao cô không chọn hoa sen tuyết thánh khiết tươi đẹp hay động vật đẹp đẽ thuần tính làm hóa thân của mình, mà phải chọn chim ưng hung mãnh cô ngạo?
Nhóc Dangsang Wangpo còn chưa kịp nghĩ thấu vấn đề này, đã rời khỏi thôn Urgelling, rong ruổi ngàn dặm đến cung Potala của Lhasa, được chọn làm linh đồng chuyển thế của Phật sống Đạt Lai. Có lẽ chính từ lúc nhóc quay đầu cũng không nhìn thấy núi Nala nữa, đôi mắt trong cảnh mộng ấy liền bắt đầu chăm chú nhìn nhóc. Lại có lẽ đôi mắt ấy là đang chờ đợi nhóc, chờ cuối cùng có một ngày, nhóc Dangsang Wangpo lạc đường có thể tìm được phương hướng trở về quê hương.
Đôi mắt ấy… là Bồ Tát Không Hành Mẫu đang nhìn Ngài sao? Nếu thật sự là Bồ Tát, vì sao không thể cho Ngài nhiều gợi ý và ý chỉ hơn? Vì sao phải dùng một cái nhìn chăm chú đằng đẵng để khảo nghiệm kẻ tôi tớ trung thành nhất của bà? Trong lời khấn thầm trước Phật, Ngài từng vô số lần hướng về Phật Bồ Tát hỏi vấn đề này, nhưng Thích Ca Mâu Ni, Quan Thế Âm Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi, Cát Tường Thiên Nữ và các Pháp Vương, Kim Cang đều không trả lời, họ ngồi ngay ngắn trên từng tòa từng tòa sen, nhìn Ngài với đôi mắt thương trời xót người, đợi Ngài tự mình tìm được đáp án của câu hỏi.
Sau khi trải qua học tập cần mẫn và bế quan gian khổ, Ngài thọ giới sa di từ Ban Thiền Ngạch Nhĩ Đức Ni, phụng sắc chỉ tọa sàng, từ đó đã trở thành Phật sống Đạt Lai thứ 6 được muôn dân lễ bái kính yêu trong cung Potala, trở thành Tsangyang Gyatso uy nghi rạng rỡ, sắc tướng trang nghiêm. Mấy năm qua đi, nghi vấn này đã biến thành tuyết đọng ngàn xưa không tan trên núi Hymalaya, chúng nén chặt thành băng, từ từ trở nên kiên cố không thể phá vỡ, đông thành một khối với đá núi cứng rắn tương tự, có lẽ mãi mãi cũng sẽ không tách rời nữa.
Chú nhóc Dangsang Wangpo ngẩng đầu nhìn trời ấy dần dần bị băng tuyết hoàn toàn phủ lấp, trầm mặc ngủ yên trong chốn sâu nội tâm của Ngài, càng ngày càng lạnh lẽo, càng ngày càng hư vô, thậm chí có lúc ngay cả bản thân Ngài cũng đã có chút không nhớ nổi bộ dạng ngày trước của mình, gió núi đượm hương hoa dại dưới núi Nala, bánh tsampa mẹ tự tay làm trong thôn Urgelling, chim ưng bay lượn trên trời cao xa không với tới… Tất cả của tất cả đều đã đi xa, thứ lưu lại bên người Ngài chỉ có tiếng tụng kinh mãi không ngừng nghỉ và từng đôi từng đôi mắt thành kính chứa đầy kỳ vọng trong cung Potala. Ngài nghĩ, trọn đời này của Ngài đều phải trải qua như vậy thôi, bị mùi đàn hương và ánh lửa của đèn bơ vây quanh, ngồi cao cao trên giường mây, dùng ánh mắt thương xót khi Phật Bồ Tát nhìn Ngài, cũng thương xót nhìn xuống chúng sinh như thế.
Nhưng đột nhiên, Ngài cảm thấy đôi chân ngồi gập đã lâu quá đau nhức, đôi tay lần tràng hạt quá mệt mỏi, đôi môi không ngừng tụng niệm kinh văn quá khô khát. Ngài, ở trong Phật đường tối tăm tu hành quá lâu sắc mặt có chút trắng bệch, từ từ đứng dậy, đi ra khỏi Phật đường, lại bị ánh nắng gay gắt đột ngột làm chói mắt đến nỗi mở không ra. Ngài dùng tay che mắt, đứng rất lâu, mới lại nhìn mảng trời xanh biếc trước mắt, và mấy áng mây trắng lười nhác trên bầu trời. Bên Phật đường yên tĩnh có một tràng tiếng cười trong trẻo sảng khoái, Ngài không nén nổi tình cảm thôi thúc, đi về nơi phát ra tiếng cười, nhìn thấy một tiểu Lạt Ma đang quét nhà ở sau Phật đường. Tiểu Lạt Ma dáng vóc không cao, trong tay cầm chổi lớn quét đông một chút tây một chút, chẳng có người khác nói chuyện với chú, cũng không biết chú nghĩ đến điều gì, tự một mình cười đến nghiêng ngả.
Nhất thời, có một số ký ức quá khứ hiện lên trong đầu, trên khuôn mặt nhợt nhạt của Ngài cũng nở nụ cười mờ nhạt. Đi đến sau lưng tiểu Lạt Ma, Ngài hỏi với thanh âm hơi khàn: “Ngươi đang cười gì đó?” Tiểu Lạt Ma bỗng quay đầu nhìn thấy Phật sống, sợ đến mức phịch một tiếng quỳ thụp xuống đất, co rúm lại nói không ra lời. Lúc Ngài ở độ tuổi của tiểu Lạt Ma, vừa mới rời khỏi quê nhà Urgelling, Ngài khi đó chắc cũng là gầy nhỏ nhát gan như vậy, giờ đây mới phát hiện, chẳng qua là thời gian vài năm, Ngài đã trưởng thành cao lớn thế này. Ngài mỉm cười ngồi xổm người xuống, nhẹ nhàng vuốt đầu tiểu Lạt Ma: “Đừng sợ nhé, ta chỉ là muốn biết ngươi đang cười gì, nói cho ta biết được không?”
Tiểu Lạt Ma ngẩng khuôn mặt đen nhẻm lên, hai con mắt to tỏ ra đen trắng rõ ràng rất mực, chú nhóc dần dần khôi phục bình tĩnh trong nụ cười của Phật sống, nhỏ tiếng nói với Phật sống, chỉ cần quét xong mảnh đất này là có thể nghỉ nửa ngày, nhất định phải nhân cơ hội hiếm có này len lén chuồn ra khỏi cung Potala, chơi thỏa thích một chuyến, lại đến phố Barkhor ăn dồi huyết thơm nhất và bánh tsampa ngọt nhất.
Ngài nhướng mày, ý cười càng sâu: “Cũng dắt ta đi, có được không?”
Tiểu Lạt Ma mở to mắt, không dám tin lời trong tai nghe được. Kỳ thực sau khi nói ra câu này bản thân Ngài cũng có chút bất ngờ, đến Lhasa mấy năm nay, Ngài xưa nay vẫn chưa từng nảy sinh hiếu kỳ đối với thế giới bên ngoài cung Potala kia, nhưng một câu nói và thần sắc vui vẻ trên gương mặt nhỏ nhem nhuốc của tiểu Lạt Ma này, lại khiến Ngài không nhịn nổi muốn thò đầu ra khỏi bức tường cung điện cao ngất, nhìn ra bên ngoài một thoáng, xem thử những thứ có thể khiến chú nhóc này vui sướng như vậy, phải chăng cũng có thể đem lại cho Ngài vui sướng đồng dạng. Cũng chỉ xem một lần này, sau khi trở về, Ngài vẫn làm Phật sống Đạt Lai của Ngài, chẳng bao lâu Ngài sẽ thọ giới cụ túc, đã thọ giới này, thì xem như đã chặt đứt một chút dính dáng cuối cùng với trần thế, trước lúc đó, hãy để Ngài cuối cùng làm lại một lần Dangsang Wangpo.
(Dạ Dao)
12.11.13
Nguyệt Đường Ký (13)
Thấm thoắt xuân đến, sau ba tháng đầu mang thai, thân thể và tình cảm
Trùng Quang dần dần ổn định. Cô về nông trường ở, sớm đã cai thuốc lá,
không còn đụng đến rượu mạnh, phiền muộn lắng xuống, đồng thời cũng
triệt để lánh mặt, không gặp người ngoài, không làm việc nữa. Cô và
Thanh Hựu cùng trồng chuối, tú cầu châu Âu, thục quỳ, dành dành, thanh
trúc. Cùng anh quây hàng rào, dựng giàn dây leo. Thanh Hựu dạy cô cách
dựng giàn nho, bứng trồng cây con và cắt cành tưới nước cho cây. Cô
trồng các cây thuốc như hoắc hương, bạc hà, tam thất, ở bờ tường trồng
hoa khiên ngưu, phụng tiên, hoa hướng dương, là những hoa cỏ gia đình mà
thuở nhỏ cô có ấn tượng sâu sắc. Sáng sớm, hái nụ hoa màu lục chớm nở
trên cành hoa kim ngân, gom lại, để Thanh Hựu ngâm nước uống, hái rau
tươi trong vườn rau, chuẩn bị cơm nước. Buổi tối anh xong việc trở về,
cùng anh tản bộ, ngắm ráng chiều nơi chân trời, xoa bóp vai lưng cho
anh, chăm sóc anh từng ly từng tý.
Cô vẫn giống như lúc mới quen anh, đôi mắt luôn lặng lẽ chăm chú dõi theo dáng hình của anh. Người đàn ông cao lớn rắn rỏi này, dáng anh đi đường, dáng anh nói chuyện, dáng anh làm việc. Tất cả trong mắt cô đều thật thỏa đáng. Dường như con người này đến với thế gian này, thân thể của anh, nội tâm của anh, là vì cô mà sinh ra.
Tìm được một người đàn ông ôn hậu thuần lương, cùng anh chung giường chung gối, đồng cam cộng khổ, sinh con đẻ cái, bách niên giai lão. Người phụ nữ dù có thể gắng sức đạt đến ngôi cao lạnh lẽo hoa lệ, nhưng đem lại cho cô bình yên, rốt cuộc vẫn là sinh một đứa con cho người đàn ông mình yêu. Chính là bản tính tự nhiên giản dị như thế. Hợp lý phải đạo. Trùng Quang cảm thấy có thể nhìn rõ bản thân, hạ thấp bản thân như vậy, đối với người vẫn quen tự ý thức cực kỳ cao đạo như cô, ngược lại là một thu hoạch. Người đàn ông này xứng đáng để gửi gắm. Anh có thể chăm sóc cô và con của họ, anh có khả năng cho họ nương tựa. Có một sinh mệnh mới thuần khiết tươi sáng, bầu bạn cuộc sống dần dần già đi của anh, tăng thêm thú vui và trách nhiệm đối với trần thế, thì có gì không tốt. Cô mang thai đứa con này, vô cùng an tâm.
Cô nói với anh, cô sẽ dành một khoảng thời gian cho con và gia đình. Đương nhiên, sau đó vẫn phải làm việc. Cô cảm thấy mình trước giờ chẳng phải là người nội trợ điển hình. Sau này cũng không phải. Cô được ban ơn, trong lòng có nguyện vọng, thực hiện những nguyện vọng ấy. Muốn gì, có nấy. Đó là vì cô luôn tuân thủ và kiên trì chỉ dẫn của đạo, nội tâm phục tùng cung kính. Cô nên vì người khác cống hiến nhiều hơn.
Mùa xuân này, cô nhìn thấy những bông hoa nhấp nhô như sóng nước cuộn đến. Tường vi đầu tường, cành lá sum suê, nụ hoa chi chít. Màu sắc có ba loại: hồng phấn, trắng, hồng đậm. Khi cô dậy sớm, mở cửa sổ nhà vệ sinh, chuẩn bị rửa mặt chải đầu, nhìn thấy chúng trong một đêm lác đác hé nở, như một lời hẹn ước. Với tay ra, ngắt một đóa, nhụy hoa màu vàng thẳng đứng, cánh hoa nho nhỏ trùng điệp. Chải đầu xong, dùng kẹp tóc gắn hoa lên một bên búi tóc. Mùa xuân này, tóc của Trùng Quang do mang thai đặc biệt đen mượt óng ả. Những sợi tóc trong lúc cô ngủ ban đêm cũng vẫn sinh trưởng. Giống như thai nhi yên tĩnh trong bụng cô. Cô ngắm tường vi, cảm thấy đứa con có lẽ là một bé gái. Thanh Hựu nói sau khi mang thai cô đẹp hơn trước.
Cây ăn quả trồng trong vườn hoa như anh đào, hạnh, lê, đào… đều đã kết thành những trái nhỏ xanh non, ẩn nấp giữa cành cây. Rau non sinh trưởng trong vườn rau. Đinh hương màu trắng từng khóm từng khóm nở rộ, có hương thơm cay nồng. Cúc dại màu vàng nhiều nhất, một vạt lớn miên man trên bãi cỏ, còn có tử vân anh màu tím, bồ công anh bạt ngàn. Chó lông vàng thích hoa, đạp trên bãi cỏ hít ngửi bốn phía. Tử đằng đầy giàn nở tưng bừng, từng chuỗi từng chuỗi hoa tím mặc ý leo cao, sau khi khô héo, tro tàn màu trắng rắc đầy mặt đất. Bên đường chỗ nào cũng thấy diên vĩ màu tím nở dày đặc chi chít. Sau khi diên vĩ nở tàn, thược dược bắt đầu nở, hoa đỏ đóa lớn thập phần kiều diễm.
Đầu xuân, có ngọc lan. Sau đó là anh đào, hoa đào, rồi hải đường. Đến mùa hè, sẽ có hoa nhài và ngọc trâm màu trắng, tử vi, dâm bụt, dâu, đầy ao hoa sen. Một năm nay, Trùng Quang nhìn thấy rất nhiều cây cối, hoa trái cô thấy không thể đếm xuể. Cô mang đứa con trong mình, ngắm măng non nhú ra chóp nhọn từ đất bùn, trái non ẩn nấp dưới phiến lá hình bàn tay của cây vả, chồi non phớt hồng thơm dịu của cây hương thung, cá con hoạt bát bơi lượn và chép gấm to béo sặc sỡ trong ao. Tất cả sự vật đang sinh trưởng, non nớt, phồn thịnh. Thân thể cô cũng đang cảm nhận sức sống bồng bột như thế. Thân thể ngày càng nặng nề, do đó có vẻ đặc biệt trầm tĩnh và thản nhiên. Nó và đất đai sinh sôi thai nghén, thuộc cùng một tính chất. Nó vốn dĩ phải như thế.
Cô nghĩ một ngày nào đó cô sẽ kể cho con nghe những câu chuyện đầy màu sắc thần thánh và khiến người ta kinh ngạc trong cuốn sách cô đã đọc về địa lý và tự nhiên. Chẳng hạn một trong những quần đảo mà Sinbad từng đến, ông nhìn thấy vô số hoa hồng, có đủ các màu đỏ, vàng, lam, trắng, ông bỏ một ít hoa hồng màu lam vào trong áo khoác, áo bắt lửa, thiêu cháy tất cả hoa hồng, nhưng chiếc áo lại bình yên vô sự. Công dụng của những hoa hồng này rất lớn, không ai có thể đem chúng từ trong vườn hoa này ra ngoài… Còn có thể cùng con đọc ngạn ngữ nghề nông: “Tam nguyệt hôn. Tham tinh tịch. Hạnh hoa thịnh. Tang diệp bạch. Hà xạ giác. Kham dạ tác. Lê tinh một. Thủy sinh cốt”. Hoặc: “Cao sơn hữu nhai. Lâm mộc hữu chi. Ưu lai vô phương. Nhân mạc chi tri. Nhân sinh như ký. Đa ưu hà vi. Kim ngã bất lạc. Túy nguyệt như trì…” Đọc thơ cổ là việc vui thú. Có lẽ lúc con còn nhỏ, cô đã có thể cõng con cùng đi du lịch. Cô sẽ tự tay thêu chim non và bông hoa lên váy của bé gái, giống như mẹ cô đã từng thêu cho cô.
Thanh Hựu hỏi Trùng Quang: Em có đặt tên cho con chưa? Trùng Quang nói: Gọi là Nguyệt Đường. Trong vườn hoa có hai cây tây phủ hải đường, Thanh Hựu trồng năm ngoái, năm nay nở đầy những đóa hoa phấn trắng trùng trùng điệp điệp, miên man như ráng mây, hương thơm ngào ngạt. “Nguyệt thượng hải đường” là tên một làn điệu của từ, nhưng vì nó đẹp, Trùng Quang vừa đọc đã nhớ. Cô ngồi nhàn nhã trong sân vườn buổi tối mát rượi, ngắm vầng trăng tròn vành vạnh treo cao, cây hoa óng ánh, ánh trăng chiếu rọi lên những bông hoa và lá cây khuất tối, nhấp nháy tỏa ra ánh sáng li ti như vẩy cá. Con mèo trắng lưu lạc nhẹ nhàng chạy ra từ rừng trúc, như con thoi xuyên qua sân nhà. Ếch trong ao sen kêu ộp oạp, trên lá sen màu lục lăn tăn giọt nước long lanh. Trùng Quang nhẹ nhàng đặt tay trên bụng, đứa con đang sôi nổi chơi đùa cựa quậy trong cơ thể cô. Giờ phút đó cô và con là một.
Đúng vậy. Mọi sự tốt đẹp bình thường trên đời, cũng chính là như thế.
HẾT
(An Ni Bảo Bối)
Cô vẫn giống như lúc mới quen anh, đôi mắt luôn lặng lẽ chăm chú dõi theo dáng hình của anh. Người đàn ông cao lớn rắn rỏi này, dáng anh đi đường, dáng anh nói chuyện, dáng anh làm việc. Tất cả trong mắt cô đều thật thỏa đáng. Dường như con người này đến với thế gian này, thân thể của anh, nội tâm của anh, là vì cô mà sinh ra.
Tìm được một người đàn ông ôn hậu thuần lương, cùng anh chung giường chung gối, đồng cam cộng khổ, sinh con đẻ cái, bách niên giai lão. Người phụ nữ dù có thể gắng sức đạt đến ngôi cao lạnh lẽo hoa lệ, nhưng đem lại cho cô bình yên, rốt cuộc vẫn là sinh một đứa con cho người đàn ông mình yêu. Chính là bản tính tự nhiên giản dị như thế. Hợp lý phải đạo. Trùng Quang cảm thấy có thể nhìn rõ bản thân, hạ thấp bản thân như vậy, đối với người vẫn quen tự ý thức cực kỳ cao đạo như cô, ngược lại là một thu hoạch. Người đàn ông này xứng đáng để gửi gắm. Anh có thể chăm sóc cô và con của họ, anh có khả năng cho họ nương tựa. Có một sinh mệnh mới thuần khiết tươi sáng, bầu bạn cuộc sống dần dần già đi của anh, tăng thêm thú vui và trách nhiệm đối với trần thế, thì có gì không tốt. Cô mang thai đứa con này, vô cùng an tâm.
Cô nói với anh, cô sẽ dành một khoảng thời gian cho con và gia đình. Đương nhiên, sau đó vẫn phải làm việc. Cô cảm thấy mình trước giờ chẳng phải là người nội trợ điển hình. Sau này cũng không phải. Cô được ban ơn, trong lòng có nguyện vọng, thực hiện những nguyện vọng ấy. Muốn gì, có nấy. Đó là vì cô luôn tuân thủ và kiên trì chỉ dẫn của đạo, nội tâm phục tùng cung kính. Cô nên vì người khác cống hiến nhiều hơn.
Mùa xuân này, cô nhìn thấy những bông hoa nhấp nhô như sóng nước cuộn đến. Tường vi đầu tường, cành lá sum suê, nụ hoa chi chít. Màu sắc có ba loại: hồng phấn, trắng, hồng đậm. Khi cô dậy sớm, mở cửa sổ nhà vệ sinh, chuẩn bị rửa mặt chải đầu, nhìn thấy chúng trong một đêm lác đác hé nở, như một lời hẹn ước. Với tay ra, ngắt một đóa, nhụy hoa màu vàng thẳng đứng, cánh hoa nho nhỏ trùng điệp. Chải đầu xong, dùng kẹp tóc gắn hoa lên một bên búi tóc. Mùa xuân này, tóc của Trùng Quang do mang thai đặc biệt đen mượt óng ả. Những sợi tóc trong lúc cô ngủ ban đêm cũng vẫn sinh trưởng. Giống như thai nhi yên tĩnh trong bụng cô. Cô ngắm tường vi, cảm thấy đứa con có lẽ là một bé gái. Thanh Hựu nói sau khi mang thai cô đẹp hơn trước.
Cây ăn quả trồng trong vườn hoa như anh đào, hạnh, lê, đào… đều đã kết thành những trái nhỏ xanh non, ẩn nấp giữa cành cây. Rau non sinh trưởng trong vườn rau. Đinh hương màu trắng từng khóm từng khóm nở rộ, có hương thơm cay nồng. Cúc dại màu vàng nhiều nhất, một vạt lớn miên man trên bãi cỏ, còn có tử vân anh màu tím, bồ công anh bạt ngàn. Chó lông vàng thích hoa, đạp trên bãi cỏ hít ngửi bốn phía. Tử đằng đầy giàn nở tưng bừng, từng chuỗi từng chuỗi hoa tím mặc ý leo cao, sau khi khô héo, tro tàn màu trắng rắc đầy mặt đất. Bên đường chỗ nào cũng thấy diên vĩ màu tím nở dày đặc chi chít. Sau khi diên vĩ nở tàn, thược dược bắt đầu nở, hoa đỏ đóa lớn thập phần kiều diễm.
Đầu xuân, có ngọc lan. Sau đó là anh đào, hoa đào, rồi hải đường. Đến mùa hè, sẽ có hoa nhài và ngọc trâm màu trắng, tử vi, dâm bụt, dâu, đầy ao hoa sen. Một năm nay, Trùng Quang nhìn thấy rất nhiều cây cối, hoa trái cô thấy không thể đếm xuể. Cô mang đứa con trong mình, ngắm măng non nhú ra chóp nhọn từ đất bùn, trái non ẩn nấp dưới phiến lá hình bàn tay của cây vả, chồi non phớt hồng thơm dịu của cây hương thung, cá con hoạt bát bơi lượn và chép gấm to béo sặc sỡ trong ao. Tất cả sự vật đang sinh trưởng, non nớt, phồn thịnh. Thân thể cô cũng đang cảm nhận sức sống bồng bột như thế. Thân thể ngày càng nặng nề, do đó có vẻ đặc biệt trầm tĩnh và thản nhiên. Nó và đất đai sinh sôi thai nghén, thuộc cùng một tính chất. Nó vốn dĩ phải như thế.
Cô nghĩ một ngày nào đó cô sẽ kể cho con nghe những câu chuyện đầy màu sắc thần thánh và khiến người ta kinh ngạc trong cuốn sách cô đã đọc về địa lý và tự nhiên. Chẳng hạn một trong những quần đảo mà Sinbad từng đến, ông nhìn thấy vô số hoa hồng, có đủ các màu đỏ, vàng, lam, trắng, ông bỏ một ít hoa hồng màu lam vào trong áo khoác, áo bắt lửa, thiêu cháy tất cả hoa hồng, nhưng chiếc áo lại bình yên vô sự. Công dụng của những hoa hồng này rất lớn, không ai có thể đem chúng từ trong vườn hoa này ra ngoài… Còn có thể cùng con đọc ngạn ngữ nghề nông: “Tam nguyệt hôn. Tham tinh tịch. Hạnh hoa thịnh. Tang diệp bạch. Hà xạ giác. Kham dạ tác. Lê tinh một. Thủy sinh cốt”. Hoặc: “Cao sơn hữu nhai. Lâm mộc hữu chi. Ưu lai vô phương. Nhân mạc chi tri. Nhân sinh như ký. Đa ưu hà vi. Kim ngã bất lạc. Túy nguyệt như trì…” Đọc thơ cổ là việc vui thú. Có lẽ lúc con còn nhỏ, cô đã có thể cõng con cùng đi du lịch. Cô sẽ tự tay thêu chim non và bông hoa lên váy của bé gái, giống như mẹ cô đã từng thêu cho cô.
Thanh Hựu hỏi Trùng Quang: Em có đặt tên cho con chưa? Trùng Quang nói: Gọi là Nguyệt Đường. Trong vườn hoa có hai cây tây phủ hải đường, Thanh Hựu trồng năm ngoái, năm nay nở đầy những đóa hoa phấn trắng trùng trùng điệp điệp, miên man như ráng mây, hương thơm ngào ngạt. “Nguyệt thượng hải đường” là tên một làn điệu của từ, nhưng vì nó đẹp, Trùng Quang vừa đọc đã nhớ. Cô ngồi nhàn nhã trong sân vườn buổi tối mát rượi, ngắm vầng trăng tròn vành vạnh treo cao, cây hoa óng ánh, ánh trăng chiếu rọi lên những bông hoa và lá cây khuất tối, nhấp nháy tỏa ra ánh sáng li ti như vẩy cá. Con mèo trắng lưu lạc nhẹ nhàng chạy ra từ rừng trúc, như con thoi xuyên qua sân nhà. Ếch trong ao sen kêu ộp oạp, trên lá sen màu lục lăn tăn giọt nước long lanh. Trùng Quang nhẹ nhàng đặt tay trên bụng, đứa con đang sôi nổi chơi đùa cựa quậy trong cơ thể cô. Giờ phút đó cô và con là một.
Đúng vậy. Mọi sự tốt đẹp bình thường trên đời, cũng chính là như thế.
HẾT
(An Ni Bảo Bối)
Subscribe to:
Posts (Atom)